Kết quả cho thấy sò huyết Cà Mau có kích thước lớn hơn, hình dạng đồng đều, màu sắc huyết đỏ tươi và tỷ lệ thịt cao hơn so với các vùng đối chứng. Về chất lượng, hàm lượng nước trong thịt sò huyết Cà Mau (85,39%) thấp hơn so với Kiên Giang (89,79%) và Bạc Liêu (87,41%), trong khi hàm lượng protein và khoáng chất cao hơn. Sự khác biệt này được giải thích bởi điều kiện sinh thái đặc thù của Cà Mau, bao gồm độ mặn ổn định, nền đáy bùn giàu hữu cơ và hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển.
Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của điều kiện địa lý trong việc hình thành chất lượng đặc thù của sò huyết Cà Mau, góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm này.
Từ khóa: Sò huyết Cà Mau, chỉ dẫn địa lý, đặc thù, chất lượng sò huyết
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Cà Mau nằm ở cực nam của Việt Nam với đường bờ biển dài khoảng 254 km, trong đó bờ biển Đông dài khoảng 107 km và bờ biển Tây dài khoảng 147 km. Khu vực này chủ yếu là vùng đất thấp, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều và có hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng. Thảm thực vật tự nhiên phong phú với rừng tràm, rừng ngập mặn gồm các loài sú, vẹt, đước cùng nhiều loài thực vật hoang dã khác. Vùng địa lý Cà Mau có hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng chiếm khoảng 77% diện tích rừng ngập mặn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phân bố dọc theo bờ biển. Bên trong nội địa là hệ sinh thái rừng tràm tập trung tại các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình và Năm Căn với diện tích trên 35.000 ha. Sự phân bố của hệ sinh thái rừng tràm và lớp thảm mục hữu cơ từ lá tràm rụng đã góp phần tạo nên đặc điểm màu nước sẫm đặc trưng của vùng này.
Sò huyết (Anadara granosa hoặc A. nodifera) là loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế cao, phân bố phổ biến tại các vùng bãi triều ven biển nhiệt đới. Loài này có vỏ dày hình bầu dục, hai mảnh vỏ tương đối bằng nhau; bề mặt vỏ có từ 20–21 gờ phóng xạ với các hạt hình chữ nhật đặc trưng. Mặt ngoài vỏ thường có màu nâu sẫm, trong khi mặt trong có màu trắng sứ. Kích thước cá thể trưởng thành thường đạt chiều dài khoảng 50–60 mm và chiều cao khoảng 40–50 mm. Sò huyết là một trong số ít loài nhuyễn thể có sắc tố huyết sắc tố trong máu, tạo nên màu đỏ đặc trưng.
Tại Cà Mau, sò huyết được ghi nhận xuất hiện và khai thác từ khoảng thập niên 1950, đặc biệt tại khu vực bãi Ông Trang (thuộc quận An Xuyên trước đây). Điều kiện tự nhiên của vùng bãi triều nơi đây có sự giao thoa giữa nguồn nước mặn và nước ngọt, cùng với nguồn thức ăn tự nhiên phong phú từ các loài vi tảo và sinh vật phù du. Những yếu tố sinh thái đặc thù này được cho là góp phần tạo nên chất lượng đặc trưng của sò huyết Cà Mau, với kích thước lớn, thịt dày và hàm lượng huyết cao. Bên cạnh giá trị kinh tế, sò huyết Cà Mau còn gắn liền với đời sống văn hóa và ẩm thực địa phương, đồng thời thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong nghiên cứu về điều kiện môi trường và sinh thái ảnh hưởng đến nguồn lợi loài này. Chính những yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên, môi trường và con người vùng nuôi sò huyết ở Cà Mau đã mang đến người tiêu dùng những cảm nhận khác biệt của sản phẩm.
II.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 06 năm 2024 với vùng nuôi sò huyết tại các địa điểm thuộc
huyện Ngọc Hiển, huyện Năm Căn, huyện Đầm Dơi, huyện Cái Nước, huyện Phú Tân, huyện Trần Văn Thời và một phần ở thành phố Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau cũ. Đối tượng khảo sát gồm đất bùn ao nuôi, môi trường nước ao nuôi và sò huyết con tươi sống tại các vùng nuôi sỏ của tỉnh Cà Mau.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập có chọn lọc từ các cơ quan nghiên cứu, các sở, ban ngành cấp tỉnh và cấp huyện trong vùng nghiên cứu. Các nguồn tài liệu bao gồm báo cáo chuyên ngành, số liệu thống kê, bản đồ về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, cũng như các tài liệu liên quan đến đất đai, khí hậu và môi trường của khu vực nghiên cứu.
