Ngược dòng thời gian về những ngày đầu tiên, ký ức đưa anh trở về với vùng đất Hải Hậu, Nam Định, nơi anh sinh ra. Đó là một miền quê yên ả bên chân sóng vỗ về lời ru theo năm tháng. Hải Hậu trong tâm thức anh là những cánh đồng xanh bát ngát thẳng cánh cò bay, là vị mặn mòi của muối biển, là tiếng chuông nhà thờ ngân vang trong ráng chiều cực lạc. Nhưng hơn cả vẻ đẹp thanh bình ấy, đó là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi hun đúc nên những con người có ý chí sắt đá, lớn lên bằng hào khí oanh liệt của tiền nhân từ thuở khai hoang lấn biển. Chàng thanh niên Trần Thế Tuyển ngày ấy đã lớn lên trong dòng sữa mẹ và tinh thần quật cường của quê hương, để rồi khi Tổ quốc cần, anh sẵn sàng dâng hiến cả tuổi xuân xanh dưới làn mưa bom bão đạn. Tinh thần của người dân vùng biển ấy chính là bệ phóng tư tưởng, giúp anh vững vàng bước qua mọi thử thách khắc nghiệt nhất sau này. Ngày ấy, anh phải chia xa mái trường thân yêu – nơi lưu giữ bao kỷ niệm tuổi ấu thơ bên gốc phượng hồng rực rỡ mỗi độ hè về. Đó là nơi có những người bạn cùng sách đèn, có những thầy cô luôn tận tụy sưởi ấm và vun đắp cho anh những ước mơ, chuẩn bị những hành trang tri thức đầu đời để bước vào tương lai. Những bài giảng về lòng yêu nước, về những vị anh hùng dân tộc đã trở thành mạch máu, thành hơi thở để anh sẵn sàng gác lại những dự định cá nhân. Nhưng tương lai của thế hệ anh khi đó gắn liền với vận mệnh dân tộc. Chiến trường miền Nam vẫy gọi, gác lại bút nghiên, anh lên đường vượt Trường Sơn đi chiến đấu. Hành trang mang theo trong chiếc ba lô lính không chỉ là tư trang, mà còn là tình yêu quê hương cháy bỏng và nợ nước thiêng liêng nặng gánh trên vai. Mỗi bước chân vượt dốc cao vực thẳm của dãy Trường Sơn là một bước trưởng thành, biến chàng thư sinh ngày nào thành một chiến sĩ thực thụ.
Những năm tháng trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ và các chiến trường ác liệt, cái sống và sự hy sinh luôn rập rình dưới làn mưa bom bão đạn của quân thù. Anh cùng đồng đội đã bền gan chiến đấu qua những mùa khô cháy bỏng và những mùa mưa rừng lũ quét. Nhưng ở người chiến sĩ ấy, không chỉ có khẩu súng và bản lĩnh kiên trung, anh còn là một người lính xông pha trên mặt trận báo chí. Những bài viết của anh, ra đời ngay giữa màn đạn địch, đã kịp thời truyền đi hơi ấm, tiếp thêm niềm tin về ý chí quyết chiến quyết thắng cho bộ đội. Anh viết về sự hy sinh thầm lặng của anh nuôi, quân y, những người chiến sĩ phục vụ, bảo đảm... người lính trên chiến trường lửa đạn; viết về tinh thần lạc quan của những chiến sĩ trẻ giữa cơn sốt rét rừng hành hạ, và về khát vọng hòa bình cháy bỏng của cả một dân tộc. Những trang bản thảo lấm lem bùn đất chiến trường, nhòe đi vì mưa rừng ấy chính là vũ khí tư tưởng sắc bén, thôi thúc bước chân người lính xông lên giữa những giờ phút sinh tử cận kề. Dấu chân Trần Thế Tuyển đã in đậm khắp các chiến trường khốc liệt nhất, nơi mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu xương đồng đội. Từ rừng núi Tây Nguyên "hổ gầm đạn xới", nơi những cơn sốt rét rừng làm người lính run bần bật giữa cái lạnh đại ngàn, đến những vùng sình lầy Đồng Tháp Mười mênh mông sông nước. Anh đã cùng đồng đội luồn mình trên từng kênh rạch chằng chịt, ẩn mình dưới dòng Vàm Cỏ Đông, sông Long Khốt chờ giặc đến. Có những đêm trắng trên "Cánh đồng chó ngáp" – cái tên nghe thôi đã thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nơi nắng cháy da người và muỗi đốt nát thịt da – anh vẫn cùng đơn vị bền bỉ bám trụ. Những địa danh ấy không chỉ là bản đồ quân sự, mà là bản đồ của những nỗi đau và lòng quả cảm, nơi quân và dân Long An kiên cường từng giờ từng phút để tiến về giải phóng Sài Gòn. Anh nhớ như in những gương mặt đồng đội trẻ măng, mới hôm qua còn cười nói chia nhau điếu thuốc lào, hôm nay đã vĩnh viễn nằm lại dưới những tán tràm xanh ngắt hay sóng nước trùng khơi.