Ký ức ngày nhập ngũ

Có những khoảnh khắc đi qua một lần trong đời rồi hóa thành dấu mốc, khắc sâu vào ký ức như ngọn lửa hồng không bao giờ tắt. Với tôi, đó là những ngày đầu nhập ngũ – ngày đánh dấu bước ngoặt cuộc đời, từ một cậu học trò xứ Nghệ gầy gò, non trẻ sang người lính cầm súng vì non sông đất nước.

Rời trường cấp 3 thân yêu sau chuyến dự thi học sinh giỏi trở về, trong tôi vẫn còn lâng lâng niềm vui kỷ niệm tuổi học trò, của những trang vở còn thơm mực mới, những giờ phút căng thẳng say sưa viết dòng cảm hứng đầy tự tin bài văn chính luận kỳ thi học sinh giỏi dưới hầm. Nhưng niềm vui ấy chưa trọn vẹn. Miền nam thân yêu còn chìm trong lửa khói, bao chàng trai tuổi vừa trưởng thành hàng ngày vẫn đội mũ rơm đến lớp ở trường cấp 3 Nghĩa Đàn, đã lần lượt khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Sân trường vốn rộn rã tiếng kẻng, tiếng cười, nay trở nên trầm lặng hơn trong những buổi chia tay đầy lưu luyến. Những đoàn quân đi qua xã, qua huyện, ánh sao trên mũ cối lấp lánh dưới nắng chiều, gợi trong tôi niềm kính phục lẫn nôn nao khó tả. Hình ảnh người lính Giải phóng trong thơ Tố Hữu tôi vừa viết trên trang giấy màu xám, một mặt trơn, một mặt nhám, trong ngày dự thi vẫn còn cháy bỏng trong tim:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Nắng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo…”

Những câu thơ ấy như tiếng gọi của nước non, như tiếng kèn xung trận, hình ảnh anh giải phóng quân kiên trung tạc vào thế kỷ, rực cháy, thôi thúc trong tâm hồn tôi. Hình tượng anh bộ đội hiện lên hiên ngang, lãng mạn, vừa bình dị vừa hùng tráng – một biểu tượng đẹp đẽ mà tôi vô cùng ngưỡng mộ. Dù chưa đủ tuổi, dù thân hình còn gầy nhẳng, tôi vẫn nằng nặc xin được nhập ngũ. Tôi muốn đứng trong hàng quân, muốn được bồng súng đi vào Nam, muốn góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất giang sơn. Niềm khát vọng ấy cứ ngày ngày dồn nén ấp ủ, lớn lên trong trái tim một cậu học trò đang ngồi trên ghế nhà trường.

Buổi khám sức khoẻ hôm ấy diễn ra vào một chiều muộn, bảng lảng gió xuân se lạnh. Tôi là người cuối cùng trong đợt tuyển quân. Cân nặng không đủ, tuổi mới mười bảy, sức vóc thì gầy đét, các chú trong Hội đồng khám tuyển thương hại, động viên, khuyên bảo tôi ở lại tiếp tục học chờ dịp khác. Nhưng trái tim tôi đã quyết định dứt khoát với con đường của mình đã chọn. Với dòng suy nghĩ rất nhanh, tôi xin tờ giấy, run run viết đơn bằng… máu. Thực ra lấy đâu ra nhiều máu mà viết, chích đầu ngón tay bằng chiếc kim băng dúi trong túi áo, tôi cố nặn từng giọt đỏ tươi. Chỉ đủ để viết được một dòng ngắn ngủi: “Cháu tha thiết xin được lên đường đi chiến đấu.” Một dòng thôi, nhưng là tất cả ý chí, nguyện vọng, là lời hứa với chính mình. Hai bên túi quần cũ kỹ là hai viên gạch đặc dù cố giấu nhưng vẫn lòi ra. "Thôi lên bàn cân, đủ bốn lăm cân rồi nhé, được cộng thêm mấy lạng, nhìn rứa mà có gan to ... ". Các chú nhìn tôi, có người bật cười thương cảm, có người gật gù. Và rồi – điều kỳ diệu đến – đơn tôi được chấp nhận. Bỗng có chú mặc quân phục hơi đứng tuổi đến ôm ghì tôi vào long nói: “Chú thật xúc động, cố lên cháu nhé, phía trước còn lắm gian nan, chú tự hào về một thế hệ như cháu." Tôi là người cuối cùng, được đứng trong danh sách tân binh lần ấy.

Niềm vui đó đến bây giờ nhớ lại, ngực tôi vẫn còn rộn ràng như trống hội.

