I. Tính cấp thiết của chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về an ninh lương thực, xuất khẩu và sinh kế nông thôn. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,09 tỷ USD. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô và gia tăng đầu vào ngày càng thu hẹp do hạn chế về đất, áp lực nguồn nước, chi phí vật tư tăng, suy giảm chất lượng đất và môi trường ở một số vùng; thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.
Thị trường đang chuyển nhanh từ yêu cầu về chất lượng sang yêu cầu đồng thời về nguồn gốc, phương thức sản xuất, phát thải và trách nhiệm môi trường. Vì vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn vừa là yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa là điều kiện duy trì năng lực cạnh tranh và tạo dư địa tăng trưởng mới.
Nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn là các chiều cạnh bổ trợ của cùng một quá trình chuyển đổi: tổ chức sản xuất phù hợp với hệ sinh thái; sử dụng hiệu quả đất, nước, vật tư và năng lượng; giảm ô nhiễm, phát thải; tái sử dụng phụ phẩm; đồng thời nâng cao thu nhập và khả năng chống chịu của cộng đồng nông thôn. Trọng tâm là hình thành hệ thống sản xuất có khả năng vận hành và nhân rộng theo vùng, ngành hàng và chuỗi giá trị.
II. Quá trình chuyển đổi và kết quả bước đầu
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai đồng bộ cơ cấu lại sản xuất, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, phát thải thấp, công nghệ sinh học, công nghệ cao, khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, tiêu chuẩn - quy chuẩn và truy xuất nguồn gốc. Qua đó, mục tiêu phát triển từng bước chuyển từ chủ yếu dựa vào năng suất, sản lượng sang đa giá trị về kinh tế, môi trường, xã hội và khả năng chống chịu.
Theo hướng sinh thái, sản xuất từng bước giảm phụ thuộc vào đầu vào hóa học, chú trọng sức khỏe đất, sử dụng nước tiết kiệm và giống thích ứng. Đề án phát triển và sử dụng phân bón hữu cơ (Quyết định số 5190/QĐ-BNN-BVTV ngày 07/12/2023) đã xây dựng 429 mô hình trên hơn 10.000 ha cây trồng chủ lực, góp phần tái sử dụng phụ phẩm, bổ sung chất hữu cơ và từng bước khép kín chu trình dinh dưỡng.
Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long là ví dụ điển hình về chuyển đổi xanh. Điểm cốt lõi không chỉ là giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay áp dụng tưới ngập - khô xen kẽ, mà là tổ chức đồng bộ quy trình kỹ thuật, quản lý nước và rơm rạ, cơ giới hóa, hợp tác xã, doanh nghiệp, dữ liệu và đo lường phát thải. Các mô hình bước đầu cho thấy chi phí giảm, lợi nhuận tăng so với đối chứng, cho thấy giảm phát thải có thể gắn với hiệu quả kinh tế.
Ý nghĩa của Đề án là chuyển từ áp dụng từng tiến bộ kỹ thuật sang tổ chức một hệ thống sản xuất đồng bộ: giống gắn với quản lý nước và vật tư; cơ giới hóa gắn với quy mô vùng; giảm phát thải phải đo lường được; dữ liệu phục vụ truy xuất và thị trường. Đây là kinh nghiệm quan trọng để tổ chức chuyển đổi các ngành hàng khác.
Nông nghiệp tuần hoàn là định hướng quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng đa giá trị, hiệu quả và bền vững; hài hòa lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường, tạo việc làm và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Triển khai Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng 05 dự án KHCN thúc đẩy kinh tế tuần hoàn đến năm 2030 trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và truyền thông. Các nhiệm vụ tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ; nâng cao tỷ lệ tái sử dụng, tái chế phụ phẩm; phát triển quy trình, sản phẩm giá trị gia tăng; qua đó thúc đẩy nông nghiệp xanh, phát thải thấp và bảo vệ môi trường.
Năm 2020, tổng khối lượng phụ phẩm nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trên 156,8 triệu tấn, gồm 88,9 triệu tấn từ trồng trọt (56,7%); 61,4 triệu tấn từ chăn nuôi (39,1%); 5,5 triệu tấn từ lâm nghiệp (3,5%) và gần 1 triệu tấn từ thủy sản (0,6%) (Tổng cục Thống kê, 2021). Trong mô hình nông nghiệp tuần hoàn gắn với tăng trưởng xanh, phụ phẩm cần được xem là tài nguyên tái tạo và nguồn đầu vào để kéo dài chuỗi giá trị, thay vì chất thải.
Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp ngày càng được nhân rộng, như nhà màng, nhà kính, nhà lưới kết hợp công nghệ số để điều khiển tự động hoặc bán tự động; các quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường như VietGAP, GlobalGAP cũng được áp dụng rộng hơn. Các kỹ thuật, quy trình thích ứng với biến đổi khí hậu tiếp tục được đẩy mạnh, như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, xuống giống tập trung né rầy, giảm lượng giống gieo sạ, bón phân theo chuyên vùng và tưới nước tiết kiệm.
Trong chăn nuôi, cả nước có khoảng 5-6 triệu hộ và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung, phát sinh khoảng 84,5 triệu tấn chất thải/năm; khoảng 20% được sử dụng hiệu quả, còn lại phần lớn chưa được xử lý, tái sử dụng phù hợp. Trong trồng trọt, khoảng 10% phụ phẩm được dùng làm chất đốt tại chỗ, 5% làm nhiên liệu công nghiệp, 3% làm thức ăn gia súc; trên 80% còn lại chưa được sử dụng hiệu quả, một phần bị thải bỏ hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường.
Chuyển đổi xanh ngày càng gắn chặt với tiêu chuẩn, dữ liệu và thị trường. Năm 2026, Bộ triển khai 157 nhiệm vụ TCVN và 05 nhiệm vụ QCVN; đến 18/9 đã công bố 64 TCVN, đề nghị công bố 11 TCVN, thẩm định 36 TCVN và 03 QCVN. Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vận hành từ 01/7/2026; đến 20/9 có 820.723 sản phẩm của 3.030 nông hộ và 208 doanh nghiệp tại 28/34 tỉnh, thành phố đăng ký, trong đó 158.796 sản phẩm có đầy đủ thông tin truy xuất.
Nhìn tổng thể, chuyển đổi đang hình thành trên ba phương diện: công nghệ làm thay đổi phương thức sản xuất; dữ liệu và tiêu chuẩn làm thay đổi phương thức quản trị; thị trường và việc lượng hóa giá trị môi trường tạo động lực mới. Hợp tác xã, vùng nguyên liệu và liên kết doanh nghiệp là cầu nối để chuyển kết quả kỹ thuật thành sinh kế và giá trị kinh tế ở nông thôn.
III. Hạn chế và vấn đề đặt ra
Việt Nam chưa hình thành đầy đủ hệ thống nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn vận hành đồng bộ ở quy mô lớn. Kết quả còn phân tán giữa mô hình sản xuất, nhiệm vụ nghiên cứu, chương trình môi trường, hệ thống dữ liệu và chuỗi thị trường.
Nhiều mô hình cho thấy hiệu quả kỹ thuật nhưng khó nhân rộng do thiếu hạ tầng, vùng nguyên liệu, cơ giới hóa, năng lực hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp và nguồn vốn. Kinh nghiệm vùng lúa phát thải thấp cho thấy công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đồng thời giải quyết thủy lợi, máy móc, tổ chức nông dân, hợp đồng tiêu thụ, tín dụng và đo lường phát thải.
Kinh tế tuần hoàn vẫn chủ yếu ở quy mô mô hình hoặc từng công đoạn. Điểm nghẽn nằm ở công nghệ, thu gom, phân loại, sơ chế, bảo quản, logistics, tiêu chuẩn nguyên liệu thứ cấp và thị trường. Khi phụ phẩm phân tán, giá trị đầu ra chưa bù chi phí, mô hình khó duy trì theo cơ chế thị trường.
Khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa còn lớn. Đến 20/9/2026, Bộ tiếp nhận 55 đề xuất sản phẩm công nghệ chiến lược nhưng chỉ lựa chọn 10 đề xuất đáp ứng yêu cầu để tiếp tục hoàn thiện; một số hồ sơ chưa chứng minh được năng lực làm chủ công nghệ lõi. Doanh nghiệp và hợp tác xã chưa tham gia đủ sâu từ khâu đặt hàng và đồng phát triển công nghệ.
Dữ liệu tăng nhanh nhưng chất lượng và khả năng khai thác chưa đồng đều. Số sản phẩm đăng ký trên hệ thống truy xuất lớn, song tỷ lệ có đầy đủ thông tin còn thấp. Dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, vùng nguyên liệu cần phản ánh biến động theo thời gian và được kết hợp với viễn thám, AI, dữ liệu không gian và hậu kiểm.
Chưa có hệ thống chỉ tiêu đồng bộ để đo mức độ sinh thái, xanh, tuần hoàn theo ngành hàng và vùng sinh thái. Nếu không lượng hóa được hiệu quả sử dụng đất, nước, vật tư, năng lượng, phát thải, tuần hoàn phụ phẩm và lợi ích kinh tế, sẽ khó xác nhận giá trị môi trường và kết nối với tín dụng xanh, chứng nhận hoặc thị trường các-bon.