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, niềm vui vỡ òa khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Thế nhưng niềm vui ấy chưa kịp trọn vẹn, khi tiếng súng phía Nam vừa dứt, biên giới Tây Nam lại bùng cháy. Một lần nữa, anh lại tiếp tục hành quân ra mặt trận, rời xa gia đình vừa mới đoàn tụ. Chiến trường hiện ra với nỗi đau kinh hoàng từ bàn tay khát máu của bè lũ diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary tàn sát những người dân vô tội. Với nghĩa cử quốc tế cao cả, anh cùng quân tình nguyện Việt Nam đã xả thân cứu giúp nước bạn giải phóng, thoát khỏi thảm họa diệt vong. Những năm tháng giúp bạn cũng là những năm tháng bồi đắp thêm cho anh tư duy chiến lược và ngòi bút sắc sảo của một người làm công tác Đảng, công tác chính trị giữa lằn ranh sinh tử khốc liệt. Anh đã chứng kiến những ngôi làng hoang tàn, những ngôi chùa đổ nát và cả những ánh mắt hồi sinh của người dân Chùa Tháp khi bộ đội Việt Nam tiến vào. Đó là những trang nhật ký đẫm lệ và hào hùng mà anh mãi mang theo. Bước ra từ khói lửa chiến tranh, Trần Thế Tuyển mang theo bản lĩnh của người chiến thắng để bước vào mặt trận mới: mặt trận tư tưởng và báo chí trong thời bình. Với kinh nghiệm dày dặn và tư duy nhạy bén được tôi luyện qua đạn bom, anh trải qua nhiều cương vị quan trọng. Từ một người lính cầm súng, anh trở thành Phó Cục trưởng Cục Báo chí, rồi Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng – cơ quan ngôn luận quan trọng hàng đầu. Ở bất kỳ vị trí nào, anh cũng luôn đau đáu việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng, góp phần vào sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những bài luận, những chuyên mục do anh chỉ đạo không chỉ sắc bén về tính chiến đấu mà còn thấm đẫm chất nhân văn, luôn hướng về phía nhân dân, đồng chí, đồng đội, bảo vệ cái đúng và lẽ phải giữa những biến động của thời cuộc. Anh luôn giữ vững phong cách của một "tư lệnh" trên mặt trận thông tin, quyết đoán nhưng cũng đầy bao dung.
Thế nhưng, khi trở về với cuộc sống đời thường, khi những áp lực của công việc quản lý đã lùi xa, anh không chọn cho mình sự nghỉ ngơi nhàn hạ như bao người khác. Anh lại tiếp tục một hành trình mới, hành trình mà anh gọi là "trả nợ tình xa", hành trình thiêng liêng nhất đời mình: hành trình đi tìm liệt sĩ. Nỗi niềm ấy bắt nguồn từ một nỗi đau chưa bao giờ nguôi trong lòng anh: người em ruột của anh cũng đã hy sinh, để lại tuổi thanh xuân mãi mãi trong lòng đất Mẹ. Anh thấy mình còn nợ. Nợ những bà mẹ cả đời ngồi tựa cửa ngóng con, nợ những người vợ góa phụ héo hon vì chờ đợi một tin tức từ chiến trường xưa mà không bao giờ thấy người thân trở lại dẫu chỉ là ước nguyện một nơi để thắp nén nhang thành kính. Mỗi một bộ hài cốt được tìm thấy, mỗi một thông tin liệt sĩ được xác minh là một lần anh thấy lòng mình dịu đi đôi chút nỗi đau đáu của người ở lại. Anh hiểu rằng, sự hy sinh của em trai mình cũng là biểu tượng cho hàng vạn gia đình liệt sĩ khác trên khắp dải đất hình chữ S này. Trong một lần đứng trước đài tưởng niệm, nhìn những hàng bia đá không tên trải dài dưới nắng chiều, anh đã ứa lệ ghi lại dòng cảm xúc sâu tận đáy lòng. Những câu chữ ấy nay đã trở thành câu đối thiêng liêng, trang trọng tại các nghĩa trang và đền thờ liệt sĩ trên khắp mọi miền: "Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc - Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia". Hai câu thơ ấy không chỉ là sự tôn vinh tầm vóc vĩ đại của các anh hùng, mà còn là nén tâm nhang thành kính nhất của một người lính già gửi đến những đồng đội đã hóa thân vào cỏ cây, sông núi. Với tâm nguyện đó, anh đã thiện nguyện tổ chức và trực tiếp tham gia Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay, dù đã đổi tên thành Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ - thương binh TP.HCM, anh vẫn bền bỉ trong Hội đồng tư vấn, phụ trách báo chí truyền thông. Công việc của Hội không chỉ là tìm kiếm hài cốt, mà còn là sự sẻ chia, hỗ trợ vật chất và tinh thần cho những thương binh, những gia đình chính sách còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Dưới sự chỉ đạo và nghĩa tình trách nhiệm của những người lãnh đạo tâm huyết như Trung tướng, Anh hùng LLVTND Lưu Phước Lượng và người kế nhiệm là Trung tướng, Anh hùng LLVTND Lê Thái Bê, Đại tá Trần Thế Tuyển cùng các thành viên trong hội vẫn miệt mài hành quân. Đó là cuộc hành quân về miền