Từ các phòng nghiên cứu đến Văn phòng Chính phủ, các nhà toán học đầu ngành không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết thuần túy mà đã dấn thân giải quyết những bài toán lớn của công nghiệp, nông nghiệp và quản lý vĩ mô. Nhìn nhận lại tiến trình lịch sử này dưới lăng kính hệ thống không chỉ giúp tri ân những thế hệ tiên phong mà còn cung cấp những bài học thực tiễn vô giá cho công cuộc đổi mới sáng tạo trong nhịp sống mới, nơi tri thức khoa học được kỳ vọng sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy sự bứt phá của quốc gia.
Hành trình ấy khởi nguồn từ giai đoạn 1960-1975, khi các nhà khoa học xuất sắc nước nhà sau khi học tập từ Liên Xô và Đông Âu trở về đã mang theo khát vọng ứng dụng toán học hệ thống vào quản lý kinh tế. Tiêu biểu như Giáo sư Hoàng Tụy, người được ghi nhận là đưa vận trù học vào Việt Nam, đã chuyển hướng từ nghiên cứu giải tích thuần túy sang vận trù học nhằm giải quyết các bài toán tối ưu hóa thực tế của đất nước.
Tiếp nối dòng chảy đó, Giáo sư Phan Đình Diệu và Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thúc Loan đã dẫn dắt các hướng nghiên cứu trọng điểm về lý thuyết automat, điều khiển tối ưu và xây dựng hệ thống tự động hóa trong nông nghiệp và công nghiệp, tiêu biểu như các mô hình triển khai tại các huyện Thanh Oai, Ba Vì, Mỹ Đức hay tại cảng Hải Phòng.
Song song với các nỗ lực nghiên cứu, nhận định rõ tầm quan trọng sống còn của toán ứng dụng và máy tính điện tử, những bậc trí thức lớn như Giáo sư Tạ Quang Bửu và Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã có tầm nhìn chiến lược khi chủ trương xây dựng đội ngũ khoa học ngay trong nước. Quyết định thành lập Khoa Toán - Lý tại Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm học 1968-1969 để đào tạo đội ngũ kỹ sư toán công trình chính là cầu nối chiến lược, đóng vai trò cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, kết nối chặt chẽ giữa toán học, kỹ thuật và công nghệ máy tính, tạo ra lớp chuyên gia đầu tiên am hiểu sâu sắc về vận hành hệ thống phức tạp, đặt nền móng vững chắc cho văn hóa đổi mới sáng tạo quốc gia.
Bước sang giai đoạn 1975-1982, công tác thể chế hóa các lĩnh vực nghiên cứu khoa học hệ thống được đẩy mạnh cùng với sự ra đời của Viện Khoa học Việt Nam. Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển khi đó đã triển khai đồng bộ các hướng nghiên cứu từ điều khiển lý thuyết, điều khiển kinh tế đến kỹ thuật tự động, khẳng định tầm quan trọng của việc hội tụ giữa tính toán và điều khiển.
Đáng chú ý, Quyết định 131-CP ngày 29 tháng 4 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ đã chính thức xếp điều khiển học vào nhóm liên ngành toán học, máy tính, điều khiển học và cơ học lý thuyết, tạo hành lang pháp lý và vị thế xứng đáng cho lĩnh vực này trong hệ thống khoa học quốc gia.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh đất nước bị cấm vận và nguồn lực hạ tầng vô cùng hạn chế, dưới sự chỉ đạo tâm huyết của Giáo sư Phan Đình Diệu, nhóm các nhà khoa học trẻ đã tự thiết kế, lắp ráp thành công các dòng máy vi tính nội địa như VT80, VT81, VT82, đồng thời tự viết hệ điều hành và phát triển ngôn ngữ lập trình BASIC Đồi Thông.
Đây là minh chứng cho nội lực, trí tuệ và khát vọng tự chủ công nghệ của khoa học Việt Nam thuở ban đầu, vượt lên trên những thách thức của thời đại để khẳng định giá trị thực tiễn trong công tác tính toán khoa học và quản lý kinh tế, cho thấy sức sáng tạo có thể được phát huy ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.
