Thông tim bào thai thành công ca thứ 17 dù van tim quá dày

Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1 thông tim can thiệp thành công cho thai nhi 28 tuần tuổi bị không lỗ van động mạch phổi, sau nhiều lần thay đổi phương án do van tim quá dày, cứng.

Thai phụ L.T.K.X. (30 tuổi, quê Vĩnh Long) mang thai lần hai, dự sinh ngày 29/12/2026. Những lần khám thai trong quý I chưa ghi nhận bất thường, xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp.

Tuy nhiên, ở tuần thai 16 tuần 6 ngày, siêu âm phát hiện thai nhi không lỗ van động mạch phổi, vách liên thất kín, hở van ba lá nặng và thiểu sản thất phải mức độ trung bình. Đây là trường hợp phát hiện bất thường tim sớm nhất trong 17 ca thông tim can thiệp bào thai mà hai bệnh viện đã thực hiện.

Thai phụ được theo dõi song song tại Khoa Chăm sóc trước sinh, Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả chọc ối, phân tích nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật Array không ghi nhận bất thường.

Từ tuần thai 17 đến 26, các ê-kíp liên viện thường xuyên trao đổi hình ảnh siêu âm, đánh giá cấu trúc tim và chức năng thất phải, đồng thời hội chẩn với Giáo sư Gerald Tulzer, nguyên Giám đốc Trung tâm Tim trẻ em Linz, Áo, chuyên gia trong lĩnh vực can thiệp tim bào thai.

thong-tim-bao-thai-thanh-cong-ca-thu-17-du-van-tim-qua-day-1791944322.jpg
Nong van tim cho thai nhi từ trong bụng mẹ (Ảnh: BVCC)

Qua theo dõi diễn tiến bệnh, các chuyên gia thống nhất thời điểm can thiệp phù hợp vào khoảng tuần thai 28-29, với mục tiêu cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải phát triển và hướng đến khả năng hình thành tuần hoàn hai thất sau sinh.

Ngày 8/10, khi thai được 28 tuần 2 ngày, hội đồng chuyên môn nhận định tình trạng không lỗ van động mạch phổi kèm thiểu sản thất phải đã tiến triển nặng, song thai nhi vẫn còn cơ hội can thiệp. Các bác sĩ thống nhất thực hiện nong van động mạch phổi ngay trong bào thai.

Cuộc can thiệp diễn ra từ 8h30 đến 10h30 ngày 9/10. Sau khi gây vô cảm cho mẹ và thai nhi, ê-kíp điều chỉnh tư thế thai, đưa kim 18G xuyên qua thành bụng mẹ, cơ tử cung và thành ngực thai để tiếp cận buồng thoát thất phải.

Thách thức xuất hiện khi dây dẫn chuyên dụng không thể đi qua van động mạch phổi do các lá van quá dày và chắc. Ê-kíp hội chẩn tại chỗ, chuyển sang kỹ thuật “kim trong kim”, sử dụng kim 20G đưa qua ống dẫn 18G nhằm tăng khả năng xuyên qua van. Đây là phương án từng được áp dụng thành công ở ca can thiệp thứ 13, nhưng lần này vẫn không đạt kết quả do cấu trúc van quá dày.

Trong quá trình thực hiện, tim thai xuất hiện biến chứng. Các bác sĩ quyết định tạm ngừng thủ thuật để hồi sức thai nhi. Sau hồi sức, sức co bóp cơ tim cải thiện, nhịp tim trở lại ổn định và dấu hiệu chèn ép tim không còn.

Trước tình huống phức tạp, ê-kíp tiếp tục đánh giá toàn diện, cân nhắc lợi ích và nguy cơ trước khi quyết định phương án tiếp theo. Cuối cùng, các bác sĩ lựa chọn đưa trực tiếp kim 18G xuyên qua van động mạch phổi.

Khi đầu kim đã qua van, dây dẫn và bóng nong kích thước 3 x 10 mm được đưa đến vị trí cần can thiệp. Bóng được bơm một lần với áp lực 10 bar. Kiểm tra ngay sau nong ghi nhận dòng máu từ thất phải qua van động mạch phổi lên động mạch phổi.

Sau khi rút toàn bộ dụng cụ, tim thai đập ổn định ở mức 145 lần/phút, sức co bóp tốt. Kết quả cho thấy dòng máu qua van động mạch phổi đã được tái lập, mở thêm cơ hội cho quá trình phát triển tim thai.

thong-tim-bao-thai-thanh-cong-ca-thu-17-du-van-tim-qua-day-2-1791944322.jpg
Ê kíp bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện ca thông tim can thiệp bào thai thứ 17 (Ảnh: BVCC)

Sau can thiệp 4 giờ, thai phụ ổn định, không đau bụng, không có cơn gò tử cung hay ra huyết âm đạo. Siêu âm tim thai ghi nhận nhịp tim 145 lần/phút, dòng máu qua van động mạch phổi tốt.

Sau 24 giờ, thai tiếp tục tăng trưởng phù hợp, các chỉ số Doppler trong giới hạn theo dõi. Dòng máu từ thất phải qua van lên động mạch phổi được duy trì, vận tốc 350 cm/giây. Thai nhi có một lượng dịch màng ngoài tim nhỏ, khoảng 5 mm tại mỏm thất phải, cần tiếp tục theo dõi.

Đến sáng 13/10, sau 5 ngày can thiệp, thai phụ sinh hoạt bình thường, thai cử động tốt. Siêu âm tim thai chưa ghi nhận dấu hiệu nguy cơ mới. Sản phụ tiếp tục được theo dõi sát tại Bệnh viện Từ Dũ để đánh giá diễn tiến tim thai và các chỉ số liên quan trong thời gian tới.

BS.CKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết việc thực hiện thành công 17 ca thông tim can thiệp bào thai cho thấy năng lực ngày càng được nâng cao trong chẩn đoán, hội chẩn và triển khai các kỹ thuật chuyên sâu của hai bệnh viện. Riêng ca can thiệp thứ 17 cho thấy vai trò của sự chuẩn bị kỹ lưỡng, phối hợp liên viện, theo dõi sát tình trạng thai nhi và khả năng điều chỉnh phương án trước những tình huống ngoài dự kiến.

Dù dòng máu qua van động mạch phổi đã được tái lập, hiệu quả lâu dài của can thiệp vẫn cần được đánh giá qua quá trình theo dõi thai kỳ và chăm sóc sau sinh. Sự phát triển của thất phải, chức năng tim và nhu cầu điều trị tiếp theo sẽ phụ thuộc vào diễn tiến thực tế của thai nhi.

Thành quả này tiếp tục mở ra cơ hội can thiệp sớm cho những thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh nghiêm trọng, đồng thời góp phần nâng cao năng lực điều trị chuyên sâu và chất lượng chăm sóc mẹ và bé.