Mở đầu
1.1. Bối cảnh và vấn đề đặt ra
Khoa học Công nghệ (KHCN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngày càng được xác định là một động lực của phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ở Việt Nam, định hướng này được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 và Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, được điều chỉnh, bổ sung theo Quyết định số 604/QĐ-TTg. Các văn bản trên tạo cơ sở để các địa phương trong đó có tỉnh Đắk Lắk chú trọng đến việc hình thành và phát triển một hệ sinh thái ĐSMT nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, môi trường, xã hội bền vững.
Trong hơn ba thập kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam luôn giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội và tạo việc làm cho khu vực nông thôn. Năm 2025, doanh thu xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam đạt 70,09 tỉ USD, xác lập mức cao nhất từ trước tới nay. Đối với tỉnh Đắk Lắk, ngành nông nghiệp chiếm khoảng 32,1% GRDP và đạt mức tăng trưởng 4,52%. Tỉnh có nhiều lợi thế về cây công nghiệp và cây ăn quả. Tính riêng cây cà phê đã đóng góp tổng giá trị sản xuất từ 1.654 – 2.385 tỷ USD. Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam và tỉnh Đắk Lắk hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều áp lực, đó là các thách thức mới nổi gắn với biến đổi khí hậu, các tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe, nguy cơ bị mắc kẹt ở phân khúc giá trị thấp, liên kết chuỗi giá trị rời rạc, hạn chế về logistic và chế biến sâu. Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp cần phải có những cách tiếp cận mới để thúc đẩy KHCN và ĐMST giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của ngành.
Thực tiễn phát triển KHCN và ĐMST nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy nhiều trở ngại đối với ĐMST không nằm ở chỗ thiếu công nghệ, thiếu tri thức hay nguồn lực mà chính là nằm ở sự đứt gãy trong phối hợp và tương tác đa chiều giữa các chủ thể trong hệ thống bao gồm viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, hợp tác xã, nông dân. Hệ sinh thái ĐMST của một địa phương vì vậy phụ thuộc cả vào năng lực của từng chủ thể lẫn chất lượng tương tác giữa họ. Mỗi chủ thể là một mắt xích quan trọng nắm giữ những nguồn tri thức, nguồn lực, mục tiêu và các hoạt động khác nhau, do đó nếu không có sự gắn kết sẽ không thể tạo thành sức mạnh để giải quyết các vấn đề, thách thức chung hiện nay (World Bank, 2012).
Đối với Nông nghiệp Việt Nam, mặc dù có nhiều tiềm năng và tính đa dạng nhưng hiện thiếu sự liên kết trong sản xuất. Chuỗi giá trị bị đứt gãy, các doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân chủ yếu là quy mô nhỏ và vừa với khả năng tiếp cận cận nguồn lực, tri thức, công nghệ hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc kết nối, chia sẻ, áp dụng và lan tỏa tri thức, kỹ thuật mới. Thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng hiện nay cho thấy, xuất hiện nhiều vấn đề cần được xử lý đồng thời với sự tham gia của nhiều chủ thể ở tất cả các khâu của chuỗi giá trị. Bên cạnh yêu cầu tối ưu hóa sản xuất, nâng cao giá trị, các chủ thể còn phải thích ứng với biến động thị trường, biến đổi khí hậu và yêu cầu sản xuất bền vững. Những vấn đề này thường vượt quá khả năng giải quyết của một tổ chức riêng lẻ.
Chẳng hạn, một hợp tác xã (HTX) có thể xác định được khó khăn trong sản xuất nhưng cần chuyên gia giúp làm rõ nguyên nhân và lựa chọn giải pháp phù hợp. Sau khi xác định được giải pháp, họ có thể cần hỗ trợ nguồn lực hay kết nối với một nguồn lực nào đó để triển khai. Một ví dụ khác, nhà khoa học muốn đưa kiến thức, các kết quả nghiên cứu của mình vào thực tiễn nhưng họ lại không biết cách làm thế nào để chuyển giao hiệu quả hoặc sử dụng kênh thông tin, công cụ gì để lan tỏa cũng như tìm kiếm được các đối tác, nông dân thực sự cần các giải pháp. Họ cần phải kết nối được với các doanh nghiệp, HTX có nhu cầu, cùng thử nghiệm và hiệu chỉnh để kết quả nghiên cứu thực sự phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Từ đó mới có thể minh chứng, thuyết phục được ngày càng nhiều người áp dụng các tiến bộ mới.
