Nhân cách văn hoá Đào Duy Anh

Mở đầu

Chúng ta thấy rằng, nhân cách văn hóa là sản phẩm lịch sử của một nền văn hóa, mà văn hóa thì bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với một cộng đồng, trước hết là cộng đồng dân tộc – quốc gia. Từ cách tiếp cận văn hóa học, nhân cách văn hóa được miêu tả như một “diện mạo người sáng tạo, người đại biểu mang vác giá trị và chuẩn mực của một cộng đồng xã hội nhất định”[1]. Những đặc điểm trội nhất của nhân cách văn hóa biểu hiện ở năng lực sáng tạo, trong đó, sáng tạo văn hóa là một hành động cao cả, bao giờ cũng hướng về giá trị nhân bản. Đồng thời, nhân cách văn hóa cũng bao hàm những thuộc tính đạo đức. Bên cạnh đó, sáng tạo và tự do có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, người sáng tạo thường chọn lối sống tự do. Do vậy, có thể nói sáng tạo, nhân bản, tự do là ba thuộc tính cơ bản nằm trong cấu trúc của nhân cách văn hóa. Tìm hiểu về nhân cách văn hóa Đào Duy Anh có thể thấy rõ điều đó. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Ông, xin được chia sẻ những nhận thức của cá nhân về một học giả đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp văn hóa dân tộc từ góc nhìn văn hóa học với những phẩm chất của một nhân cách văn hóa: đạo đức, tinh thần sáng tạo và khát vọng tự do.

1. Phẩm chất đạo đức

Yêu nước là một giá trị hàng đầu trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước dường như thấm đẫm trong mạch máu của mỗi con dân đất Việt và là giá trị chủ đạo, tiêu chí để đánh giá phẩm chất của các cá nhân cũng như vai trò của các triều đại trong lịch sử. Biểu hiện của lòng yêu nước là đa dạng và phong phú, ở mỗi con người cụ thể, trong những thời điểm cụ thể, do những điều kiện cụ thể lại có những sắc thái riêng. Đối với học giả Đào Duy Anh, lòng yêu nước thể hiện một con người thiết tha với vận mệnh của đất nước, với văn hóa dân tộc. Điều đặc biệt quan trọng là, nó là sự nhất quán sâu sắc trong suốt cuộc đời của một trí thức chân chính luôn đặt mình trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc với những biến cố, thử thách của chính bản thân mình.

Con đường diễn biến tư tưởng của Đào Duy Anh khởi nguồn từ hoài bão của một thanh niên yêu nước, hăng hái tìm con đường cách mạng đúng đắn cho mình và cho dân tộc. Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, chàng thanh niên trẻ đó đã “rất hâm mộ cách mạng Pháp với lời Tuyên ngôn nhân quyền”[2] và lòng khát khao tự do, bình đẳng. Trong nhận thức của Đào Duy Anh lúc đó: muốn có tự do, bình đẳng thực sự thì phải có độc lập dân tộc chứ không phải chờ người Pháp ban ơn cho, muốn có độc lập dân tộc thì phải theo con đường mà các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã vạch ra. Con đường đó còn dài, có thể sử dụng nhiều phương tiện nhưng phải nhằm đến mục đích là “mở mang dân trí và bồi đắp nhân quyền”. Cách nhìn đó thể hiện một nhãn quan sắc sảo, thông minh của một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi. Năm 1925, nhân sự kiện cụ Phan Bội Châu trên đường từ Hà Nội về Huế, thầy giáo trẻ Đào Duy Anh đã cùng với một số bạn bè trong hội Quảng Tri Đồng Hới tổ chức đón tiếp cụ Phan tại hội quán. Sự kiện này khời đầu cho cuộc dấn thân vào những hoạt động cách mạng trong giai đoạn tiếp theo. Đào Duy Anh trở thành một trong những sáng lập viên và thành viên chủ chốt của tờ báo Tiếng Dân, tờ báo do cụ Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo. Tờ báo sau này đã trở thành cơ quan bênh vực quyền lợi của nhân dân, đáp ứng được nguyện vọng không những của nhân dân Trung Kỳ mà lan rộng ra phạm vi cả nước. Ông gia nhập Tân Việt cách mạng đảng, một tổ chức cách mạng của những trí thức yêu nước Việt Nam và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của tổ chức này. Hoạt động của Đào Duy Anh và những đồng chí của ông trong Tân Việt cách mạng đảng đã để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Tân Việt cách mạng đảng là tổ chức tiền thân của Đông Dương cộng sản liên đoàn, một trong ba tổ chức cộng sản hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Nhiều thành viên của Tân Việt cách mạng đảng sau này trở thành những người cộng sản nổi tiếng như Võ Nguyên Giáp, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Đặng Thai Mai…

z5391463467817-b265a6b9e464cfe238da626e63fa3156-1714298409-1714301887-2-1714698923.jpg
Quang cảnh Hội thảo Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Giáo sư Đào Duy Anh (1904 - 2024)

