Đánh giá đặc điểm nông sinh học và chất lượng dược liệu của một số mẫu giống sì to (Valeriana jatamansi Jones) trồng tại Sa Pa – Lào Cai

Cây Sì to (Valeriana jatamansi Jones) thuộc họ Nữ lang (Valerianaceae) được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền của các nước Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ…Tại Việt Nam, Sì to được ghi trong Sách đỏ Việt Nam ở cấp phân hạng EN B1+2 b,c. Đây là loài cây thuốc bản địa được sử dụng theo kinh nghiệm của đồng bào người H’Mông và Dao ở một số tỉnh để chữa sốt cao gây co giật, lo âu, bồi bổ cơ thể cho phụ nữ sau sinh, đau đầu… Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về đặc điểm hình thái, hàm lượng hoạt chất có trong loài Sì to, từ đó cung cấp các thông tin cơ bản giúp phân biệt loài Sì to với các loài khác trong chi Valeriana.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chi Valeriana thuộc họ Valerianaceae gồm khoảng 250 loài, phân bố ở khắp các vùng ôn đới trên thế giới [1]. Cây Sì to (Valeriana jatamansi Jones) là một loài thuộc chi Valeriana có nguồn gốc từ Himalaya và phân bố từ Afghanistan đến Tây Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar, Bắc Mỹ ở độ cao từ 1.000 đến 3.000 m so với mực nước biển [2],[3].

Thành phần hóa học chính từ rễ và thân rễ của loài Sì to đã xác định được 128 hợp chất bao gồm valepotriates, flavonoid và flavone glycoside, lignin, sesquiterpenoid, sesquiterpenoid loại bakkenoloids, phenolic, tinh dầu và các hợp chất thực vật khác [2], [3], [4].

Sì to là một loài thảo dược lâu năm được liệt kê chính thức trong Dược điển Trung Quốc, Ấn Độ, Anh và châu Âu. Bộ phận sử dụng là rễ (thân rễ), được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc phổ biến để điều trị nhiều bệnh như rối loạn lo âu, thuốc an thần gây ngủ, hội chứng ruột kích thích, động kinh, rắn cắn và tăng lipid máu. Ở Châu Âu, nó được sử dụng làm thuốc và gia vị [3].

Đây là loài sinh sản bằng cả phương thức hữu tính (hạt) và vô tính (thân rễ) [2],[5].

Hiện nay loài Sì to đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam [6] với mức phân hạng nguy cấp (EN B1+2 b,c), với tình trạng tại các điểm phân bố cách xa nhau, kích thước quần thể nhỏ, tổng diện tích phân bố không quá 500km2. Giai đoạn 2006 – 2013, song song với quá trình thu thập nghiên cứu bảo tồn chuyển vị Viện Dược liệu đã tiến hành nghiên cứu sơ bộ bề mặt sinh học, hóa học cũng như tác dụng sinh học của loài Sì to, việc đưa Sì to vào trồng trong cộng đồng các dân tộc vùng cao thuộc Lào Cai cũng được thực hiện nhằm bảo tồn và phát triển loài cây bản địa có nguy cơ tuyệt chủng đồng thời tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc và tăng thu nhập cho người dân vùng cao [7].

Chi Valeriana có 2 loài được sử dụng làm thuốc phổ biến trong y học cổ truyền ở Việt Nam bao gồm Valeriana hardwickii Wall. và Valeriana jatamansi Jones [8]. Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành xây dựng dữ liệu về đặc điểm hình thái và hàm lượng hoạt chất của mẫu Sì to (Valeriana jatamansi Jones) được thu thập ở 3 địa điểm khác nhau bao gồm Sìn Hồ - Lai Châu, Bát Xát – Lào Cai, Sa Pa – Lào Cai nhằm cung cấp thông tin cụ thể tạo điều kiện cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn trong thời gian tới.

II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện trên 3 mẫu giống Sì to được thu thập tại một số tỉnh khu vực phía Bắc của Việt Nam (Bảng 1) và trồng tại vườn bảo tồn của Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Sa Pa – Viện Dược liệu. Các mẫu được giám định cùng loài Sì to có tên khoa học Valeriana jatamansi Jones.