Hiện nay, hoạt động nghiên cứu và khuyến nông tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp tri thức, hướng dẫn kỹ thuật cho sản xuất. Theo cách làm truyền thống, một kỹ thuật mới khi được tạo ra sẽ được chuyển giao, phổ biến một chiều xuống cho HTX, nông dân. Với cách làm này, một số kỹ thuật khi triển khai vào thực tiễn chưa chắc đã hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tiễn và điều kiện cụ thể của từng địa phương. Đồng thời, cách làm này thường bỏ sót các đối tượng có nhu cầu thực sự về kỹ thuật mới, làm giảm hiệu quả của quá trình chuyển giao
Với những thách thức và hạn chế từ thực tiễn nêu trên, cần phải bổ sung thêm một cách tiếp cận mới cho cách làm truyền thống, đó là cách tiếp cận đa tác nhân-đa chiều nơi mà các nhóm chủ thể ĐMST bao gồm nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước và nhà nông dân cùng tương tác, tham gia vào quá trình kiến tạo ĐMST từ khâu xây dựng ý tưởng đến khâu triển khai áp dụng vào thực tiễn và lan tỏa nhận rộng. Hai cách tiếp cận này được tóm tắt trong biểu đồ dưới đây:

Trong hệ thống ĐMST, cách tiếp cận đa tác nhân, đa chiều này có thể triển khai thông qua một số các chức năng được gọi là chức năng trung gian ĐMST với vai trò chính là kết nối tác nhân, chuyển hóa tri thức, huy động nguồn lực, thúc đẩy hỗ trợ hình thành quan hệ hợp tác giữa các chủ thể. (Klerkx và Leeuwis, 2008).
1.2. Mục tiêu và cách tiếp cận của tham luận
Mục tiêu của bài tham luận nhằm làm rõ một số khái niệm, vai trò và khung phân tích chức năng trung gian đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, gợi ý một số định hướng và cách tiếp cận nhằm thể chế và chuyên nghiệp hóa chức năng trung gian trong các trung tâm ĐMST địa phương
Cơ sở của bài tham luận dựa trên một đề tài nghiên cứu về chức năng trung gian ĐMST trong nông nhiệp trong khuôn khổ hợp tác giữa Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Cơ quan Khoa học Quốc gia Úc-CSIRO. Nghiên cứu này được xây dựng dựa trên tổng hợp lý thuyết và thực tiễn của quốc tế và Việt Nam.
2. Khái niệm và vai trò chức năng trung gian trong hệ thống ĐMST nông nghiệp
2.1. Một số khái niệm
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 xác định hệ thống ĐMST được hình thành thông qua các chủ thể, mối liên kết giữa họ và những thiết chế hỗ trợ để tạo ra hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh. Luật cũng xác định trung tâm ĐMST là một loại hình tổ chức thực hiện hoặc hỗ trợ hoạt động ĐMST, khởi nghiệp sáng tạo. Cách tiếp cận này cho thấy sự hiện diện của các tổ chức là điều kiện cần, còn khả năng liên kết và phối hợp giữa các tổ chức mới quyết định việc tri thức có được chuyển thành giải pháp hữu ích hay không (Quốc hội, 2025).
Chức năng trung gian là nhóm chức năng do các tổ chức trung gian thực hiện, có vai trò kết nối, điều phối và tạo lập các điều kiện thuận lợi nhằm tăng cường tương tác giữa các chủ thể tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo. Thông qua các chức năng này, thông tin và tri thức được truyền tải, chia sẻ, chuyển hóa và diễn giải giữa các tác nhân hiệu quả hơn; Thông qua chức năng trung gian, nhu cầu từ thực tiễn được nhận diện và chuyển thành các chương trình, dự án hoặc giải pháp ĐMST phù hợp; các mối liên kết giữa nghiên cứu, sản xuất, thị trường và chính sách được hình thành và củng cố; hợp tác đa tác nhân được tổ chức và duy trì; qua đó thúc đẩy quá trình hình thành, mở rộng và lan tỏa ĐMST ở quy mô lớn hơn. Một cách tổng quát hơn, chúng ta có thể hiểu chức năng trung gian như một cấu trúc đa chiều gồm: (i) môi giới/điều phối tương tác giữa các tác nhân; (ii) diễn giải, điều chỉnh, chuyển hóa tri thức thành dạng phù hợp và lan tỏa tri thức tới các tác nhân; (iii) huy động và ghép nối nguồn lực cho đổi mới sáng tạo; (iv) hợp thức hóa và định hướng đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ thể chế, pháp luật, chính sách hiện có.