Từ trường, tôi mải miết đạp chiếc xe thống nhất cà tàng, khô dầu kêu cót két gần hai chục cây số đường rừng, dốc trở về nhà. Trời tối như mực, chỉ còn ánh đom đóm lập lòe ven đường. Về đến nhà, ba tôi đang ốm nặng, còn mẹ thì đi công tác xa. Bỗng trong lòng dâng tôi lên nỗi niềm lo lắng, bởi quyết định nhập ngũ chưa hề xin ý kiến ba mẹ. Dưới ngọn đèn dầu mazut loe lét, ba đang ốm nặng. Tôi ngồi bên giường, nắm tay ba hít hơi thở thật sâu, trấn tĩnh và nói: "Ba ơi con có giấy báo mai nhập ngũ ".

Tôi lặng lẽ chờ đợi hồi hộp và sẵn sàng đón cơn thịnh nộ từ ông. Nhưng không, ông nắm thành gường ngồi dậy, nắm chặt tay nhìn tôi âu yếm. Sau cơn ho dài (ngày ông đi chiến đấu vẫn còn mảnh đạn nằm trong phổi, hễ thời tiết thay đổi nó lại hành hạ ông ), ông nói: "Ba tin con, chiến tranh còn ác liệt ... ". Nước mắt tôi chực trào. Thế là ba đồng tình với ước nguyện của mình. Tôi xin phép Ba lên nông trường 19.5 để ký lý lịch làm thủ tục nhập ngũ. Ba nhìn tôi thật lâu. Đôi mắt ba – người từng đi qua chiến tranh – sâu thẳm mà lặng lẽ. Rồi ba khẽ gật đầu, bàn tay khô gầy đặt lên tay tôi như một sự truyền lực âm thầm.

Sáng hôm sau, khi sương sớm còn vương trên tán cây trước sân nhà, và những cành đào nở bông chúm chím. Các cô chú trong đội sản xuất số 8, nghe tin đã đến đông đủ chia tay tôi. Ba dậy từ canh khuya, lụi hụi làm thịt con gà – phần quà tiễn con lên đường. Hình ảnh ba gò lưng bên bếp khói, đôi tay run vì bệnh mà vẫn cố chặt từng miếng thịt gửi gắm cho con… suốt đời này tôi không thể nào quên được.

Đúng bảy giờ sáng, tôi có mặt tại sân vận động thị trấn Thái Hòa, để huyện đội giao quân. Cô giáo chủ nhiệm và mấy đứa bạn trong lớp đứng chờ sẵn trao tôi cuốn sổ tay với bao dòng lưu niệm, chiếc khăn mùi xoa có thêu đôi bồ câu trắng bay trên vầng mây hoà bình, cánh hoa nhỏ xinh, ép thơm hương thoang thoảng trong trang sổ giấy sắc màu. Lòng tôi ngập tràn bao điều xúc động.

Hiệu lệnh hành quân, phía trước là chặng đường nhuộm đỏ đất Ba zan. Chân bước mà lòng tôi như mở hội. Ba ngày hành quân từ Thái Hòa về Thanh Chương, chân phồng rộp, người mệt lả, nhưng lạ thay trong lòng tôi lại ngập tràn niềm vui hân hoan. Có lẽ vì tuổi trẻ, vì lý tưởng lớn lao, vì tâm thế của người đã chọn một con đường chỉ tiến về phía trước.

Về đến nơi đơn vị đóng quân, tôi như cánh chim non được thả vào bầu trời rộng lớn mà bấy lâu nay mình ước nguyện. Dù gian khổ vất vả, dù nắng cháy da, mưa xối mặt, tôi vẫn say mê từng động tác lăn lê, bò toài, từng lần bắn súng, ném lựu đạn. Mỗi bài tập chiến thuật là một thử thách, là một niềm vui. Khi được phát bộ quân phục Tô Châu mới toanh, tôi vừa mừng vừa… lo. Người tôi nhỏ thó, mặc vào thì áo quần thùng thình, dài thườn thượt. Tôi năn nỉ mãi anh tiểu đội trưởng đổi quần áo cho tôi. Anh cười hiền:

– Quân phục của anh cũ bạc màu rồi, chú mặc đồ mới đi cho đẹp.

Tôi lắc đầu:

– Em thích bộ của anh. Anh nhỏ người, anh đã sửa lại, em thử rồi vừa lắm.

Thấy tôi nài nỉ quá, anh đành đổi. Với tôi, bộ quân phục ấy quý như báu vật, vì nó vừa vặn với mình, vì nó thơm mùi mồ hôi của một người lính đi trước đã từng trải, và vì nó đánh dấu khoảnh khắc tôi thật sự trở thành anh bộ đội – đúng nghĩa.

