Nhớ Trường Sa

Dù đã qua hơn 10 ngày rời miền biên viễn về với đất liền, nhưng những ký ức về ở Trường Sa vẫn vẹn nguyên và đầy cảm xúc: Thương - Nhớ - Yêu - Cảm phúc những người lính đảo, những người đang cống hiến cho non sông Đất nước đầy thầm lặng và thấy rõ hơn trách nhiệm của mình mỗi sớm mai!

Mười ngày cách biệt dẫu xa xôi

Sóng vỗ Trường Sa vẫn bồi hồi

Thương hải đảo xa đầu ngọn sóng

Nhớ người lính trẻ phía chân trời

Âm thầm cống hiến thân cho nước

Lặng lẽ dâng đời sức chẳng ngơi

Trách nhiệm sớm mai lòng tự nhắc

Yêu thương hòa quyện dệt nên lời.

Trở về từ hải trình "Đường Xuân Đất Việt 2026 – Hội tụ", khi bụi muối vẫn còn vương trên mái tóc và nhịp sóng Biển Đông vẫn như còn dập dềnh trong huyết quản, những vần thơ thất ngôn bát cú "Trường Sa – Ký ức vẹn nguyên" ra đời không phải từ một sự sắp đặt câu chữ, mà từ sự vỡ òa của những trái tim trong cuộc. Với tâm thế của những người vừa bước ra từ bão táp cấp 8, nơi những cột sóng cao như bức tường thành đổ ập xuống boong tàu, mỗi niêm luật Đường luật bỗng trở thành một chiếc khung vững chãi để nén lại nỗi nhớ và sự cảm phục khôn nguôi dành cho những "cột mốc sống" nơi tiền tiêu lộng gió.

2aa6b1ef1cd69288cbc7-1771819755.jpg

Tác giả bài viết đứng ngoài cùng bên trái

Mở đầu hải trình tâm tưởng ấy là một sự xác lập đầy ám ảnh về không gian và thời gian qua hai câu đề: “Mười ngày cách biệt dẫu xa xôi / Sóng vỗ Trường Sa vẫn bồi hồi”. Cái hay ở đây không nằm ở kỹ thuật đối từ, mà ở sự thức tỉnh của ký ức. Mười ngày ở đất liền với những tiện nghi phố thị không đủ sức làm nhòa đi dư chấn của biển cả. Chữ “bồi hồi” không còn là một tính từ trừu tượng, nó là nhịp đập của hệ tiền đình sau những ngày bị "nhồi lắc", là sự xao động liên tục của những tâm hồn đã rời xa nhưng vẫn tình nguyện để lại một phần máu thịt nơi đảo xa. Chính sự vắng cách địa lý lại trở thành chất xúc tác, đẩy nỗi nhớ lên thành một thực thể sống động, không ngừng vỗ về trong lòng người trở về.

Đi sâu vào mạch cảm xúc, bài thơ phác họa chân dung những người lính đảo qua những đường nét chấm phá đầy bi tráng: “Thương hải đảo xa đầu ngọn sóng / Nhớ người lính trẻ phía chân trời”. Hình ảnh "đầu ngọn sóng" hiện lên như một thực cảnh nghiệt ngã, nơi những con thuyền thúng của ngư dân mong manh như chiếc lá khô giữa đại dương hay những người lính như Trung tá Nguyễn Văn Huy, chiến sĩ Lê Duy Linh đang bền bỉ bám trụ. Sự kết nối tâm giao giữa người viết và những người ở lại được tạc vào cặp câu thực và luận với một vẻ đẹp tĩnh lặng đến nghẹt thở: “Âm thầm cống hiến thân cho nước / Lặng lẽ dâng đời sức chẳng ngơi”. Ở đây, cái “âm thầm” và “lặng lẽ” không phải là sự yếu mềm, mà là bản lĩnh thép của những người đã chuyển hóa nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ thành sức mạnh giữ súng. Nó gợi nhắc về những kíp trực chiến không một phút ngơi nghỉ, về những nụ cười hiền hậu của người chiến sĩ giữa nắng cháy sạm, đổi mồ hôi lấy sự bình yên cho Tổ quốc.

Toàn bộ mạch cảm xúc cuộn trào ấy cuối cùng được kết tinh và "điểm nhãn" bằng một lời tự thệ ở hai câu kết: “Trách nhiệm sớm mai lòng tự nhắc / Yêu thương hòa quyện dệt nên lời”. Đây không còn là lời bình văn chương, mà là tiếng lòng của người trong cuộc. Chữ “tự nhắc” mang tính phản biện nội tâm mạnh mẽ, tái hiện khoảnh khắc chia ly đầy giằng xé trên cầu cảng khi những cánh tay vẫy mãi theo con tàu khuất bóng. Cái gật đầu của người đi và ánh mắt sâu thẳm của người ở lại đã hòa quyện thành một thông điệp rõ ràng: Yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà là bổn phận.

Hải trình Xuân 2026 khép lại, nhưng dư âm của những vần thơ này vẫn cuộn trào như những đợt sóng vỗ vào ghềnh đá san hô. Đó là sự khẳng định chủ quyền không chỉ bằng súng đạn, mà bằng văn hóa, bằng tiếng chuông chùa thong dong và bằng một tình yêu Tổ quốc luôn vẹn nguyên trong từng hơi thở mỗi sớm mai.

VNX.23.02.2026