Nghiên cứu chức năng trung gian ĐMST cho thấy các tổ chức trung gian như trung tâm ĐMST, viện nghiên cứu, tổ chức khuyến nông, hội nghề nghiệp, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã... đều có thể thực hiện một hay nhiều chức năng, tùy theo nhiệm vụ, năng lực và vị trí của từng chủ thể trong hệ thống ĐMST. Các tổ chức có xu hướng chuyên môn hóa ở một số chức năng thay vì thực hiện đồng đều tất cả các chức năng. Điểm cốt lõi của hoạt động trung gian là tạo điều kiện để nhu cầu được nhận diện rõ, tri thức được trao đổi và điều chỉnh, các bên hình thành quan hệ hợp tác, huy động nguồn lực và đưa giải pháp vào sử dụng (Howells, 2006; Klerkx & Leeuwis, 2008).
Đồng thời, tổ chức trung gian không nhất nhiết phải là một tổ chức riêng biệt. Hiệu quả hoạt động trung gian phụ thuộc vào mạng lưới, uy tín và khả năng huy động nguồn lực của các tổ chức.
Tổng quan nghiên cứu do Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO), Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Cơ quan Khoa học Quốc gia Úc-CSIRO thực hiện kết hợp với nghiên cứu về thực tiễn hoạt động trung gian của Câu lạc bộ Đổi mới sáng tạo ngành Rau quả (Horticulture Innovation Club – HIC) được triển khai trong khuôn khổ chương trình Aus4Innovation do Chính phủ Úc tài trợ đã hệ thống hóa các chức năng trung gian thành 11 chức năng cụ thể và được phân vào bốn nhóm chính gồm:
Bảng 1. Bốn nhóm chức năng trung gian ĐMST
|
Nhóm chức năng |
Các chức năng trung gian cụ thể |
Vai trò trọng tâm |
|
1. Thúc đẩy, tạo lập và lan tỏa tri thức, ĐMST |
- Nâng cao năng lực ĐMST cho các tác nhân và phát triển kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động ĐMST; - Thúc đẩy chia sẻ, chuyển hóa, diễn giải tri thức theo cách phù hợp với từng tác nhân; - Phát hiện nhu cầu và phát triển giải pháp dựa trên nhu cầu của các tác nhân. |
Thu thập/xác định vấn đề từ thực tiễn; tạo trao đổi đa chiều giữa người sử dụng, nhà nghiên cứu và các chủ thể khác; nâng cao năng lực tiếp nhận, điều chỉnh giải pháp ĐMST. |
|
2. Huy động và điều phối các chủ thể cùng nguồn lực cho ĐMST |
- Điều phối và tổ chức các hoạt động ĐMST, đảm bảo các bên cùng hành động thuận lợi, hài hòa lợi ích giữa các bên; - Hỗ trợ huy động, tiếp cận nguồn lực ĐMST cho các tác nhân có nhu cầu (vốn, KHCN, kĩ năng quản lý, nhân lực…); - Xác định các vấn đề/thách thức ưu tiên, mục tiêu và hành động tập thể. |
Hình thành mục tiêu chung cho các tác nhân trong mạng lưới ĐMST, phân công vai trò, duy trì hợp tác và tập hợp nguồn lực để giải quyết vấn đề. |
|
3. Thúc đẩy cơ hội thị trường và hợp tác để đưa kết quả ĐMST ra thị trường |
Kết nối, phát triển cơ hội thị trường (khoa học công nghệ; đầu ra sản phẩm) và thúc đẩy hợp tác đưa ĐMST ứng dụng vào thực tiễn |
Kết nối giải pháp với nhu cầu thị trường, hình thành đối tác trong chuỗi giá trị và điều kiện để áp dụng ở quy mô phù hợp. |
|
4. Quản lý, thể chế hóa và định hướng ĐMST tạo tác dộng bền vững |
- Thúc đẩy giá trị xã hội và môi trường; - Rút ra các bài học kinh nghiệm để cải thiện các hoạt động ĐMST trong tương lai; - Phản hồi các điểm nghẽn lên cấp chính sách; - Tạo dựng và chứng minh giá trị của hoạt động trung gian. |
Theo dõi, điều chỉnh quá trình ĐMST; bảo đảm các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường; tạo căn cứ cải thiện chính sách và duy trì bền vững hoạt động trung gian. |
2.2. Vai trò của các nhóm chức năng trung gian trong hệ thống ĐMST nông nghiệp
2.2.1. Thúc đẩy tạo lập và lan tỏa tri thức, ĐMST
Chức năng đầu tiên của nhóm này là phát hiện và diễn giải nhu cầu. Nhu cầu do nông dân, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp nêu ra thường bắt đầu từ một khó khăn trong sản xuất, chế biến hoặc tiêu thụ. Để tìm được giải pháp phù hợp, khó khăn đó cần được làm rõ về nguyên nhân, quy mô, điều kiện áp dụng và kết quả mong muốn. Tổ chức thực hiện chức năng trung gian có thể giúp bên có nhu cầu trao đổi với nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật và đối tác thị trường để cùng xác định vấn đề cần giải quyết. Việc này giúp phân biệt trường hợp cần nghiên cứu mới với trường hợp có thể điều chỉnh quy trình, tiếp cận một công nghệ sẵn có hoặc thay đổi cách tổ chức sản xuất. Một nhu cầu được diễn giải rõ cũng giúp nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ xác định phần việc mà họ có thể đóng góp.