Các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài được tổng hợp từ sách chuyên khảo, báo cáo khoa học, bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước nhằm làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu, bao gồm quan sát trực tiếp, ghi chép hiện trạng, đồng thời tiến hành phỏng vấn và trao đổi với lãnh đạo địa phương, cán bộ chuyên môn và người dân bằng phiếu điều tra.
Dữ liệu tra cứu lịch sử dựa trên việc tổng hợp và phân tích các nguồn tư liệu lịch sử để làm rõ các điều kiện hình thành, quá trình sản xuất và phương thức sản xuất của cộng đồng dân cư trong vùng nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp chuyên gia
Nghiên cứu tiến hành tập hợp đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia và nhà quản lý có kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan đến sản phẩm sò huyết nhằm mô tả, đánh giá đặc điểm sản phẩm và phân tích quy trình hình thành các yếu tố đặc thù của sản phẩm. Thông qua thảo luận chuyên gia, các ý kiến được tổng hợp để đề xuất quy trình nuôi sò huyết theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết tại tỉnh Cà Mau.
2.2.3. Đánh giá cảm quan
Việc đánh giá cảm quan được thực hiện thông qua các phương pháp phân biệt và phương pháp mô tả. Các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan tham gia đánh giá, phân biệt và mô tả các đặc tính cảm quan của sản phẩm, trong khi nhóm người tiêu dùng được khảo sát nhằm đánh giá mức độ chấp nhận, thị hiếu và tâm lý sử dụng đối với sản phẩm sò huyết.
2.2.4. Phương pháp thu mẫu
Khu vực nghiên cứu chủ yếu thuộc vùng đồng bằng với điều kiện địa hình và đặc điểm phân bố tương đối đồng nhất. Vì vậy, việc lấy mẫu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có tham chiếu các tiêu chuẩn quốc gia về điều tra và lấy mẫu đất.
Mẫu sò huyết: Thu thập mẫu sò huyết ở độ tuổi thu hoạch ngay tại vùng nuôi của địa phương để xác định chỉ tiêu cảm quan, hình thái và phân tích mẫu chất lượng sò huyết. Tổng số lượng mẫu sò huyết tươi thu thập là 50 mẫu. Trong đó, tại Cà Mau là 30 mẫu sò huyết tươi; Kiên Giang là 10 mẫu sò huyết tươi; Bạc Liêu là 10 mẫu sò huyết tươi. Quy định lấy mẫu sò huyết được tham chiếu phương pháp Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5276-90 và tại khoản 2 Điều 7 Thông tư 24/2022/TT-BNNPTNT có quy định về việc lấy mẫu và xét nghiệm mẫu đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản.
2.2.5. Phương pháp phân tích mẫu
Phân tích các chỉ tiêu chất lượng sò huyết gồm Protein (TCVN 3705-90), chất béo (TCVN 3703-2009), Canxi (TCVN1526-86), chất sắt (TCVN 6352:1998), hàm lượng nước trong thịt (TCVN 10109:2013), axit béo không bão hòa (TCVN 9677:2013 ISO 7847:1987).
III.KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng nuôi sò huyết và đặc điểm khác biệt của tỉnh Cà Mau
Năm 2020, diện tích nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau là 299.444 ha, giảm 5.577 ha, giảm 1,83% so với năm 2019; trong đó: diện tích nuôi thâm canh 8.416 ha, giảm 3.684 ha, giảm 30,45% so với năm 2019; diện tích nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 291.028 ha, giảm 1.893 ha, giảm 0,65% so với năm 2019. Diện tích nước ngọt 30.030 ha, giảm 5.122 ha, giảm 14,57% so với năm 2019; diện tích nước lợ 269.252 ha, giảm 617 ha, giảm 0,23% so với năm 2019; diện tích nước mặn 162 ha (Theo nguồn Niên giám Thống kê tỉnh Cà Mau, 2020).