Bảng 1. Thông tin về các mẫu giống Sì to thu thập

b1-1780667088.png

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu tuần tự không nhắc lại, trồng 60 cây/mẫu giống, đánh số thứ tự từ 1 - 60. Theo dõi 30 cây ngẫu nhiên/mẫu giống. Cây giống Sì to có chiều cao khoảng 20 – 25 cm, được tách từ cây mẹ khỏe mạnh, không sâu bệnh. Thời vụ trồng vào 15/9. Khoảng cách trồng cây 30 × 40 cm. Lượng phân bón sử dụng cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 300 kg phân vi sinh + 1.000 kg NPK (12:5:10) [7].

Mô tả, đánh giá đặc điểm hình thái của các mẫu giống Sì to theo phương pháp hình thái so sánh của Nguyễn Nghĩa Thìn [9].

Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của cây Sì to qua các chỉ tiêu: thời gian sinh trưởng (tháng), thời gian ra hoa (tháng), thời gian từ trồng đến vườn ngồng (ngày), thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày), thời gian từ trồng đến quả chín (ngày), thời gian từ trồng đến thu dược liệu (ngày), chiều dài đốt thân rễ (cm), đường kính đốt thân rễ (cm), chiều dài phiến lá (cm), chiều rộng phiến lá (cm).

Đánh giá chất lượng dược liệu theo Dược điển Trung Quốc (2020).

Số liệu được xử lý thống kê bằng Microsoft Excel.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống Sì to

Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của mỗi loài khác nhau đều khác nhau. Việc xác định thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển là cơ sở để bố trí thời vụ trồng, thu hoạch thích hợp cho từng loài cây cụ thể.

Bảng 2. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống Sì to

b2-1780667088.png

Qua theo dõi cho thấy thời gian sinh trưởng của các mẫu giống Sì to thu thập và trồng tại Sa Pa – Lào Cai là quanh năm. Các mẫu giống sinh trưởng mạnh trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm, và sinh trưởng chậm lại (gần như không phát triển thân lá) vào mùa đông lạnh (tháng 11 – tháng 2). Ba mẫu giống Sì to thu thập có thời gian ra hoa, đậu quả kéo dài trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm. Trong đó, mẫu giống ST3 có thời gian ra hoa sớm hơn hai mẫu giống còn lại (tháng 3 đến tháng 6), mẫu giống ST1 có thời gian ra hoa, đậu quả muộn nhất (tháng 5 đến tháng 7). Theo Nguyễn Tiến Bân [6] ghi nhận mùa hoa của Sì to từ tháng 5 đến tháng 6, mùa quả từ tháng 6 đến tháng 8. Theo Hong Deyuan [10] mùa hoa của cây Sì to từ tháng 4 đến tháng 7 và mùa quả từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm. Tuy nhiên, Võ Văn Chi [11] và Đỗ Huy Bích [5] ghi nhận mùa hoa quả của Sì to từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Sự sai khác này có thể do điều kiện địa điểm theo dõi không đồng nhất.

Sì to là cây có thời gian ra hoa, đậu quả kéo dài. Theo dõi thời gian sinh trưởng từ trồng đến vươn ngồng, ra hoa, quả chín ở 3 mẫu giống có sự khác nhau. Trong đó, thời gian từ trồng đến vươn ngồng ở các mẫu giống dao động kéo dài trong khoảng từ 180 - 250 ngày. Thời gian từ trồng đến ra hoa dao động trong khoảng từ 170 – 300 ngày và thời gian từ trồng đến quả chín dao động từ 215 đến 345 ngày. Mẫu giống ST3 có thời gian vươn ngồng, ra hoa, quả chín sớm nhất trong cả 3 mẫu giống và thời gian vươn ngồng, ra hoa, quả chín muộn nhất là ở mẫu giống ST1.