Chiều trao đổi ngược lại là chuyển hóa tri thức thành phương án có thể áp dụng hoặc các dạng phù hợp với các tác nhân. Một quy trình được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hoặc thử nghiệm ở nơi khác cần được đối chiếu với nguyên liệu, đất đai, thiết bị, lao động, chi phí và yêu cầu chất lượng tại nơi tiếp nhận. Tổ chức trung gian có thể tạo không gian để nhà nghiên cứu, người sản xuất và đối tác thị trường cùng trao đổi về những điều kiện đó, thay vì chỉ chuyển một tài liệu kỹ thuật từ bên cung cấp sang bên sử dụng. Đồng thời, thông tin về công nghệ, thị trường và chính sách cần được đưa tới đúng nhóm có nhu cầu; những phản hồi từ thực địa cần quay trở lại người nghiên cứu và người quản lý. Đây là ý nghĩa của dòng chảy tri thức hai chiều trong hệ thống ĐMST nông nghiệp. Các nghiên cứu về trung gian nông nghiệp cũng cho thấy vai trò này mở rộng từ môi giới thông tin sang hỗ trợ các chủ thể cùng điều chỉnh giải pháp trong quá trình thực hiện (Kilelu và cộng sự, 2011; Klerkx và Leeuwis, 2008).
Trong quá trình thúc đẩy tạo lập và lan tỏa tri thức, ĐMST, đào tạo, tập huấn và phát triển kỹ năng ĐMST là một hoạt động rất quan trọng. Trong cách tiếp cận khuyến nông truyền thống, đào tạo tập huấn tập trung vào chuyển giao kỹ thuật/quy trình mới. Theo cách tiếp cận đa chiều, người sản xuất cần năng lực nhận diện vấn đề, so sánh các phương án, ghi chép kết quả và quyết định có tiếp tục áp dụng hay không. Hợp tác xã và doanh nghiệp cần thêm năng lực tổ chức thử nghiệm, tính toán chi phí, làm việc với chuyên gia, đánh giá rủi ro và tìm kiếm đối tác. Vì vậy, giá trị của một hoạt động tập huấn cần được xem xét qua khả năng người tham gia sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề sau tập huấn. Bản thân viện, trường và tổ chức hỗ trợ cũng học hỏi từ phản hồi của người sử dụng để hoàn thiện nội dung tư vấn.
Chẳng hạn, với nhu cầu sản xuất phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, thông tin về một quy trình xử lý mới chỉ là điểm khởi đầu. Các bên còn cần làm rõ nguồn và tính ổn định của nguyên liệu, điều kiện vận hành, chất lượng sản phẩm sau xử lý, chi phí và mục đích sử dụng. Quá trình cùng xác định những nội dung này vừa tạo ra đề bài phù hợp cho chuyên gia, vừa nâng cao khả năng lựa chọn và vận hành giải pháp của hợp tác xã. Kết quả mong đợi của nhóm chức năng thứ nhất là nhu cầu được xác thực, tri thức được điều chỉnh cho phù hợp và năng lực tự giải quyết vấn đề của các bên được cải thiện.
2.2.2. Huy động và điều phối các chủ thể và nguồn lực cho ĐMST
Nhiều vấn đề nông nghiệp đã được nhận diện nhưng khó triển khai vì các bên chưa có mục tiêu chung hoặc chưa rõ ai sẽ đảm nhận từng phần việc. Nhóm chức năng này giúp xác định ưu tiên và mục tiêu hành động tập thể giúp chuyển các nhu cầu riêng lẻ thành một vấn đề chung mà nhiều chủ thể cùng thấy có lợi ích và trách nhiệm tham gia. Việc lựa chọn ưu tiên cần cân nhắc mức độ cấp thiết, quy mô ảnh hưởng, khả năng áp dụng, nguồn lực cần thiết và các tác động xã hội, môi trường. Quá trình này cũng cần lắng nghe những nhóm yếu thế, ít có khả năng tự trình bày nhu cầu, nhất là nông dân sản xuất nhỏ. Một danh mục ưu tiên chỉ có ý nghĩa khi bên có nhu cầu xác nhận được vấn đề và các đối tác nhìn thấy khả năng cùng hành động.