Sò huyết Cà Mau Anadara granosa phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Tây bán đảo Cà Mau và chúng thường phân bố trong đáy bùn gần bờ và di chuyển xuống sâu hơn vùng đáy cát bùn và cát trong quá trình tăng trưởng lớn lên. Nguồn giống sò huyết tập trung các bãi bồi hai bên các cửa sông với mùa vụ xuất hiện từ khoảng tháng 1 đến tháng 3 âm lịch hàng năm. Từ năm 2007, nhiều hộ dân địa phương có đất vuông tôm ở Ðông Thới manh nha học cách bắt sò huyết con về nuôi ở ao chung với tôm, dần dần lan rộng qua một số vùng lân cận. Đến năm 2010, mô hình nuôi sò huyết bắt đầu xuất hiện rải rác ở một số xã: Đông Thới (huyện Cái Nước); Tân Đức, Tân Thuận, Thanh Tùng, Nguyễn Huân (huyện Đầm Dơi); Hòa Tân (TP. Cà Mau) và các xã thuộc huyện Năm Căn, Ngọc Hiển. Tuy nhiên, các hộ dân chủ yếu nuôi thử nghiệm, nhỏ lẻ, khi ấy diện tích nuôi sò huyết toàn tỉnh dao động 1.500 - 2.000ha.
Từ năm 2012, với sự phát triển mô hình địa phương và được sự hỗ trợ của cơ quan chức năng địa phương để giúp người dân nuôi sò huyết đạt hiệu quả cao; thành lập tổ hợp tác nuôi sò huyết thương phẩm như tổ hợp tác Như Ý, Nhà Thính B. Từ đó, người dân trong vùng Cà Mau nói chung và huyện Trần Văn Thời nói riêng bắt đầu mô hình nuôi sò huyết trong điều kiện nguồn nước và môi trường tự nhiên của vùng hiệu quả.
Với tiềm năng phát triển mô hình nuôi sò huyết cùng với ao tôm, cua đã được phát triển mạnh tại các huyện của tỉnh Cà Mau trên diện tích mặt nước lớn. Cụ thể, năm 2020, diện tích mặt nước nuôi thủy sản lớn nhất tại huyện Đầm Dơi là 65.672 ha; huyện Thới Bình là 49.848 ha; huyện Phú Tân là 37.348 ha; huyện Cái Nước là 30.680 ha; huyện Năm Căn là 25.668 ha; huyện Ngọc Hiển là 22.553 ha; huyện U Minh là 25.879 ha, huyện Trần Văn Thời là 28.534 ha và thành phố Cà Mau là 12.136 ha.
Đến năm 2025, các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển là những địa phương có diện tích và số hộ nuôi sò huyết nhiều trong tỉnh hiện nay, một phần ít tập trung vài xã của thành phố Cà Mau, huyện Trần Văn Thời. Xã Đông Thới (huyện Cái Nước) được xem là nơi hình thành và phát triển mô hình nuôi sò huyết khá sớm và quy mô lớn so với các địa phương trong tỉnh.
3.2. Đặc điểm khác biệt về hình thái cảm quan của sò huyết của tỉnh Cà Mau
Kết quả đánh giá hình thái cảm quan của Hội đồng chuyên gia đối với mẫu sò huyết của vùng địa lý Cà Mau và vùng mẫu tại Kiên Giang và Bạc Liêu. Đây là loại sò huyết thuộc giống sò A.granosa, có thân sò tròn, kích thước thân sò tương đối đồng đều.
Về màu sắc, sò huyết vùng địa lý Cà Mau có màu đỏ tươi và lượng nhiều. Trong khi đó, ở Kiên Giang, dịch huyết có màu đỏ hơi nhạt và lượng huyết ít. Vùng Bạc Liêu, sò huyết có dịch màu đỏ nhạt, lượng huyết ít.
Về hình dạng, sò huyết tươi Cà Mau có thân sò tròn, kích thước thân sò tương đối đồng đều, gờ phóng xạ phát triển, có từ 1 đến 2 vòng sinh trưởng rõ nét. Còn ở Kiên Giang, thân sò hơi dẹp, kích thước sò khai thác không đồng đều nhau, có 1 vòng sinh trưởng, không rõ nét. Tương tự đối với vùng Bạc Liêu, thân sò hơi dẹp, kích thước sò nhỏ, khai thác không đồng đều nhau, đa số có 1 vòng sinh trưởng màu đen, không rõ nét.