Trong thời kỳ khủng bố cách mạng của thực dân Pháp, Đào Duy Anh cùng với người vợ chưa cưới phải ngồi tù một năm trong nhà tù thực dân. Sau khi được phóng thích, ông phải thêm án treo 3 năm và chịu sự quản thúc chặt chẽ của thực dân Pháp. Nhắc lại sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người bạn, người cộng sự của Đào Duy Anh ở Huế nhớ lại “Tôi bị bắt, anh Đào Duy Anh, chị Như Mân và nhiều đồng chí bị bắt giam. Chúng nó tra tấn, mua chuộc, dụ dỗ vẫn không có đủ chứng cớ để làm án…”[3]. Có thể nói, Đào Duy Anh là người đã sớm đến với chủ nghĩa Mác, cũng sớm nhận thức được con đường cách mạng mà dân tộc mình chắc chắn sẽ phải thực hiện. Tuy nhiên, khác với một số người, sau khi bị thực dân Pháp bắt và bỏ tù, ông không tiếp tục dấn thân và công cuộc giải phóng dân tộc theo con đường làm cách mạng mà lại rẽ sang một hướng khác, nhưng cũng hướng tới phục vụ cho mục tiêu ấy. Con đường hoạt động chính trị dừng lai, Đào Duy Anh đã lựa chọn “con đường hoạt động văn hóa mà góp phần phục hồi cái sinh khí của dân tộc đang bị lu mờ dưới chế độ thực dân” và tự xác định “phải cố gắng đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác để khai thác vốn văn hóa của dân tộc và chọn lấy những cái tốt mà góp phần vào công cuộc cải tạo văn hóa nước nhà”[4]. Xuất phát từ động cơ đó, Đào Duy Anh có một niềm tin mãnh liệt vào sức sống của dân tộc cũng như con đường mình đã lựa chọn, với một tấm lòng yêu nước văn hóa dân tộc tha thiết, bất chấp những sóng gió trong cuộc đời mà không dễ gì có thể vượt qua. Trọn cuộc đời, ông đã cống hiến cho sự nghiệp văn hóa nước nhà để hướng tới một mục tiêu, lý tưởng duy nhất: giải phóng dân tộc, tiến tới một xã hội tự do, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh đã tổng kết đầy đủ và sâu sắc toàn bộ cuộc đời ông: Cái khía cạnh chủ đạo là sự diễn biến tư tưởng của tôi từng bước đi vào chủ nghĩa Mác để lấy nó làm kim chỉ nam hướng dẫn mọi hoạt động của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu và tư tưởng, vì đời tôi thực ra không phải là một cuộc đời hoạt động chính trị, mà là cuộc đời tìm tòi và phục vụ về văn hóa của một người trí thức mà thôi[5]. Đó là lời bộc bạch của một con người hết sức khiêm tốn và giản dị, nhưng thực sự, tấm lòng của ông đối với đất nước, đối với văn hóa dân tộc không thể đong đếm được. Cũng phải nói rằng, trong thực tế, hiếm có con người nào chuyển hẳn từ hoạt động chính trị sang lĩnh vực văn hóa lại có những đóng góp to lớn như ông cả về mặt tài năng và nhân cách. Và không có gì khác, nó bắt nguồn chính từ khát vọng cháy bỏng của một người trí thức chân chính, muốn phục hồi và phát triển văn hóa dân tộc, góp phần cho công cuộc giải phóng dân tộc, đưa dân tộc vào một kỷ nguyên phát triển mới.

Cuộc đời Đào Duy Anh còn là một tấm gương sáng về đạo làm người, làm một nhà khoa học chân chính. Ở nhiều môi trường hoạt động khác nhau, trong những thời điểm, không gian khác nhau, cái dấu ấn đọng lại sâu sắc nhất của những người đã từng tiếp xúc, làm việc, sống cùng với ông là hình ảnh một con người đáng kính nhưng lại hết sức gần gũi với tấm lòng yêu thương con người… Ông đã tạo thành một trường văn hóa có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, rộng, không chỉ đương thời mà còn ở các thế hệ tiếp theo. Nói như nhà văn hóa học A. Carơmin: một nhân cách sáng tạo không chỉ làm phong phú cho nhân cách bản thân người sáng tạo bằng sự tìm tòi phương thức mới trong hoạt động mà còn là kết quả của sự sáng tạo trong sư phạm và giao tiếp sáng tạo thể hiện ở sự phát triển về các mặt văn hóa, tinh thần, đạo đức của nhân cách người khác (tất nhiên cũng biểu hiện trong lối sống và trong hành động của họ)[6]. Nhân cách văn hóa Đào Duy Anh, giống như một vật thể tự phát xạ, có một “hấp lực mạnh mẽ”, thu hút mọi người bằng “vầng sáng văn hóa” của mình. Từ Đào Duy Anh tỏa ra một trường văn hóa rất đặc biệt, nó làm cho con người ta gần nhau hơn. Những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, học trò, những độc giả của ông từ mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài, nhiều người trong suốt cuộc đời chưa gặp mặt ông nhưng được biết ông qua những trang sách khi nhắc tới Đào Duy Anh đều gặp nhau ở sự kính trọng, yêu mến bậc học giả mà tài năng và nhân cách như hòa quyện lại.