xa thẳm, về lại những cánh rừng cao su ở Bình Long, những dòng sông ở Long An hay những vùng biên viễn xa xôi trên đất bạn. Họ đi để tìm lại danh tính cho những người đã khuất, trả lại tên cho các anh trên những nấm mộ còn thiếu tên, mang lại niềm hạnh phúc trong nước mắt cho những gia đình đã mỏi mòn trông đợi suốt nửa thế kỷ qua dẫu có muộn mằn. Nỗi đau mất mát là không gì bù đắp nổi. Mỗi chuyến đi là một lần họ được sống lại thời trai trẻ, được gặp lại đồng đội trong tâm tưởng, được chạm vào những ký ức vừa đau đớn vừa hào hùng. Sự tỉ mỉ trong việc rà soát từng dòng tên, từng địa danh trên bản đồ quân sự cũ đã trở thành công việc hằng ngày của anh và những người cộng sự cùng chí hướng. Không chỉ dừng lại ở công tác tìm kiếm, anh còn dành nhiều tâm huyết cho văn chương. Những tập truyện ngắn, thơ, trường ca và ký sự của anh là sự kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và một vốn sống vô cùng phong phú. Anh viết để tri ân, viết để nhắc nhở thế hệ sau về giá trị của hòa bình. Những vần thơ, những trang văn của anh luôn rực cháy ngọn lửa của lý tưởng, nhưng cũng rất dịu dàng khi chạm đến những góc khuất tâm hồn người chiến sĩ. Với anh, văn chương chính là một kênh truyền tải đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" hiệu quả nhất, nó có khả năng len lỏi vào trái tim bạn đọc, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm với lịch sử. Anh không ngừng vận động, kết nối các nhà báo, nhà văn cùng chung tay xây dựng các tượng đài kỷ niệm, các đền thờ liệt sĩ như đền thờ Long Khốt – một công trình mang đậm dấu ấn tâm linh và lịch sử của quân dân Long An. Dẫu bận rộn công việc, không quản ngại xa xôi, hễ lúc nào đi được anh cùng đồng đội lại về đền thờ Long Khốt, Phú Quốc... thắp hương tưởng niệm những người con hy sinh vì Tổ quốc.
Cuộc đời Đại tá Trần Thế Tuyển là một hành trình dấn thân không mệt mỏi, một biểu tượng của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Chiến tranh ác liệt đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng nghĩa tình đồng đội thì vẫn luôn hiển hiện như một ngọn lửa cháy mãi. Anh luôn nhắn nhủ với linh hồn các liệt sĩ rằng: dẫu các anh đã về hay vẫn còn yên nghỉ đâu đó trên mọi miền đất nước hay trên đất bạn, xin hãy yên lòng vì chúng tôi – những người đồng đội còn sống – vẫn luôn lần tìm tới các anh bằng tất cả trái tim. Xin thắp nén nhang nơi đầu gió để gửi tới linh hồn các liệt sĩ – những người con ưu tú đã hiến dâng tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ bình yên cho quê hương. Lời nhắn nhủ ấy như một lời thề của người sống với người đã khuất, một sự cam kết về sự tử tế và lòng biết ơn.
Đến nay, dù tuổi đã cao, đôi chân đã mỏi, nhưng Đại tá Trần Thế Tuyển vẫn chưa một phút giây nào ngơi nghỉ. Anh vẫn trăn trở với những hồ sơ liệt sĩ còn dang dở, những vùng đất chưa kịp đến thăm để thực hiện nguyện ước trả lại tên cho anh. Hành trình dấn thân về miền xa thẳm của anh chính là hành trình đi tìm lại sự công bằng với lịch sử, trả lại sự tôn nghiêm cho những người đã ngã xuống. Trần Thế Tuyển, người chiến sĩ – nhà báo – nhà văn ấy, vẫn đang từng ngày viết tiếp những trang đời nghĩa nặng tình sâu. Với anh, chừng nào còn sức khỏe, chừng đó anh còn đi, còn viết và còn tìm đồng đội.
Giờ đây, mỗi khi nhìn nén nhang cháy dở tỏa hương nơi biên cương lộng gió hay giữa sóng nước trùng khơi, người ta lại thấy hình bóng một người lính già vẫn bền bỉ với đức tin của mình. Đó không chỉ là nghi thức, mà là một lời hứa danh dự của người ở lại dành cho những đồng đội đã hóa thân thành linh khí quốc gia. Một đời người, một đời lính, Đại tá Trần Thế Tuyển đã sống trọn vẹn với quê hương, với đồng đội và với chính lương tâm của một con người chính trực. Anh trở thành nhịp cầu nối giữa quá khứ hào hùng và thực tại bình yên, nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự hy sinh và lòng biết ơn sâu sắc. Đời đời trân trọng những bước chân không mỏi ấy – những bước chân vẫn đang miệt mài "dấn thân về miền xa thẳm" để giữ ấm ngọn lửa nhân văn và thắp sáng đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" cho mãi tận mai sau./.
TP.HCM, 12/04/2026