Tuy nhiên, việc đánh giá giai đoạn lịch sử này dưới góc độ hệ thống đòi hỏi một sự khách quan khoa học đa chiều, nhìn nhận rõ cả những thành tựu lẫn những giới hạn tất yếu của hoàn cảnh lịch sử. Sự thành công của giai đoạn này không chỉ nằm ở các công thức toán học hay các mô hình tính toán thô sơ, mà nằm ở phương pháp luận giải quyết vấn đề, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết trừu tượng và thực tiễn sản xuất.
Do điều kiện lịch sử khách quan của cơ chế quản lý và sự thiếu thốn hạ tầng kỹ thuật thời bấy giờ, nhiều mô hình quản lý và tự động hóa chưa thể phát huy toàn bộ tiềm năng kinh tế thị trường, đôi khi gặp phải lực cản từ cơ chế hành chính quan liêu. Dù vậy, giá trị để lại không nằm ở quy mô tức thời mà là nền móng tư duy hệ thống, tinh thần dám nghĩ, dám làm và bài học sâu sắc về sự chủ động công nghệ nội sinh.
Việc thiếu vắng các công cụ tính toán hiện đại khi đó đã được bù đắp bằng ý chí tự lực, tự cường và tư duy biện chứng của đội ngũ trí thức, điều mà các thế hệ nghiên cứu hôm nay cần tiếp tục kế thừa và phát huy trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Từ những bài học lịch sử ấy, để nâng cao hiệu quả ứng dụng tư duy hệ thống và khoa học dữ liệu vào quản trị quốc gia trong giai đoạn hiện nay, các định hướng chiến lược cần được triển khai đồng bộ và quyết liệt hơn nữa.
Trước hết, cần tiếp tục phát triển hệ sinh thái nghiên cứu liên ngành, xóa bỏ các rào cản giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng để tạo không gian kết nối chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, việc đầu tư chiến lược vào nguồn nhân lực chất lượng cao, kế thừa tầm nhìn của các bậc tiền bối, là chìa khóa để xây dựng đội ngũ chuyên gia am hiểu sâu sắc cả về toán lý thuyết, thuật toán tính toán và thực tiễn quản trị công nghệ.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, việc đẩy mạnh tư duy tự chủ công nghệ, làm chủ các nền tảng lõi như trí tuệ nhân tạo tự chủ, dữ liệu lớn và các hệ thống điều khiển thông minh sẽ giúp đất nước tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các giải pháp ngoại vi, qua đó góp phần bảo đảm an ninh công nghệ, an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia trên không gian số.
Từ tiến trình lịch sử đó, năm bài học cốt lõi rút ra cho chiến lược phát triển khoa học và công nghệ bao gồm:
1. Tầm nhìn chiến lược dài hạn: Luôn phải đón đầu các xu thế khoa học, công nghệ mới bằng việc xây dựng hạ tầng tri thức và nguồn nhân lực từ sớm.
2. Sự gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn: Tri thức khoa học chỉ thực sự có sức mạnh khi được đem ra giải quyết các bài toán lớn của đời sống kinh tế - xã hội.
3. Tinh thần tự chủ và tự lực, tự cường: Nội lực công nghệ là yếu tố quan trọng đối với tính độc lập, tự chủ của quốc gia trước những biến động địa chính trị.
4. Phát triển tư duy hệ thống liên ngành: Phải nhìn nhận các vấn đề của đất nước như những thực thể phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của nhiều ngành khoa học khác nhau.
5. Trách nhiệm phụng sự Tổ quốc của đội ngũ trí thức: Bản lĩnh dấn thân và tinh thần trách nhiệm của người làm khoa học là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Hành trình ứng dụng toán học và tư duy hệ thống vào các vấn đề của đất nước từ những thập niên trước là một di sản tinh thần đáng trân trọng. Sự dấn thân của các bậc thầy khoa học không chỉ để lại những sản phẩm cụ thể như máy tính nội địa hay các mô hình vận trù học tiên phong, mà quan trọng hơn, đó là bài học về bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phụng sự Tổ quốc bằng tri thức khoa học, tạo động lực cho tiến trình phát triển bền vững của quốc gia trong kỷ nguyên mới.