Trước hết, đó là lòng yêu thương con người của Đào Duy Anh. Chính lòng thương yêu đó đã gây được thiện cảm ban đầu và sau đó là tình yêu của cô tiểu thư lá ngọc cành vàng như Trần Thị Như Mân. Trong Hồi ký Sống mãi với tình thương, bà có kể lại ấn tượng ban đầu đối với Đào Duy Anh là một con người “hễ có tiền là mua sách và thấy ai thiếu cũng cho” và “cảm thương cái tình của anh ấy” mà nhận lời lấy Đào Duy Anh, vượt qua rào cản môn đăng hộ đối vốn còn nặng nề trong thời điểm đó, đặc biệt là với một gia đình danh giá như gia đình cụ Trần Tiễn Thành. Sự đồng điệu của hai con người, hai tâm hồn đã đưa họ trở thành một “một đôi vợ chồng lý tưởng của nhân loại” như lời nhà biên kịch Bửu Tiến.

Trong đại gia đình họ Đào, Đào Duy Anh được con cháu suy tôn là người quyền huynh thế phụ. Sau khi bố mất, Đào Duy Anh là người đã nuôi nấng, giáo dục để đưa các em mình vào đời với đầy đủ nhân cách sống. Điều đặc biệt là, theo gương người anh cả, tất cả họ đều là những người yêu nước nhiệt thành, hy sinh cuộc đời mình cho cách mạng và có đóng góp to lớn cho đất nước. Có thời điểm, tất cả người em Đào Duy Anh đều ngồi trong nhà tù đế quốc từ Lao Bảo, Hỏa Lò, Sơn La đến Côn Đảo. Có người từng giữ nhiều vị trí quan trọng của Đảng như Đào Duy Kỳ, có người tham gia tích cực trên lĩnh vực văn hóa như Đào Phan… nhưng giống như anh mình, cho dù trải qua bao thăng trầm vẫn giữ được cốt cách, niềm tin và lý tưởng của mình. Đào Duy Kỳ nguyên là xứ ủy Bắc Kỳ, sau này về công tác tại Vụ Văn hóa quần chúng (Bộ Văn hóa). Đào Phan từng làm Tổng Biên tập báo Quân du kích nhưng trong thời gian kháng chiến chống Pháp, do bị hiểu lầm từng bị xử án và giam giữ một năm. Tuy nhiên, họ vẫn giữ cốt cách của những người cách mạng, nhiệt huyết với các hoạt động xã hội. Rõ ràng, dấu ấn của Đào Duy Anh ở đây rất quan trọng. Khi ông không còn trực tiếp hoạt động cách mạng nữa, ông là người động viên cho các em mình tiếp tục con đường đó và trở thành hậu phương vững chắc của họ. Tất cả con cái của các em ông đều được vợ chồng Đào Duy Anh đem về nuôi nấng, dạy dỗ khi các em của ông ngồi tù hay tham gia hoạt động cách mạng, đến nỗi bà Đào Duy Anh đã miêu tả ngôi nhà mình như một nhà trẻ. Bà Phan Thị Bội Hoàn, vợ của nhà nghiên cứu Đào Phan đã có những nhận xét rất xúc động về gia đình Đào Duy Anh “Thật vinh dự cho tôi được sống trong gia đình anh chị em họ Đào, một gia đình trí thức đầy tình thương yêu con người mà Đào Duy Anh làm anh cả!”[7]. Với bè bạn, Đào Duy Anh là người ân tình. Ngôi nhà ở Huế của vợ chồng ông được ví như nhà trọ, các bạn bè ở xa mỗi khi đến Huế, nếu không có chỗ ở, Đào Duy Anh thường mời về nhà mình. Con cái của bạn bè đến Huế học cũng thường được gửi đến ở. Đào Duy Anh còn cho những học sinh nghèo có chí của trường Thuận Hóa, nơi ông dạy đến nhà mình ở. Tiền nhuận bút mà Đào Duy Anh nhận được từ những cuốn từ điển được in ở miền Nam trước giải phóng, ông chuyển đến UBND Thành phố Hồ Chí Minh để xây một nhà nuôi trẻ mồ côi. Trong cuộc sống đời thường, ông rất giản dị, như lời bà Trần Thị Như Mân, ông thường “ngồi say sưa, nhiều khi quên cả ăn uống. Muốn anh uống nước cũng phải nhắc, đến bữa cơm dọn xong mời anh ăn là ăn ngay, mà ăn thì rất nhanh, không cần biết ngon dở như thế nào. Anh sống thanh đạm, không hút thuốc, không nghiện trà tàu, không uống rượu”[8]. Dường như tất cả nhà khoa học chân chính chỉ say mê đối tượng nghiên cứu của mình. Đào Duy Anh là một tấm gương của nhà khoa học lớn như vậy: say mê nghiên cứu, sống rất giản dị, toàn tâm, toàn trí đặt vào việc nghiên cứu. Sau này, khi đã chuyển sang hoạt động văn hóa, có nhiều cơ hội để ông quay trở lại hoạt động chính trị: có thể tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, sau đó là chính phủ Hồ Chí Minh nhưng ông vẫn nhất quán với sự lựa chọn của mình, kiên trì hoạt động nghiên cứu để đóng góp cho đất nước. Sự lựa chọn đó thể hiện sự nhạy cảm của một trí tuệ lớn, một nhân cách đáng kính luôn biết mình, sở trường của mình.