Khi mục tiêu đã rõ, chức năng điều phối giúp hình thành và duy trì nhóm hợp tác quanh vấn đề chung. Tổ chức thực hiện chức năng trung gian có thể mời đúng chuyên gia, đơn vị cung cấp công nghệ/giải pháp, doanh nghiệp và bên sử dụng tham gia; hỗ trợ các bên thống nhất kết quả cần đạt, phần việc, thời hạn và cách trao đổi thông tin. Trong quá trình thử nghiệm, kết quả ban đầu có thể khác dự kiến, một đối tác có thể thay đổi kế hoạch hoặc xuất hiện vướng mắc về tiêu chuẩn và thị trường. Điều phối vì thế là công việc liên tục: theo dõi tiến độ, tạo điều kiện để các bên thương lượng và điều chỉnh phương án. Nghiên cứu về các nền tảng ĐMST trong nông nghiệp nhấn mạnh rằng các chủ thể phụ thuộc lẫn nhau để tạo ra kết quả, do đó cần cơ chế để cùng học hỏi, thương lượng và phối hợp hành động (Schut và cộng sự, 2018).
Hỗ trợ tiếp cận tài chính là một phần của quá trình huy động nguồn lực. Các giai đoạn xác định nhu cầu, thử nghiệm, hoàn thiện giải pháp và mở rộng ứng dụng có yêu cầu kinh phí và phương án xử lý các mức rủi ro khác nhau. Vai trò trung gian là giúp nhóm hợp tác nhận diện khoản kinh phí cần thiết, chuẩn bị phương án thực hiện và kết nối với chương trình hỗ trợ, quỹ, ngân hàng, doanh nghiệp hoặc nguồn lực đóng góp của các bên phù hợp với từng giai đoạn. Chức năng này cần được phân biệt với việc chính tổ chức trung gian cấp vốn hoặc quyết định đầu tư. Việc xác định rõ ai chịu chi phí, ai hưởng lợi và ai chịu rủi ro sẽ giúp quan hệ hợp tác có khả năng duy trì hơn sau hỗ trợ ban đầu.
Đối với hệ thống ĐMST cấp tỉnh, nhóm chức năng thứ hai có tác dụng khắc phục tình trạng nguồn lực nằm rải rác ở nhiều đơn vị nhưng chưa được tập hợp quanh một mục tiêu cụ thể. Viện, trường có chuyên gia và kết quả nghiên cứu; doanh nghiệp có năng lực đầu tư và tiếp cận thị trường; hợp tác xã có địa điểm tổ chức sản xuất; cơ quan quản lý có chương trình và công cụ chính sách. Khi các đóng góp này được điều phối theo một bài toán đã xác định, hoạt động kết nối có thể chuyển thành cam kết hợp tác, kế hoạch thử nghiệm và nguồn lực thực hiện rõ ràng.
2.2.3. Thúc đẩy cơ hội thị trường và hợp tác để đưa ĐMST ra thị trường
Một giải pháp có hiệu quả trong thử nghiệm chưa chắc có thể được áp dụng rộng rãi hoặc tạo ra giá trị kinh tế. Để đi tiếp, các bên cần xác định ai sẽ sử dụng giải pháp, sản phẩm hoặc dịch vụ nào được tạo ra, yêu cầu chất lượng ra sao, chi phí có chấp nhận được không và đối tác nào tham gia các khâu tiếp theo. Chức năng kết nối cơ hội thị trường và môi giới hợp tác kinh doanh giúp đưa những câu hỏi này vào quá trình ĐMST từ sớm, thay vì chỉ tìm đầu ra sau khi nghiên cứu hoặc mô hình thử nghiệm đã kết thúc.