Chuyển đổi xanh chưa luôn tạo lợi ích kinh tế ngay cho người sản xuất. Nông dân và hợp tác xã phải chịu chi phí ban đầu cho thiết bị, quy trình, dữ liệu và chứng nhận, trong khi một phần lợi ích môi trường mang tính xã hội hoặc dài hạn. Đây là điểm nghẽn đối với khả năng nhân rộng.
IV. Định hướng và giải pháp: Từ các mô hình xanh đến hệ thống nông nghiệp xanh
Giai đoạn tới, trọng tâm là kết nối các cấu phần đã hình thành thành một hệ thống, trong đó thể chế, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn, tài chính và thị trường được thiết kế đồng bộ.
Trước hết, chuyển từ mục tiêu chủ yếu về sản lượng sang mục tiêu đa giá trị. Đánh giá hiệu quả cần đồng thời xem xét năng suất, thu nhập, hiệu quả sử dụng đất, nước, vật tư, mức phát thải, tái sử dụng phụ phẩm, chất lượng môi trường và sức chống chịu.
Thứ hai, chuyển từ xử lý chất thải sang quản trị tài nguyên tuần hoàn. Cần xây dựng bản đồ phụ phẩm; tiêu chuẩn hóa nguyên liệu thứ cấp; phát triển hạ tầng thu gom, sơ chế, bảo quản, logistics; thu hút doanh nghiệp chế biến phụ phẩm thành phân bón hữu cơ, thức ăn, vật liệu sinh học, năng lượng và sản phẩm giá trị cao.
Thứ ba, chuyển từ mô hình riêng lẻ sang vùng sản xuất và chuỗi giá trị. Mô hình hiệu quả cần được tổ chức ở quy mô đủ lớn, gắn với hợp tác xã, doanh nghiệp tiêu thụ, hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật, tín dụng và dữ liệu. Kinh nghiệm từ vùng lúa phát thải thấp cần được nghiên cứu, áp dụng phù hợp cho các ngành hàng khác.
Thứ tư, chuyển từ nghiên cứu sang đổi mới sáng tạo và thương mại hóa. Mỗi nhiệm vụ KHCN phải xác định rõ bài toán, sản phẩm cuối cùng, địa chỉ tiếp nhận, quy mô thử nghiệm, chỉ tiêu tác động và phương án nhân rộng. Doanh nghiệp, hợp tác xã cần tham gia từ xác định nhu cầu đến thử nghiệm và thương mại hóa.
Thứ năm, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu và đo lường. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, thống nhất, dùng chung và kết nối sản xuất với đất đai, nước, môi trường, khí tượng thủy văn, thị trường. Cần xây dựng MRV và bộ chỉ tiêu theo ngành hàng để giá trị xanh có thể được đo lường, xác nhận và giao dịch.
Thứ sáu, đặt nông dân, hợp tác xã và cộng đồng nông thôn ở vị trí trung tâm. Cần phát triển dịch vụ kỹ thuật, đào tạo, khuyến nông, cơ giới hóa, tín dụng xanh và cơ chế chia sẻ lợi ích; đồng thời tạo việc làm nông thôn từ chế biến, dịch vụ môi trường, kinh tế sinh học và kinh tế tuần hoàn.
Cuối cùng, cần tạo cơ chế chuyển giá trị môi trường thành giá trị kinh tế. Kinh nghiệm giảm phát thải rừng cho thấy kết quả môi trường khi được đo lường, xác nhận có thể tạo nguồn tài chính mới. Nguyên tắc này cần từng bước mở rộng sang canh tác phát thải thấp, phục hồi đất, sử dụng nước hiệu quả, bảo tồn đa dạng sinh học và tuần hoàn tài nguyên.
V. Kết luận
Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn không phải ba hướng tách biệt mà là quá trình chuyển đổi tổng thể của hệ thống nông nghiệp - thực phẩm, nhằm tạo nhiều giá trị hơn từ tài nguyên, giảm tác động môi trường, tăng khả năng chống chịu và nâng cao sinh kế nông thôn.
Những kết quả bước đầu cho thấy Việt Nam đã hình thành nhiều cấu phần quan trọng của quá trình chuyển đổi, từ giống, quy trình sản xuất, mô hình phát thải thấp, tuần hoàn phụ phẩm đến tiêu chuẩn, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và giá trị các-bon. Thách thức lớn nhất là kết nối các cấu phần này thành hệ thống có khả năng tự duy trì và nhân rộng.
Giai đoạn 2026-2030 cần lấy hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải, giá trị gia tăng, khả năng thương mại hóa và thu nhập của người sản xuất làm thước đo. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải là công cụ xuyên suốt để chuyển từ nền nông nghiệp dựa nhiều vào đầu vào sang nền nông nghiệp dựa trên tri thức, dữ liệu và giá trị sinh thái.