Đào Duy Anh là con người của trách nhiệm, không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình mà mở rộng ra là trách nhiệm đối với cộng đồng, đối với xã hội. Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Tân Việt, sau khi bị thực dân Pháp bắt, Đào Duy Anh đã nhận hết trách nhiệm hoạt động ở Huế về phía mình. Chính vì có Đào Duy Anh mà các tổ chức cơ sở của Tân Việt: Tổng bộ, Kỳ bộ, Tỉnh bộ và Thành bộ ở Huế cùng với các tổ chức quần chúng phụ nữ, công nhân, học sinh với khoảng hơn sáu mươi người không bị Pháp hỏi đến. Trong đó, có nhiều người trở thành những người cách mạng nổi tiếng sau này như Nguyễn Chí Diểu, Trần Hữu Duẩn, Nguyễn Khoa Văn, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai… Khi chuyển sang công việc nghiên cứu, Đào Duy Anh rất coi trọng tư liệu, ông đã dày công xây dựng bộ tư liệu đồ sộ trên cơ sở sưu tầm ở nhiều nơi nhưng rất tiếc, chiến tranh đã làm mất đi khối tài sản quý giá đó. Lúc nào, Đào Duy Anh cũng trăn trở băn khoăn về sự mất mát này. Mặc dù, nguyên nhân là do yếu tố khách quan nhưng Đào Duy Anh lại coi đó là trách nhiệm của mình, là một “món nợ” của ông đối với dân tộc, với các bậc tiền nhân. Nỗi niềm đó được thể hiện rõ qua bài viết của ông Tôi đã mang tội để mất những tư liệu quý về Nguyễn Trường Tộ như thế nào đăng trên Tuần báo Công giáo ngày 12 tháng 07 năm 1981.

Đào Duy Anh tổng kết những chặng đường trong cuộc đời hoạt động của mình trong cuốn hồi ký “Nhớ nghĩ chiều hôm”. Cuốn sách được tái bản nhiều lần với số lượng phát hành lớn. Mở đầu cho hơn 500 trang sách đó, ông nói rằng muốn “ghi lại những đắc thất của mình, mong các bạn lớp sau lấy đây làm điều răn mà khỏi những bước đường vấp váp”[9]. Trải qua nhiều thăng trầm, có lúc phải mang tiếng oan nhưng trong cả cuốn hồi ký không có chỗ nào là thanh minh, chỉ trích cá nhân ai cũng như tô vẽ bản thân mình. Ngoài mấy trang đầu nói về giai đoạn bước vào đời, cả cuốn sách là quãng đường hoạt động của Đào Duy Anh gắn với đất nước, với khát vọng đóng góp công sức của mình cho văn hóa dân tộc. Đó là hình ảnh của một trí thức chân chính với tấm gương đạo đức trong sáng, cao cả. Có thể trong cuộc đời mình, Đào Duy Anh cũng có những uẩn ức, nhưng cách thể hiện của ông là của bậc chính nhân quân tử. Qua việc Đào Duy Anh rất quan tâm đến việc nghiên cứu những danh nhân văn hóa của dân tộc, đặc biệt là với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, những nhà văn hóa lớn của dân tộc nhưng mỗi người lại có những nỗi niềm, những éo le trong cuộc đời, chúng ta có thể hiểu được phần nào. Những câu thơ Đào Duy Anh viết sau khi nghiên cứu về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du cho thấy điều đó, chẳng hạn với Nguyễn Trãi:

Sự nghiệp văn chương thảy sáng ngời

Thế mà oan lạ đến như chơi,

Ngậm ngùi nhớ lại lời ông dạy

Tâm địa chi hơn bàn để đời.

hay với Nguyễn Du:

Ông hỏi đời sau ai khóc mình?

Mà nay bốn biển lại lừng danh,

Cho hay hết thảy đều mây nổi

Còn với non song một chút tình.

Sự đồng cảm của ông với cái bất hạnh của một đời tài hoa cũng như nỗi oan khuất của kẻ sĩ như là một sự thôi thúc nội tâm để Đào Duy Anh dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu về chủ đề này. Qua đó thấy được sự trân trọng của ông với vốn quí di sản văn hóa dân tộc, đó là các danh nhân, nhân vật văn hóa.