Hình 1. Hình ảnh so sánh sò huyết tươi của tỉnh Cà Mau và vùng đối chứng

Hình 2. Phân bố kích thước chiều dài con sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng Hình 3. Phân bố kích thước chiều rộng con sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứn

Hình 4. Phân bố tỉ lệ phần thịt và dịch con sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng Hình 5. Phân bố số gờ con sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy sò huyết tại vùng địa lý Cà Mau có kích thước chiều dài trung bình lớn hơn rõ rệt so với các vùng đối chứng. Cụ thể, chiều dài trung bình đạt 35,52 mm (dao động 35,22–35,83 mm), trong khi giá trị này tại Kiên Giang và Bạc Liêu lần lượt là 29,01 mm (28,66–29,36 mm) và 28,84 mm (28,33–29,35 mm). Đồng thời, phân bố kích thước của mẫu sò huyết Cà Mau có xu hướng tập trung hơn, thể hiện mức độ đồng đều cao hơn so với hai vùng còn lại. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận đối với chỉ tiêu chiều rộng. Sò huyết Cà Mau có chiều rộng trung bình đạt 25,20 mm (24,92–25,47 mm), cao hơn đáng kể so với Kiên Giang (18,64 mm; 18,06–19,23 mm) và Bạc Liêu (19,38 mm; 19,06–19,71 mm). Sự khác biệt này không chỉ phản ánh ưu thế về kích thước mà còn cho thấy tính đồng nhất về hình thái của quần thể sò huyết tại Cà Mau.
Về tỷ lệ phần thịt và dịch huyết, kết quả cho thấy sò huyết Cà Mau đạt giá trị trung bình 30,83% (30,62–31,03%), cao hơn so với Kiên Giang (trung bình 28,69%; dao động từ 27,56–29,81%) và Bạc Liêu (trung bình 29,58%; dao động từ 28,56–30,60%). Đáng chú ý, các mẫu tại Cà Mau có độ phân tán thấp hơn, thể hiện qua khoảng dao động hẹp, cho thấy tính ổn định và đồng đều cao hơn về mặt sinh khối hữu ích.
Ngoài ra, đặc điểm hình thái về số gờ phóng xạ cũng thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng. Sò huyết Cà Mau có số gờ dao động từ 20–21 gờ, nhiều hơn và rõ nét hơn so với sò huyết tại Kiên Giang và Bạc Liêu (17–18 gờ). Đặc điểm này góp phần tạo nên dấu hiệu nhận diện hình thái đặc trưng của sò huyết vùng địa lý Cà Mau.
Tổng hợp các kết quả cho thấy sò huyết Cà Mau không chỉ vượt trội về kích thước mà còn có mức độ đồng đều cao và tỷ lệ phần thịt lớn hơn, phản ánh điều kiện sinh thái thuận lợi và ổn định của vùng nuôi.
Như vậy, về hình thái, cảm quan của sò huyết Cà Mau được đánh giá như sau:
+ Hình dạng: Sò huyết tươi Cà Mau có thân sò tròn, kích thước thân sò tương đối đồng đều, gờ phóng xạ phát triển, có từ 1 đến 2 vòng sinh trưởng rõ nét.
+ Màu sắc: huyết màu đỏ tươi và lượng nhiều.
3.3. Đặc điểm khác biệt về chất lượng sò huyết của tỉnh Cà Mau
Qua kết quả phân tích 30 mẫu sò huyết vùng địa lý Cà Mau tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm thành phố Hồ Chí Minh, kết quả phân tích thành phần hóa học của mẫu sò huyết tươi tại Cà Mau cho thấy sự phân bố tương đối ổn định giữa các chỉ tiêu dinh dưỡng.
Đối với các thành phần dinh dưỡng chính, hàm lượng protein trung bình đạt 10,19% (8,87–11,50%), trong khi hàm lượng lipid ở mức thấp, trung bình 0,81% (0,56–1,05%). Kết quả này phản ánh đặc trưng của nhóm nhuyễn thể hai mảnh vỏ với hàm lượng đạm tương đối cao và lipid thấp.
Hàm lượng nước trong thịt sò huyết đạt trung bình 85,39% (83,52–87,26%), với khoảng biến thiên từ 81,70% đến 88,90%, cho thấy mức độ ổn định tương đối của chỉ tiêu này trong điều kiện môi trường nghiên cứu.