Trong nông nghiệp, cơ hội thị trường có thể hình thành ở hai cấp độ. Cấp độ thứ nhất là thị trường cho công nghệ và dịch vụ ĐMST, như giống, thiết bị, quy trình bảo quản, dịch vụ phân tích chất lượng hoặc tư vấn truy xuất nguồn gốc. Cấp độ thứ hai là thị trường cho sản phẩm nông nghiệp được cải thiện hoặc tạo mới nhờ áp dụng giải pháp, như sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng cao hơn, tạo giá trị gia tăng, được chế biến theo cách mới hoặc tận dụng phụ phẩm. Tổ chức thực hiện chức năng trung gian có thể kết nối bên có giải pháp với bên sử dụng, kết nối người sản xuất với doanh nghiệp chế biến và phân phối, hỗ trợ các bên làm rõ yêu cầu thử nghiệm, chất lượng, chuyển giao và hợp tác. Việc hình thành thị trường vì thế gắn với cả nhu cầu của người mua lẫn khả năng đáp ứng của người sản xuất.
Ví dụ, một sáng kiến nâng cao chất lượng cà phê sẽ khó tạo thêm giá trị nếu chỉ dừng ở hướng dẫn kỹ thuật canh tác. Các bên còn cần thống nhất tiêu chí chất lượng, phương pháp thu hái và sơ chế, cách kiểm tra, tổ chức thu mua và mức giá tương ứng. Tương tự, sản phẩm tạo ra từ phụ phẩm nông nghiệp cần được xem xét về người sử dụng, yêu cầu chất lượng, chi phí sản xuất và quy mô nhu cầu. Trong những trường hợp như vậy, tổ chức thực hiện trung gian giúp các bên kiểm chứng cơ hội kinh doanh và điều kiện hợp tác. Kết quả cần hướng đến là giải pháp được tiếp nhận trong chuỗi giá trị hoặc hình thành quan hệ giao dịch có khả năng duy trì, chứ không chỉ là việc giới thiệu sản phẩm tại một sự kiện.
Không phải mọi kết quả ĐMST nông nghiệp đều được đánh giá bằng doanh thu trực tiếp. Một giải pháp giúp giảm thất thoát tài nguyên, hạn chế ô nhiễm hoặc nâng cao năng lực của nông dân cũng có thể tạo ra lợi ích công cộng đáng kể. Tuy nhiên, ngay cả với những giải pháp này, vẫn cần xác định người sử dụng, cơ chế cung cấp dịch vụ và nguồn lực duy trì. Do đó, nhóm chức năng về thị trường giúp kiểm tra tính khả thi của việc ứng dụng, đồng thời cung cấp thông tin ngược trở lại cho nghiên cứu, thử nghiệm và lựa chọn ưu tiên.
2.2.4. Quản lý, thể chế hóa và định hướng ĐMST theo hướng bền vững
Quá trình ĐMST cần được theo dõi và điều chỉnh vì kết quả và tác động thực tế có thể khác với dự kiến ban đầu. Chức năng đánh giá tiến độ và tổ chức học hỏi giúp các bên xem xét không chỉ hoạt động nào đã hoàn thành mà còn giải pháp có phù hợp không, ai đã tiếp nhận, khó khăn nào xuất hiện và điều gì cần thay đổi. Bằng chứng có thể gồm kết quả kỹ thuật, chi phí, khả năng vận hành, mức độ tiếp tục sử dụng và chất lượng hợp tác giữa các bên. Cách theo dõi này tạo cơ sở để quyết định nên hoàn thiện, mở rộng, chuyển hướng hay dừng một thử nghiệm, đồng thời giúp các tổ chức tích lũy bài học cho những trường hợp sau.
Giá trị xã hội và môi trường luôn cần được theo đuổi/lồng ghép trong suốt quá trình phát triển, lựa chọn, thực hiện và đánh giá giải pháp. Một đổi mới sáng tạo có khả năng nâng cao giá trị sản phẩm nhưng lại khó tiếp cận với nhóm yếu thế hoặc đa số các tác nhân trong xã hội do chi phí đầu tư vượt quá khả năng của phần lớn nông hộ thì cần phải xem xét lại về tính bao trùm, liệu nó có phù hợp với giá trị xã hội mong muốn hay không. Một phương án sản xuất thâm canh mới tạo ra doanh thu cao nhưng làm tăng rủi ro ô nhiễm môi trường đất, nước hoặc đe dọa đa dạng sinh học thì cần phải cân nhắc. Tổ chức thực hiện chức năng trung gian có thể giúp các bên đặt ra tiêu chí phù hợp ngay từ đầu, thu thập ý kiến của những nhóm chịu tác động và cân nhắc đồng thời lợi ích kinh tế, khả năng tiếp cận và tác động môi trường.