Đào Duy Anh là một người có ý chí tự học đặc biệt. Với một nhà khoa học thì việc tự học như một lẽ đương nhiên nhưng để trở thành “nhà bách khoa toàn thư” trong điều kiện như Đào Duy Anh không phải ai cũng làm được. Những thanh niên tốt nghiệp trường Quốc học Huế những năm 20 của thế kỷ trước, trừ một số ít có điều kiện đặc biệt ra Hà Nội hoặc sang Pháp học tiếp, còn hầu hết là đi nhận một chức trợ giáo, thông phán, ký lục… ở một nơi nào đó để có cuộc sống ổn định. Còn Đào Duy Anh, sau bốn năm học tại Quốc học Huế, trở thành một thầy giáo dạy tiểu học tại Đồng Hới. Chương trình giảng dạy của trường Quốc học không vượt ra ngoài khuôn khổ tiểu học, như chính quyền thực dân đã xác định. Vốn học thức do nhà trường cung cấp được chứng nhận bằng tấm bằng Cao đẳng tiểu học thường chỉ đủ để đáp ứng yêu cầu làm viên chức thừa hành ở ngành này hay ngành khác trong chính quyền thực dân. Mặt khác, Đào Duy Anh không xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, có truyền thống học hành, khoa bảng và điều kiện thuận lợi để phát triển con đường học vấn như nhiều nhà văn hóa ở Việt Nam cùng thời với ông. Với tinh thần tự học, tự đào tạo như một hành trang theo ông trong suốt cả cuộc đời đã đưa ông đến những đóng góp to lớn cho dân tộc, được tôn vinh trong bộ đại từ điển bách khoa nổi tiếng La-rút-xơ.

Tinh thần tự học của Đào Duy Anh đã thể hiện rất sớm. Thuở nhỏ, ông được cha mẹ cho đi học chữ Hán, đến năm 1915, khi chế độ khoa cử cũ bị bãi bỏ, ông mới chuyển sang học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Trong thời gian này, cậu bé Đào Duy Anh mỗi lần gặp người bán sách rong đến chợ gần nhà để bán các truyện xưa bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là mua sách về đọc. Nhờ vậy, khi đến Huế học Cao đẳng tiểu học, Đào Duy Anh đã biết rất nhiều truyện cũ. Khi học ở Huế, mỗi khi rảnh rỗi, Đào Duy Anh lại đến nhà người quen, người có đủ các số báo Nam Phong để đọc báo, qua đó tự học văn học Việt Nam và viết văn bằng chữ Quốc ngữ. Trong khi những đồng nghiệp tại Đồng Hới vùi đầu vào cuộc đỏ đen hoặc bàn chuyện phiếm lúc rỗi rãi thì Đào Duy Anh lại chọn cho mình một lối sống “chỉ biết chăm chỉ dạy học và đọc sách mà mở mang tri thức”. Tại đây, ông đã theo học thêm tiếng Pháp theo một chương trình nhất định, đồng thời tiếp tục tự nghiên cứu Quốc văn và Hán văn mà công cụ chính là tờ Nam Phong. Chính nhờ việc tự trang bị cho mình vốn liếng kiến thức như vậy nên Đào Duy Anh mới có thể nhận lời cụ Huỳnh Thúc Kháng ở lại Huế làm báo Tiếng Dân và được cụ Huỳnh Thúc Kháng tin cậy giao những trọng trách quan trọng của tờ báo. Sau khi chuyển sang hoạt động nghiên cứu, Đào Duy Anh mong muốn đem “ánh sáng của chủ nghĩa Mác để khai thác vốn văn hóa của dân tộc và chọn lấy những cái tốt mà góp phần vào cuộc cải tạo văn hóa nước nhà”[10]. Nhưng ông nhận thức của mình về chủ nghĩa Mác cũng như phông kiến thức chung vẫn còn hạn chế cho nên ông đã đặt quyết tâm “việc cấp bách bây giờ là phải học thêm, học thật nhiều. Muốn tự học, trước hết cần phải có sách và tư liệu”[11].

Không có điều kiện như những nhà nghiên cứu làm việc ở Viễn Đông Bác cổ, để tìm tài liệu, Đào Duy Anh đã có mặt ở hầu hết các thư viện lớn ở Huế như thư viện Bảo Đại, thư viện của Hội Đô thành hiếu cổ. Tất cả những gia đình tiếng tăm, có tủ sách riêng ở khắp dải đất miền Trung, từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… đều có dấu chân của ông. Ông đi Hà Tĩnh tìm dấu tích của các tác giả những họ Nguyễn ở Lai Thạch và Tiên Điền, tìm ra bài hát phường nón của Nguyễn Huy Hổ và bài đáp của Nguyễn Du, tìm ra nguyên tác Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự… Con đường tự học của Đào Duy Anh không chỉ khép kín trong thư phòng, ông đã cùng nhà địa lý Nguyễn Thiệu Lâu thuê thuyền đi dọc sông Hương đến các nhánh sông suối suốt từ Thừa Thiên ra Quảng Trị, đi xe đạp từ Nha Trang lên Đà Lạt để khảo sát địa lý. Với tinh thần tự học và nghị lực phi thường, Đào Duy Anh đã vượt qua cơn bệnh lao bằng chính sự say mê làm việc. Nằm trên giường bệnh, ông vẫn không ngừng đọc sách, không chịu rời bỏ công việc nghiên cứu. Bà Trần Thị Như Mân đã phải làm một cái giá sách đặt lên trên giường để khi ông nằm vẫn có thể đọc mà không cần giữ sách. Chính vì ông làm việc say mê, luôn luôn tập trung suy nghĩ về một việc, tạo nên sự hưng phấn nên đã đẩy lùi được bệnh tật. Từ một thầy giáo tiểu học, bằng con đường tự học có kế hoạch và duy trì sự kiên định suốt cuộc đời với một nghị lực phi thường, Đào Duy Anh đã “tự bồi đắp, mở rộng dần hành trang tri thức, từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh đỉnh cao của học vấn đương thời, rồi vươn tới có những đóng góp xứng đáng vào nền văn hóa mới của dân tộc”[12] trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam ở đầu thế kỷ 20 đang chuyển mình từ nền văn hóa phương Đông sang quỹ đạo văn hóa hiện đại của thế giới.