Tổng thể, các kết quả cho thấy sò huyết Cà Mau có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt về protein và khoáng chất, đồng thời thể hiện mức độ biến động thấp ở phần lớn các chỉ tiêu, phản ánh tính ổn định của điều kiện sinh thái vùng nuôi.
Bảng 1. Thống kê hàm lượng các chất có trong thịt và dịch sò huyết sò huyết tươi

3.4. So sánh chất lượng của sò huyết tươi Cà Mau và các vùng đối chứng
3.4.1. Canxi

Hình 6. Phân bố hàm lượng Canxi của sò huyết tươi Cà Mau và vùng đối chứng (Kiên Giang, Bạc Liêu)
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng canxi trong sò huyết tươi tại Cà Mau cao hơn rõ rệt so với các vùng đối chứng. Cụ thể, giá trị trung bình tại Cà Mau đạt 166,6 mg/100 g, với khoảng dao động từ 112,97–219,84 mg/100 g. Trong khi đó, hàm lượng canxi trung bình ở Kiên Giang và Bạc Liêu lần lượt là 119,26 mg/100 g và 112,91 mg/100 g.
Sự chênh lệch này cho thấy sò huyết Cà Mau có khả năng tích lũy canxi vượt trội hơn so với hai vùng còn lại. Đồng thời, khoảng dao động của mẫu tại Cà Mau phản ánh mức độ biến thiên nhưng vẫn duy trì xu hướng giá trị cao hơn một cách nhất quán. Kết quả này góp phần khẳng định sự khác biệt về thành phần khoáng chất của sò huyết giữa các vùng địa lý.
3.4.2. Sắt

Phân bố hàm lượng Sắt của sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng sắt trong sò huyết tươi tại Cà Mau có sự khác biệt giữa các vùng nghiên cứu. Cụ thể, hàm lượng sắt trung bình tại Cà Mau đạt 13,4 mg/100 g, cao hơn đáng kể so với Bạc Liêu (9,8 mg/100 g), với mức chênh lệch khoảng 3,6 mg/100 g. So với Kiên Giang, hàm lượng sắt tại Cà Mau (13,4 mg/100 g) thấp hơn không đáng kể so với giá trị trung bình 13,5 mg/100 g.
Kết quả này cho thấy hàm lượng sắt trong sò huyết Cà Mau tương đương với vùng Kiên Giang nhưng vượt trội hơn so với Bạc Liêu. Sự khác biệt giữa các vùng có thể phản ánh ảnh hưởng của điều kiện môi trường và đặc điểm sinh thái đến khả năng tích lũy vi khoáng trong cơ thể sò huyết.
3.4.3. Kẽm (Zn)

Phân bố hàm lượng Kẽm của sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng kẽm trong sò huyết tươi tại Cà Mau cao hơn so với các vùng đối chứng. Cụ thể, giá trị trung bình tại Cà Mau đạt 1,76 mg/100 g, cao hơn so với Kiên Giang (1,31 mg/100 g) và Bạc Liêu (1,42 mg/100 g), với mức chênh lệch lần lượt là 0,45 mg/100 g và 0,34 mg/100 g.
Sự khác biệt này cho thấy sò huyết Cà Mau có khả năng tích lũy kẽm tốt hơn so với các vùng còn lại. Đồng thời, kết quả cũng phản ánh xu hướng khác biệt về thành phần vi khoáng giữa các vùng địa lý, có thể liên quan đến điều kiện môi trường và nguồn dinh dưỡng đặc trưng của từng khu vực nuôi.
3.4.4. Chất béo

Hình 9. Phân bố hàm lượng chất béo của sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng chất béo trong sò huyết tươi tại Cà Mau có sự khác biệt so với các vùng đối chứng. Cụ thể, hàm lượng chất béo trung bình tại Cà Mau đạt 0,81%, cao hơn so với Kiên Giang (0,50%) với mức chênh lệch 0,31%, nhưng thấp hơn so với Bạc Liêu (0,96%) khoảng 0,15%.
Kết quả này cho thấy hàm lượng lipid trong sò huyết Cà Mau ở mức trung gian so với hai vùng còn lại. Sự khác biệt về hàm lượng chất béo giữa các vùng có thể liên quan đến điều kiện dinh dưỡng, nguồn thức ăn tự nhiên và đặc điểm môi trường sinh thái của từng khu vực nuôi.