Thời gian sinh trưởng từ trồng đến thu dược liệu của các mẫu giống Sì to được theo dõi đều đồng nhất ở các mẫu giống trong khoảng từ 350 – 370 ngày. Tại Sa Pa, do có mùa đông lạnh, nhiệt độ xuống thấp, cây Sì to thường sinh trưởng chậm. Vì vậy, trong điều kiện trồng trọt, người dân thường thu dược liệu vào khoảng tháng 9, tháng 10 hàng năm.

3.2. Đặc điểm hình thái của các mẫu giống Sì to

3.2.1. Đặc điểm hình thái thân rễ của các mẫu giống Sì to

Các mẫu giống Sì to thu thập có đặc điểm hình thái thân rễ tương đối giống nhau, thân rễ mập, gần hình trụ, gồm nhiều đốt khoanh tròn do vết lá rụng để lại, mang nhiều rễ con. Các mẫu giống có chiều dài đốt thân dao động từ 0,5 – 1,5 cm. Trong đó, mẫu giống ST3 có chiều dài đốt thân dài hơn 2 mẫu giống còn lại. Đường kính đốt thân rễ trong khoảng 0,5 – 2,5 cm. Cả 3 mẫu giống đốt thân rễ đều có màu trắng ngà, riêng mẫu ST2 trên đốt thân có màu trắng ngà đến đỏ tía (Bảng 3, Hình 1).

Bảng 3. Đặc điểm thân rễ của các mẫu giống Sì to

b3-1780667088.png
 

3.2.2. Đặc điểm hình thái lá của các mẫu giống Sì to

Về mặt tổng thể, lá của các mẫu giống Sì to theo dõi đều có dạng lá đơn, có cuống, mọc thẳng từ đầu thân rễ, phiến lá hình trứng đến hình tim, đầu nhọn, mép lá nguyên hoặc răng cưa, hai mặt có lông mịn. Hệ gân chân vịt, gân chính to, nổi rõ, gân bên nhỏ, song song. Xét về đặc điểm hình thái lá, ba mẫu giống Sì to thu thập có đặc điểm hình thái lá khác nhau rõ rệt. Hai mẫu giống ST2 và ST3 có dạng lá hình tim, trong khi mẫu giống ST1 lá có dạng hình trứng; mép lá của mẫu giống ST1 và ST2 nguyên trong khi mẫu giống ST3 có mép lá có răng cưa to. Hai mẫu giống ST1 và ST3 có cuống lá màu xanh, riêng mẫu giống ST2 cuống lá có màu đỏ tía. Cả 3 mẫu giống theo dõi đều có lông mịn ở cả 2 mặt lá, tuy nhiên, mẫu giống ST2 có lớp lông trên mặt lá dày hơn, mịn hơn 2 mẫu giống còn lại (Bảng 4, Hình 1, Hình 2)

Bảng 4. Đặc điểm hình thái lá của các mẫu giống Sì to

b4-1780667088.png

3.2.3. Đặc điểm hình thái hoa, quả, hạt

Kết quả theo dõi đặc điểm hình thái hoa, quả, hạt được thể hiện ở bảng 5 và hình 2.

Bảng 5. Đặc điểm hình thái hoa, quả, hạt của các mẫu giống Sì to

b5-1780667088.png

3.2.4. Đặc điểm hình thái của loài Sì to

Loài Sì to (Valeriana jatamansi Jones) được mô tả: dạng cây cỏ, sống nhiều năm, cao 20 – 70 cm. Thân rễ to, gồm nhiều đốt ngắn, đường kính 0,8  -1,5 cm; nhiều rễ chùm. Cây thường mọc thành khóm gồm nhiều nhánh, mỗi nhánh có 3 – 7 (9) lá, có cuống dài 5 – 15 cm; phiến lá hình tim, nhọn đầu, cỡ 3-9 × 2-8 cm; mép có răng cưa dạng sóng; những lá ở gốc trục hoa có thể xẻ thùy lông chim. Cụm hoa dạng sim, mọc ở ngọn. Lá bắc nhỏ. Hoa tạp tính, màu trắng hoặc phớt hồng. Hoa cái nhỏ, dài 1,5 mm; nhị rất nhỏ do tiêu giảm; vòi nhụy thò ra ngoài. Hoa lưỡng tính to hơn, dài 3 – 4 mm; nhị và vòi nhụy dài, thò ra khỏi ống hoa. Quả bế, dẹt, một mặt có 3 đường gờ, mặt kia có 1; đài tồn tại biến thành tua như mào lông; kích thước 2-2,5 × 1-1,5mm. cả 2 mặt đều có lông nhung. Toàn cây khi khô có mùi rất khó chịu. Mùa hoa tháng 5 – 6, quả tháng 6 – 8 [6] [10].