Sinh thời, Đào Duy Anh lấy hiệu Vệ Thạch, với hình tượng con chim Tinh Vệ ngậm đá lấp biển Đông. Cả cuộc đời ông đã thực hiện cái sở nguyện đó “cố gắng cắp từng hòn sỏi mà mong góp phần vào công việc lấp biển học mênh mông”1[13] Con chim Tinh Vệ miệt mài trên hành trình xây dựng, bồi đắp văn hóa dân tộc với một tinh thần tự học hiếm có, để từ đó, Đào Duy Anh tự khẳng định bằng những công trình trải rộng trên nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội ở Việt Nam.

2. Năng lực sáng tạo

Sáng tạo là một trong những thuộc tính cơ bản nằm trong cấu trúc của nhân cách văn hóa. Với hàng loạt các trước tác của mình trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nhiều cách tiếp cận mới và có nhiều giá trị với xã hội, Đào Duy Anh nổi bật lên là một học giả có tinh thần sáng tạo mạnh mẽ.

Sự sáng tạo của Đào Duy Anh thể hiện ở sự thức nhận của ông đối với văn hóa, vai trò của văn hóa. Trong bối cảnh nửa đầu thế kỷ 20, cuộc giao lưu, tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nền văn hóa có nhiều khác biệt với văn hóa Việt Nam truyền thống vốn từ hàng nghìn năm nay nằm trong quỹ đạo khu vực, đặt ra nhiều vấn đề hoàn toàn mới đối với văn hóa dân tộc. Đào Duy Anh là một trong những người sớm nhận thức được những vấn đề đặt ra này. Ông luôn cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: làm thế nào để tiếp thu được những giá trị văn hóa của nền văn hóa phương Tây và bảo tồn được những giá trị văn hóa truyền thống. Sau khi chuyển hẳn sang hoạt động nghiên cứu, toàn bộ tâm lực của ông dành cho công việc đó. Khác với một số trí thức lúc đó, hoặc là quay lại với văn hóa phương Tây, khư khư giữ lấy cái truyền thống, hoặc phủ định cái truyền thống, muốn sao chép nguyên vẹn mô hình phương Tây, thái độ của Đào Duy Anh là hướng tới sự tích hợp những giá trị của hai nền văn hóa trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới, hiện đại mà giàu bản sắc. Điều đó thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử với cái mới và rõ ràng, nó phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, với nhu cầu của văn hóa dân tộc trong thời điểm đó. Một câu hỏi nữa mà Đào Duy Anh đặt ra: văn hóa là gì và có vai trò như thế nào trong đời sống xã hội. Sự thức nhận này có ý nghĩa quan trọng, nhất là hiểu văn hóa theo nghĩa của khoa học phương Tây, chứ không chỉ theo truyền thống. Đó thể hiện sự nhạy cảm, sự sáng tạo của một nhà khoa học biết phát hiện ra những vấn đề mới của thực tiễn, của xã hội, để trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu ra đời.

Truyền bá chủ nghĩa Mác ở Việt Nam theo con đường công khai mà Đào Duy Anh tiến hành trong những năm 20 – 30 của thế kỷ 20 cũng là một sự sáng tạo của ông. Con đường bí mật thì khó có thể rộng rãi. Trong khi đó, với trình độ dân trí của xã hội ta lúc đó, nhân dân “khó lòng đi thẳng đến tư tưởng duy vật biện chứng của Mác”. Đào Duy Anh đã xây dựng nên Quan hải tùng thư chuyên xuất bản những tập sách nhỏ như Lịch sử các học thuyết kinh tế, Lịch sử nhân loại, Xã hội luận… để cho người đọc làm quen với tư tưởng khoa học và duy vật. Công việc này được tiếp tục khi Đào Duy Anh làm bộ Từ điển Hán Việt. Ông có “dụng ý riêng” là nhân việc giải thích từ mà phổ biến trong nhân dân một số khái niệm chính trị theo hướng chủ nghĩa Mác, ví dụ những từ duy vật sử quan, cộng sản chủ nghĩa, Mã Khắc Tư. Việc giải thích các thuật ngữ này dựa trên sự nghiên cứu chủ nghĩa Mác của Đào Duy Anh cho nên cách diễn đạt vượt ra ngoài lối giải thích của một cuốn từ điển thông thường. Đó chính là cách phổ biến chủ nghĩa Mác dựa trên hoạt động công khai, dù nó có những hạn chế nhất định nhưng rõ ràng, nhiều người dân Việt Nam biết đến chủ nghĩa Mác qua con đường này.