3.4.5. Hàm lượng nước (trong thịt và dịch huyết)

Hình 10. Phân bố hàm lượng nước trong thịt và dịch huyết của sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng nước trong thịt sò huyết tươi tại Cà Mau thấp hơn rõ rệt so với các vùng đối chứng. Cụ thể, giá trị trung bình tại Cà Mau đạt 85,39%, thấp hơn so với Kiên Giang (89,71%) và Bạc Liêu (87,41%), với mức chênh lệch lần lượt là 4,32% và 2,02%.
Sự khác biệt này phản ánh xu hướng tích nước thấp hơn trong mô thịt của sò huyết Cà Mau, qua đó góp phần làm tăng độ săn chắc và cải thiện chất lượng cảm quan của sản phẩm. Đồng thời, kết quả cũng cho thấy ảnh hưởng đáng kể của điều kiện môi trường và đặc điểm sinh thái vùng nuôi đến hàm lượng nước trong thịt sò huyết.
3.4.6. Protein

Hình 11. Phân bố hàm lượng Protein của sò huyết tươi vùng Cà Mau và vùng đối chứng
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng protein trong sò huyết tươi tại Cà Mau cao hơn so với các vùng đối chứng. Cụ thể, giá trị trung bình tại Cà Mau đạt 10,19%, cao hơn so với Kiên Giang (7,48%) và Bạc Liêu (9,57%), với mức chênh lệch lần lượt là 2,71% và 0,62%.
Sự khác biệt này cho thấy sò huyết Cà Mau có hàm lượng protein vượt trội hơn, phản ánh giá trị dinh dưỡng cao hơn so với các vùng còn lại. Đồng thời, kết quả cũng gợi ý mối liên hệ giữa điều kiện sinh thái vùng nuôi và khả năng tích lũy protein trong mô thịt sò huyết.
Bảng 2. So sánh hàm lượng chất dinh dưỡng của sò huyết tươi Cà Mau và vùng đối chứng

Ghi chú: (*): Số liệu ghi trên bảng là giá trị trung bình
Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng cho thấy sò huyết nuôi và thu hoạch tại vùng địa lý Cà Mau có những đặc điểm khác biệt rõ rệt so với các vùng đối chứng (Kiên Giang và Bạc Liêu), thể hiện tính đặc thù của sản phẩm.
Cụ thể, sò huyết Cà Mau có hàm lượng canxi cao hơn, với giá trị đặc trưng đạt từ ≥112,97 mg/100 g, phản ánh khả năng tích lũy khoáng chất vượt trội. Tương tự, hàm lượng kẽm cũng cao hơn so với các vùng đối chứng, với giá trị đặc trưng từ ≥1,57 mg/100 g, cho thấy sự khác biệt về thành phần vi khoáng.
Ngược lại, hàm lượng nước trong thịt sò huyết Cà Mau thấp hơn so với Kiên Giang và Bạc Liêu, với giá trị ≤87,26%, thể hiện xu hướng giảm tích nước trong mô. Đặc điểm này góp phần làm tăng độ săn chắc và nâng cao chất lượng cảm quan của sản phẩm.
Tổng thể, các kết quả trên khẳng định sò huyết Cà Mau mang những đặc trưng riêng biệt về thành phần dinh dưỡng và cấu trúc thịt, có mối liên hệ chặt chẽ với điều kiện sinh thái đặc thù của vùng nuôi, qua đó tạo cơ sở khoa học cho việc xác lập và bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm này.
IV.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện địa lý có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng nước trong thịt sò huyết. Cụ thể, sò huyết tại Cà Mau có hàm lượng nước trung bình thấp hơn (85,39%) so với các vùng đối chứng như Kiên Giang (89,79%) và Bạc Liêu (87,41%). Sự khác biệt này phản ánh vai trò của các yếu tố sinh thái đặc thù tại Cà Mau, bao gồm độ mặn tương đối ổn định, nền đáy bùn giàu hữu cơ và hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển.
Điều kiện môi trường ổn định góp phần hạn chế sự tích nước trong mô, qua đó làm cho thịt sò huyết Cà Mau có cấu trúc săn chắc hơn, đồng thời làm tăng tương đối hàm lượng các chất dinh dưỡng như protein và khoáng. Ngược lại, tại các vùng có độ mặn biến động và điều kiện thủy văn kém ổn định hơn, sò huyết có xu hướng tích nước cao hơn, dẫn đến thịt mềm và chất lượng cảm quan thấp hơn.