h1-1780667239.png

Hình 1. Đặc điểm hình thái của 3 mẫu giống Sì to

Ghi chú: a, mẫu giống ST1; b, mẫu giống ST2; c, mẫu giống ST3; d, thân rễ mẫu giống ST1; e, thân rễ mẫu ST2; f, thân rễ mẫu ST3; g1, mặt trên lá mẫu giống ST1; g2, mặt dưới lá mẫu giống ST1; h1, mặt trên lá mẫu giống ST2; h2, mặt dưới lá mẫu giống ST2; i1, mặt trên lá mẫu giống ST3; i2, mặt dưới lá mẫu giống ST3; j, cụm hoa mẫu giống ST3

h2-1780667239.png

Hình 2. Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả của 3 mẫu giống Sì to

Ghi chú: a, cây Sì to đang ra hoa; b, lá mẫu giống ST1 (b1, mặt trên; b2, mặt dưới; b3, cuống lá); c, lá mẫu giống ST2 (c1, mặt trên; c2, mặt dưới; c3, cuống lá); d, lá mẫu giống ST3 (d1, mặt trên; d2, mặt dưới; d3, cuống lá); e, cụm hoa mẫu giống ST1; f, cụm hoa mẫu giống ST2; g, cụm hoa mẫu giống ST3; h, cành mang quả

3.2.5. Hàm lượng hoạt chất của các mấu giống Sì to

Dưới đây là kết quả nghiên cứu thăm dò ban đầu về hóa học của 3 mẫu giống Sì to được thực hiện tại Khoa Hóa phân tích – Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu được đưa ra. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để có những thông tin cụ thể, chính xác làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

Bảng 6. Hàm lượng tinh dầu có trong các mẫu Sì to

b6-1780667088.png

Bảng 7. Kết quả định tính các mẫu tinh dầu thân rễ trên GC-MS

b7-1780667088.png

Bảng 8. Kết quả định tính các mẫu tinh dầu cành lá trên GC-MS

b8-1780667088.png

IV. KẾT LUẬN

Cả 3 mẫu giống Sì to thu thập đều sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện trồng tại vườn bảo tồn Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Sa Pa – Viện Dược liệu. Cây sinh trưởng quanh năm, có thời gian ra hoa từ tháng 3 – 7, thời gian từ trồng đến thu dược liệu từ 350 – 370 ngày. Về đặc điểm hình thái, các mẫu giống có sự khác nhau về đặc điểm hình dạng lá, màu sắc cuống lá. Trong đó, hai mẫu giống ST2 (Sa Pa – Lào Cai), ST3 (Sìn Hồ - Lai Châu) có phiến lá hình tim, đầu nhọn, trên mặt lá có lớp lông mịn, riêng mẫu giống Sì to ST1 (Bát Xát – Lào Cai) có lá hình trứng, đầu nhọn, cả 2 mặt lá có lớp lông thưa, mịn. Mẫu giống ST2 có cuống lá màu đỏ tía, các mẫu giống ST1, ST3 có cuống lá màu xanh. Kết quả nghiên cứu thăm dò về hàm lượng tinh dầu có trong các mẫu giống Sì to cho thấy hàm lượng tinh dầu có trong thân rễ và lá dao động trong khoảng từ  0,81% - 1,56%.

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu được thực hiện với sự tài trợ từ nguồn kinh phí nhiệm vụ thường xuyên của Viện Dược liệu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Afroz Patan, Alekhya K, Vijey Aanandhi M, Tharagesh K, Anish A. 2018. Valeriana jatamansi: An ethnobotanical review. Asian J Pharm Clin Res, Vol 11, Special Issue 4, 2018, 38-40.