Trong cuộc đời nghiên cứu của mình, cảm hứng sáng tạo luôn dào dạt trong con người học giả và như sự thôi thúc nội tâm, thôi thúc Đào Duy Anh không ngừng say mê tìm tòi không chỉ ở một mà nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội. Có lẽ, Đào Duy Anh cũng là người đầu tiên trong giới nghiên cứu khoa học ở nước ta đưa ra một quan niệm về sáng tạo của người hoạt động nghiên cứu từ chính trải nghiệm của cuộc đời ông. Khi trả lời một họa sĩ về lao động của người nghiên cứu, Đào Duy Anh cho rằng: Tôi tưởng cái hứng sáng tạo không phải là độc quyền của nhà nghệ sĩ đâu. Các anh đừng nên tưởng rằng người làm công tác nghiên cứu khi nào cũng ngập đầu vào những đống tài liệu mà không biết gì đến hoa lá rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời ở ngoài, cũng đừng nên tưởng rằng nhà khoa học lúc nào cũng đãng trí mà chạy theo cái lưng xe ngựa để viết nốt một phương trình toán học tưởng đó là cái bảng đen của mình… Tôi tưởng nhà khoa học Hy Lạp xưa Acsimet, khi tắm biển thấy thân mình bỗng nổi lên thì reo lên sung sướng rằng: Tìm ra rồi! Cũng không kém sung sướng về điều phát hiện của mình so với nhà điêu khắc Hy Lạp nọ đã tạo nên được cái đẹp kỳ diệu của pho tượng thần Vệ Nữ[14].

Đối với Đào Duy Anh, mỗi khi phát hiện ra một điều mới sau quá trình tìm tòi, chẳng hạn Giao Chỉ có quan hệ với “cái tục xem giao long là vật tổ”; phát hiện ra nền văn hóa đồ đồng là do “tổ tiên chúng ta là người Lạc Việt sáng tạo”, chứ không phải là những bộ lạc thuộc chủng Mã Lai học được kỹ thuật của người Hán… đã cho ông những “phút phấn khởi không kém gì những hứng thú về sáng tạo nghệ thuật”[15] của các nghệ sĩ. Những phát hiện mới như vậy không chỉ có ý nghĩa với riêng Đào Duy Anh, tạo nên những phút giây hứng khởi đối với ông mà quan trọng hơn là giá trị xã hội mà những sáng tạo đó đem lại, đó là sự phát triển của ngành sử học và các ngành khoa học xã hội của Việt Nam.

Từ ý tưởng đến công trình của Đào Duy Anh đã thể hiện tinh thần sáng tạo của ông. Khối lượng đồ sộ các công trình đã công bố hoặc còn ở dạng bản thảo mang tên Đào Duy Anh hiện chưa được thống kê, sưu tầm toàn bộ, “cái rừng sách” mà người đời sau thấy “ngợp”, “vừa kính phục, vừa sợ hãi” đã nói lên khả năng lao động tinh thần và sức sáng tạo mạnh mẽ của một học giả. Các công trình của Đào Duy Anh không chỉ có ở một lĩnh vực mà trải rộng ở nhiều ngành khoa học. Ở nhiều lĩnh vực, Đào Duy Anh đóng vai trò mở đường, tạo tiền đề để cho những người đi sau tiếp tục có những phát hiện mới, góp phần cho sự nghiệp khoa học của đất nước.

3. Tinh thần tự do

Nhân cách của một trí thức thực thụ biểu hiện ở khát vọng tự do và đi liền với nó là tư duy độc lập. Đào Duy Anh là con người như vậy, cho dù ở bất cứ điều kiện nào. Tinh thần phản biện luôn thường trực trong con người hoạt động khoa học Đào Duy Anh. Ngay từ những năm 30 của thế kỷ 20, nối tiếp hai cụ Phan: Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu trong mạch cảm xúc phê phán, tự phản tỉnh về dân tộc mình, Đào Duy Anh đã có những nhận xét rất sâu sắc, chính xác về những hạn chế của dân tộc. Nếu như hai cụ Phan từng nêu lên những chỗ yếu kém của người Việt Nam thì Đào Duy Anh cụ thể hóa những hạn chế đó. Chẳng hạn, ông đưa ra những đặc tính của người Việt Nam: ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường; thích sáo và hình thức hơn là hoạt động; tính khí nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang, ưa hư danh; não tinh vặt, hay bài bác… Cùng với ý kiến của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim…, nhiều nhận định của Đào Duy Anh đến nay vẫn còn giá trị. Không vì lòng yêu mến dân tộc mà chỉ biết tán dương, ca tụng, thái độ đó của Đào Duy Anh và các học giả khác có ý nghĩa quan trọng trong hành trang của dân tộc trên hành trình khai dân trí, chấn dân trí mà các bậc tiền bối đã đặt ra. Sự sáng tạo của Đào Duy Anh gắn liền với tinh thần tự do, tư duy độc lập và tinh thần phê phán, không chấp nhận sự giáo điều. Chính vì vậy, ông đã thẳng thắn phát biểu quan điểm của mình về dân chủ trong nghiên cứu khoa học, về mối quan hệ giữa chính trị với trí thức. Trong đó, ông nhấn mạnh đến điều kiện không thể thiếu được cho sự phát triển của khoa học là tự do tư tưởng, tự do thảo luận. Đào Duy Anh chỉ ra hai nguyên nhân hạn chế đến tự do học thuật ở Việt Nam lúc đó chính là ảnh hưởng của bệnh giáo điều và biến chứng của nó là bệnh sùng bái cá nhân. Trong bài viết của mình, ông cũng đề nghị, trong môi trường học thuật, môi trường đại học, phải lấy tiêu chuẩn chuyên môn thay tiêu chuẩn chính trị trong việc lựa chọn nguồn nhân lực hoạt động khoa học. Điểm nổi bật trong các bài viết này là một sự phân tích khách quan khoa học, tỉ mỉ, với tinh thần xây dựng mà không hề có sự công kích, đả phá những hạn chế trong hoạt động khoa học ở nước ta trong những ngày đầu của công cuộc tái thiết đất nước, sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Thuộc về lớp trí thức thấm nhuần tinh thần dân chủ, hình thành ở nửa đầu thế kỷ 20, thái độ của ông như một lẽ tự nhiên. Người trí thức thực thụ phải có sứ mệnh phản biện xã hội, cho dù sau đó, ông phải rơi vào những điều kiện khó khăn trong cả cuộc sống và công việc nghiên cứu.