Trong quá trình làm việc với nhiều trường hợp, tổ chức thực hiện chức năng trung gian còn có điều kiện nhận ra những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách hoặc thực tế sản xuất, kinh doanh lặp lại mà một nhóm hợp tác riêng lẻ không thể tự xử lý như thiếu dịch vụ kiểm nghiệm, khó tiếp cận nguồn kinh phí thử nghiệm, chưa rõ trách nhiệm giữa các đơn vị hoặc quy định chưa phù hợp với một phương án mới. Chức năng phản hồi chính sách ghi nhận các rào cản cụ thể, phân tích nguyên nhân, và đề xuất hướng xử lý với các cơ quan có thẩm quyền. Thông tin từ thực tiễn nhờ đó có thể góp phần điều chỉnh chính sách, chương trình hỗ trợ, cách phân bổ nguồn lực hoặc cơ chế phối hợp. Đây là dòng thông tin hai chiều giữa cấp thực hiện và cấp chính sách, bổ sung cho việc phổ biến chính sách tới người sử dụng.
Bốn nhóm chức năng trên liên hệ với nhau theo những vòng phản hồi liên tục. Nhu cầu từ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp giúp định hướng tạo lập tri thức; quá trình điều phối đưa các nguồn lực đến đúng nơi có nhu cầu; phản hồi của thị trường kiểm tra khả năng ứng dụng; còn việc theo dõi kết quả và phản ánh điểm nghẽn giúp điều chỉnh giải pháp cũng như chính sách.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, với chức năng nhiệm vụ, nguồn lực và vị tri hiện tại của Trung tâm ĐMST trong hệ thống ĐMST tỉnh, Trung tâm có thể đóng vai trò là một tổ chức trung gian ĐMST chuyên nghiệp, thực hiện được nhiều chức năng trung gian. Ngoài ra, Viện, trường, hiệp hội, doanh nghiệp và hợp tác xã cũng có thể thực hiện chức năng trung gian dựa trên chức năng nhiệm vụ, tầm nhìn và thế mạnh của tổ chức.
3. Một số gợi ý trong thực hiện chức năng trung gian ĐMST trong nông nghiệp
Trong thời gian qua, trên cơ sở định hướng của Đảng, hệ thống pháp luật và chính sách về ĐMST, nhiều địa phương đang bắt đầu xây dựng và phát triển các mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy các hoạt động ĐMST của địa phương. Dựa trên nghiên cứu chức năng trung gian và phân tích chức năng, nhiệm vụ, vị thế của các trung tâm ĐMST, chúng tôi cho rằng các trung tâm này hoàn toàn có thể trở thành những tổ chức thực hiện các chức năng trung gian ĐMST chuyên nghiệp, đóng vai trò là hạt nhân trụ cột trong kết nối cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, các đối tác trong nước và quốc tế để cùng nhau thiết kế những giải pháp dựa trên KHCN và ĐMST cho những thách thức chung của địa phương và khu vực.
Dưới đây là một số gợi ý về định hướng và cách tiếp cận các trung tâm ĐMST có thể cân nhắc nhằm thể chế hóa và chuyên nghiệp hóa các chức năng trung gian:
3.1. Xác định các chức năng trung gian ưu tiên
Chúng tôi cho rằng, các trung tâm ĐMST không nhất thiết phải thực hiện tất cả các chức năng trung gian. Điều quan trọng là xác định được các chức năng mà tổ chức có thế mạnh và tập trung vào chúng.
Sau khi đã xác định được những chức năng trung gian ưu tiên,việc triển khai các chức năng này cũng cần được thực hiện theo một lộ trình từ ngắn hạn đến dài hạn, dựa trên khả năng đáp ứng của nguồn lực và năng lực theo thời gian.