Như vậy, có thể khẳng định rằng đặc điểm địa lý – sinh thái của vùng nuôi là yếu tố quan trọng quyết định đến hàm lượng nước và chất lượng thịt sò huyết, góp phần tạo nên tính đặc thù và giá trị khác biệt của sản phẩm sò huyết Cà Mau trong mối tương quan với các vùng lân cận.
4.2. Kiến nghị
Với tính chất cảm qua, đặc trưng về chất lượng sò huyết ở vùng địa lý Cà Mau sẽ là cơ sở khoa học để xác định đặc thù sản phẩm và đăng ký chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Trung Kỳ và ctv. Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống sò huyết A. granosa (Linnaeus, 1758). Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III.
2. Lưu Xuân Hòa. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái đầm phá Việt Nam. Tạp chí Khoa học công nghệ.
3. Ngô Trọng Lư. Kỹ thuật nuôi ngao, nghêu, sò huyết, trai ngọc. NXB Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh.
4. Ngô Thị Thu Thảo & Lâm Như Anh. (2024). Phân tích kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi sò huyết trong ao tại tỉnh Cà Mau. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 22(6), 729-738.
5. Ngô Thị Thu Thảo, Bùi Nhựt Thành và Lê Văn Bình (2018). Kiểu sục khí và nền đáy tác động đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của sò huyết (Anadara granosa) giai đoạn giống. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 54(9B), 117-123.https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2018.188.
6. Nguyễn Chính. (1996). Một số loài động vật thân mềm (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
7. Nguyễn Chính, Trần Mạnh Tuấn, Trần Thị Kim Cúc (2005). Động vật thủy sản thân mềm thường gặp ở Việt Nam. Bộ Thủy sản.
8. Nguyễn Thị Thúy Quyên, Lê Thị Thảo, Trần Phan Nhân, La Xuân Thảo (2022). Ảnh hưởng của chất đáy và mật độ ương lên tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng sò huyết trong ao lót bạt (Anadara granosa Linnaeus, 1758). Tạp chí Nghề cá ĐBSCL, (23).
9. PGs. Ts. Nguyễn Thanh Phương PGs. Ts. Trần Ngọc Hải PGs. Ts. Dương Nhựt Long (2009). Giáo trình nuôi trồng thủy sản. Trường Đại học Cần Thơ.
10. Nguyễn Văn Giang & Phạm Thị Anh (2020). Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của sò huyết Anadara granosa từ ấu trùng sôi nổi đến sò giống cấp 2 trong ao đất. Chuyên san Khoa học tự nhiên.
Sensory characteristics and specific quality attributes of Ca Mau blood cockles in the establishment of geographical indication registration
Le Minh Chau, Mai Thanh Truc, LeTruong Binh, Dang Minh Nguyet
Abstract
This study aimed to evaluate the sensory characteristics and specific quality attributes of blood cockles (Anadara granosa) from Ca Mau province in relation to geographical conditions, serving the establishment of geographical indication protection. A total of 50 fresh cockle samples were collected, including 30 samples from Ca Mau and 20 samples from reference regions (Kien Giang and Bac Lieu, 10 samples each). The evaluated parameters included morphological and sensory characteristics, as well as chemical composition such as moisture, protein, lipid, minerals (Ca, Fe, Zn), vitamins, and unsaturated fatty acids following Vietnamese standards (TCVN).
The results indicated that blood cockles from Ca Mau exhibited larger size, more uniform morphology, brighter red hemolymph, and higher meat yield compared to those from reference regions. In terms of quality, the moisture content of Ca Mau cockles (85.39%) was lower than that of Kien Giang (89.79%) and Bac Lieu (87.41%), while protein and mineral contents were higher. These differences can be attributed to the distinctive ecological conditions of Ca Mau, including stable salinity, organic-rich muddy substrates, and well-developed mangrove ecosystems.
The findings confirm the significant role of geographical conditions in shaping the unique quality of Ca Mau blood cockles, providing a scientific basis for the development and protection of their geographical indication.
Thông tin liên hệ tác giả:
ThS. Lê Minh Châu
Điện thoại: 0918 908 402
Email: lechauminh@gmail.com