2. Arun K. Jugran, Sandeep Rawat, Indra D. Bhatt, Ranbeer S. Rawal. 2019. Valeriana jatamansi: An herbaceous plant with multiple medicinal uses. Phytotherapy Research. 2019;1–22.

3. Yanhua Ma, Shaofei Pei, Ni He1, Qi Lai, Min Zhuang, Zhaoxiang Bian, Chengyuan Lin. 2021. A narrative review of botanical characteristics, phytochemistry and pharmacology of Valeriana jatamansi Jones. lcm.amegroups.org

4. Siyu ZhaoXiaoyun JiJunxian LiDelong HanLijiao YangYushen HuangRui TanZhiyong Yan, and Hezhong Jiang. 2025. Valeriana Jatamansi: An Overview of Phytochemistry, Pharmacology, Clinical Prospects, and Network Analysis of Drug Targets. The American Journal of Chinese MedicineVol. 53, No. 04, pp. 1027-1063 (2025).

5. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn. 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc của Việt Nam, quyển 2, trang 735, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

6. Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Lý, Nguyễn Tập, Vũ Văn Dũng, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Khắc Khôi. 2007. Sách đỏ Việt Nam. Phần II, trang 353. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

7. Nguyễn Minh Khởi, Phạm Thanh Huyền, Lê Thanh Sơn, Nguyễn Quỳnh Nga, Hoàng Văn Toán, Phan Văn Trưởng, Nguyễn Xuân Nam, Lê Văn Giỏi. 2013. Dự án sinh kế vùng cao: Nghiên cứu trồng 3 cây thuốc bản địa Ngũ gia bì gai, Sì to, Hà thủ ô đỏ trong cộng đồng các dân tộc vùng cao thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

8. Phạm Hoàng Hộ. 1999. Cây cỏ Việt Nam, Quyển 3: 228. Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM.

9. Nguyễn Nghĩa Thìn. 2007. Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Đại học Quốc gia

10. Hong Deyuan, Fred R. Barrie; , Charles D. Bell. 2011. Valerianaceae. In: Wu, Z. Y., P. H. Raven & D. Y. Hong, eds. Flora of China, Vol. 19 (Curcubitaceae through Valerianaceae with Annonaceae and Berberidaceae): 661 - 671. Science Press, Beijing, and Missouri Botanical Garden Press, St. Louis.

11. Võ Văn Chi. 2012. Từ điển cây thuốc Việt Nam. Quyển 2, trang 381. NXB Y học, Hà Nội.

EVALUATION OF AGRO-BIOLOGICAL CHARACTERISTICS AND MEDICINAL QUALITY OF SOME ACCESSIONS OF SI TO (Valeriana jatamansi Jones) CULTIVATED IN SA PA – LAO CAI

Nguyen Hai Van1, Pham Ngoc Khanh1, Chu Thi Thuy Nga1

1 Sa Pa Research Center of Medicinal Materials

ABSTRACT

Si to (Valeriana jatamansi Jones), belonging to the family Valerianaceae, has been widely used in traditional medicine in Vietnam, China, India, and other countries. In Vietnam, Valeriana jatamansi is listed in the Vietnam Red Data Book under the category EN B1+2 b,c. This indigenous medicinal plant has been traditionally used by H’Mong and Dao ethnic communities in some provinces for the treatment of high fever with convulsions, anxiety, as a tonic for postpartum women, headaches, and related conditions. The present study was conducted to establish a database on the morphological characteristics and active constituents of Valeriana jatamansi, thereby providing fundamental information to distinguish Valeriana jatamansi from other species of the genus Valeriana.

Keywords: Si to, Valeriana jatamansi Jones, morphological characteristics, Vietnam Red Data Book.

Nguyễn Hải Văn - Phạm Ngọc Khánh -  Chu Thị Thúy Nga - Trung tâm Nghiên cứu dược liệu Sa Pa