Các cuộc tranh luận liên quan đến phân kỳ lịch sử, sự hình thành dân tộc Việt Nam trong những năm 50 của thế kỷ trước, thời kỳ mà chủ nghĩa giáo điều, sự sùng bái cá nhân còn đang ngự trị trong giới nghiên cứu nước ta đã thể hiện bản lĩnh của Đào Duy Anh. Trong các vấn đề tranh luận này, Đào Duy Anh đều xuất phát từ tinh thần khách quan khoa học, độc lập để phê phán những quan điểm sai lầm. Với ông, thực tiễn lịch sử dân tộc là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý khoa học.

Sau này, trong Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh còn phê phán những hạn chế trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta, đặc biệt trong giáo dục đạo đức, phát huy tinh thần tự ý thức cá nhân, coi nhẹ vai trò của văn hóa gia đình và thiếu giáo dục tâm linh…, “nhấn mạnh đạo đức tập thể” mà chưa chú ý đến mặt cá nhân. Đào Duy Anh phê phán quan niệm phiến diện coi những gì trong xã hội cũ là xấu cả mà lên án tất cả những gì xã hội đó dùng để giáo dục con người. Bên cạnh đó, việc học tập nguyên xi, máy móc mô hình giáo dục đạo đức ở các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, theo Đào Duy Anh là không phù hợp “Chúng ta không thể lấy kiểu mẫu ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được, vì mỗi dân tộc có tính cách và tâm hồn khác nhau, điều mà nhà giáo dục không thể không xem trọng”[16]. Sự tỉnh táo của bậc học giả là một điều hiếm hoi trong điều kiện lúc đó, khi mà việc học tập mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách máy móc đang diễn ra phổ biên tập. Nó phản ánh tinh thần độc lập vốn thường trực trong nhân cách của một trí thức luôn đau đáu khát vọng hướng tới tiền đồ tươi sáng cho dân tộc.

Kết luận

Cuộc đời học giả Đào Duy Anh là một tấm gương sáng về đạo làm người, làm một nhà khoa học chân chính. Là một trí thức tràn đầy nghiệt huyết, ông say mê nghiên cứu, sống rất giản dị và luôn mang trong mình khát vọng sáng tạo, tự do. Trong những hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn giữ nhất quán lý tưởng sống của mình là cống hiến cho sự nghiệp văn hóa dân tộc, miệt mài, cần mẫn như con tằm nhả tơ cho cuộc đời. Nhân cách và những đóng góp to lớn của học giả Đào Duy Anh thực sự là di sản quý giá, truyền cảm hứng cho các thế hệ đi sau và có thể tham dự trực tiếp vào cuộc sống của chúng ta hôm nay. Nhân kỷ niệm 120 năm, ngày sinh của Giáo sư Đào Duy Anh, chúng tôi, những người được thừa hưởng, tiếp nối di sản của Ông xin được tri ân và bày tỏ lòng ngưỡng mộ và thành kính một bậc học giả đã dành trọn đời mình cho đất nước, cho văn hóa dân tộc.

[1] Hoàng Vinh (2006), Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.311

[2] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.29

[3] Sơn Tùng (2009), Ký ức về thầy Đào Duy Anh, sách họ Đào Việt Nam, Nxb Hà Nội, tr.883

[4] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.48

[5] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.34

[6] A. Carơmin (2011), Văn hóa học, Nxb St.Peterburg, Bản dịch tiếng Nga của GS.Hoàng Vinh

[7] Phan Thị Bội Hoàn, Dâu họ Đào, tư liệu gia đình GS. Đào Duy Anh, tr.78

[8] Trần Thị Như Mân (2007), Sống với tình thương, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.50

[9] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.9

[10] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.48

[11] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.48

[12] Đinh Xuân Lâm (2004), “Đào Duy Anh và sự kết hợp cách mạng với văn hóa”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội (10), tr.34

[13] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.36

[14] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.109

[15] Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.109

[16]Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.463