Có kỷ niệm thật vui, ngày được thăng quân hàm từ binh nhì lên binh nhất, cả tổ ba người chúng tôi phấn khởi như trẻ con được quà. Ba đứa góp tiền phụ cấp vừa nhận, mỗi đứa năm đồng mua một con gà khoảng bảy tám lạng, thêm bó miến, mấy tép hành tươi. Mượn nồi số 5 của nuôi quân, chúng tôi đun một nồi miến gà dậy mùi thơm lừng. Chỉ có vậy thôi – một nồi miến đơn sơ giữa khu nhà bếp tranh tre, nứa lá bên chân đồi – mà vui như tết. Chúng tôi ngồi quanh nồi nước nghi ngút khói, vừa thổi, vừa ăn xì xà, xì xụp vừa cười hớn hở. Không ai nói ra, nhưng tôi hiểu: mỗi chúng tôi đều cảm nhận rõ rệt rằng mình đang trưởng thành, đang mang trên người trọng trách ngày càng lớn hơn, anh lính binh nhất đầy kiêu hãnh trên ve áo đỏ tươi.

Rồi ngày ấy cũng đến – ngày tôi cùng đồng đội hành quân ra mặt trận. Ba lô sau lưng, súng trên vai, tôi biết cuộc đời mình từ đây sẽ khác. Không chỉ là những buổi tập trên thao trường nữa, mà là gió bụi chiến trường, là đối diện hiểm nguy, là sống – chết và tình đồng đội thiêng liêng... Tổ ba người chúng tôi – ba chàng lính trẻ hồn nhiên, sớm tối bên nhau trên thao trường, ôm nhau ngủ trên tấm sạp bằng nứa sau những ngày huấn luyện vất vả, tưởng như sẽ cùng nhau đi hết con đường binh nghiệp. Nhưng chiến tranh đã không cho mỗi đứa chúng tôi trọn vẹn niềm vui, với bao điều hẹn ước. Hai trong tổ ba người của tôi đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường ác liệt, trong những cánh rừng, những quả đồi ken dày bom đạn. Bạn ra đi khi tuổi đời còn xuân xanh, chưa một lần nắm tay bạn gái, như búp măng non chưa kịp thành tre. Nghĩ đến họ, lòng tôi lại quặn thắt. Tôi – người còn sống – luôn coi đó là món nợ ân tình thiêng liêng của cuộc đời. Tôi mang ký ức về họ suốt mấy chục năm nay, như mang theo hai mảnh hồn thiêng của đồng đội. Có người bảo thời gian rồi sẽ xóa nhòa mọi thứ. Nhưng với tôi, những ngày đầu nhập ngũ chưa bao giờ phai mờ. Chúng như thước phim quay chậm, mỗi lần nhớ lại là mỗi lần sống lại cảm xúc nguyên vẹn của tuổi trẻ.

Đó là những buổi sáng sương giăng trắng sân trường, những buổi đào hầm, đội mũ rơm đi học, ăn củ mì, ngô, khoai thay cơm, là ánh mắt và cái gật đầu của ba tôi trong cơn ốm nặng, là dòng chữ viết bằng máu còn nhòe trên tờ đơn xin nhập ngũ. Là bộ quân phục Tô Châu cũ bạc màu mà tôi nâng niu, là nồi miến gà thơm lừng giữa doanh trại nghèo ẩn mình dưới tán lá, là con đường hành quân bụi đỏ nhuộm màu lý tưởng. Và hơn hết, là tình đồng đội – thứ tình cảm thiêng liêng, vạm vỡ như cây lim đứng sừng sững giữa gió bão cuộc đời.

Bao nhiêu năm trôi đi, mỗi khi nghe tiếng còi báo thức, hay nhìn thấy bóng dáng một người lính trẻ đi qua, tôi lại thấy mình của ngày ấy – hồn nhiên, rực rỡ, đầy khát vọng. Một thời không thể nào quên. Một thời mà chỉ cần gọi lên tên thôi, đã thấy sống mũi cay cay. Xuân Bính Ngọ 2026 đang về; ngắm những đoàn quân chiến thắng, hùng dũng, rạng ngời khí chất, hiên ngang duyệt binh trước dinh thống nhất thành phố Hồ Chí Minh hay trên quảng trường Ba Đình Hà Nội. Như muôn triệu người dân yêu nước, tôi tự hào về những người lính cụ Hồ đầy bản lĩnh đang tiếp nối truyền thống ông cha, với bản lĩnh thông minh, sáng tạo, vững vàng bước vào kỉ nguyên mới; kỉ nguyên vươn mình của dân tộc. Để bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc tổ quốc thân yêu. Gìn giữ sự trường tồn của dân tộc, tôi càng hiểu hơn ai hết giá trị hòa bình. Sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vì hạnh phúc của nhân dân.        

TP.HCM, 18.01.2026