Cụ thể, các trung tâm có thể cân nhắc một lộ trình khung dưới đây:
|
Nhóm chức năng trung gian |
Ngắn hạn: xây dựng mạng lưới kết nối, danh mục ưu tiên và năng lực ban đầu |
Trung hạn: chuẩn hóa và mở rộng qua mạng lưới |
Dài hạn: hoạt động chuyên sâu, cần nguồn lực lớn |
|
1. Thúc đẩy tạo lập và lan tỏa tri thức, ĐMST |
Khảo sát và làm rõ nhu cầu đang phát sinh ; lập danh sách chuyên gia, công nghệ, kết quả nghiên cứu có thể chia sẻ được ngay ; tổ chức trao đổi, tập huấn và tư vấn theo nhu cầu cụ thể . Tiếp tục các mô hình hiện có, chọn một số trường hợp đơn giản để học cách phối hợp với người sử dụng. |
Chuẩn hóa cách thu thập nhu cầu, lựa chọn giải pháp, khảo nghiệm và đánh giá mô hình; sử dụng mạng lưới viện, trường để hình thành nhiệm vụ nghiên cứu từ các vấn đề chưa có giải pháp phù hợp; kết nối và khai thác có hệ thống thông tin kết quả nghiên cứu. |
Phát triển năng lực nghiên cứu, thử nghiệm phức tạp theo những lĩnh vực tỉnh thực sự có nhu cầu; đầu tư hệ thống nguồn tin, thư viện số chuyên sâu khi đã rõ người dùng và khả năng khai thác. |
|
2. Huy động và điều phối chủ thể cùng nguồn lực |
Lập bản đồ các viện, trường, hiệp hội, doanh nghiệp, HTX, chuyên gia và chương trình hỗ trợ; tạo kết nối ban đầu; bố trí người phụ trách từng quan hệ hoặc vấn đề cụ thể. Ưu tiên rèn kỹ năng làm rõ nhu cầu, dẫn dắt trao đổi và theo dõi hợp tác cho người thực hiện . |
Ban hành quy trình phối hợp theo vấn đề; thống nhất vai trò, nguồn lực đóng góp và cách ra quyết định của các bên; duy trì các nhóm hợp tác qua nhiều trường hợp thay vì từng sự kiện riêng lẻ Hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên với các đơn vị có liên quan. |
Huy động đầu tư cho hạ tầng dùng chung, mạng lưới thử nghiệm có phạm vi rộng hoặc các chương trình hợp tác liên vùng sau khi mô hình phối hợp và nhu cầu sử dụng đã được kiểm chứng |
|
3. Thúc đẩy cơ hội thị trường và hợp tác đưa ĐMST ra thị trường |
Cung cấp dịch vụ tư vấn, giới thiệu chuyên gia và giải pháp cho nhu cầu hiện có; sử dụng Sàn giao dịch và tổ chức sự kiện kết nối để tạo các cuộc trao đổi có người phụ trách theo dõi sau kết nối |
Chuẩn hóa dịch vụ đánh giá năng lực công nghệ, tư vấn lộ trình đổi mới và hỗ trợ giao dịch; kết nối thử nghiệm với điều kiện chuyển giao, sở hữu trí tuệ, yêu cầu chất lượng và đối tác tiêu thụ. Mở rộng dịch vụ đã chứng minh được giá trị qua mạng lưới đối tác. |
Phát triển các dịch vụ thương mại hóa chuyên sâu, xử lý công nghệ hoặc tài sản trí tuệ phức tạp, giao dịch có quy mô lớn khi đã có đủ năng lực chuyên môn, pháp lý và nguồn lực. |
|
4. Quản lý, thể chế hóa và định hướng ĐMST bền vững |
Ghi chép đơn giản từng nhu cầu, kết nối và kết quả tư vấn; tổng hợp những vướng mắc đầu tiên để điều chỉnh cách làm. Xác định năng lực nhân sự còn thiếu và kế hoạch bồi dưỡng. |
Chuẩn hóa chỉ tiêu theo dõi kết quả, thực hiện điều tra và phân tích các trường hợp; báo cáo những điểm nghẽn chính sách cho cấp có thamả quyền |
Tổ chức các hình thức thử nghiệm có kiểm soát khi đã có đầy đủ cơ sở pháp lý, năng lực giám sát và nguồn lực; sử dụng bằng chứng tích lũy để đề xuất điều chỉnh cơ chế, chính sách có phạm vi lớn hơn. |
3.2. Hình thành mạng lưới hợp tác và điều phối theo từng lĩnh vực
Để xây dựng được các mạng lưới. thúc đẩy hợp tác, các trung tâm ĐMST cần phải biết và trả lời được một số câu hỏi như sau:
(1) Những mạng lưới nào đã tồn tại và đang hoạt động trên địa bàn tỉnh?
(2) Những hoạt động nào các tổ chức khác cùng hoạt động trên phạm vi đã thực hiện tương đối tốt?
(3) Khoảng trống nào mà tổ chức mới có lợi thế để giải quyết?
(4) Trung tâm nên xây dựng mạng lưới mới hay tăng hiệu quả các mạng lưới hiện có?
Việc trả lời các câu hỏi này sẽ giúp Trung tâm tận dụng được những mạng lưới hợp tác và nguồn tri thức sẵn có, hạn chế việc hình thành nhiều mạng lưới hoạt đồng chồng chéo. Đồng thời, qua đó các trung tâm ĐMST có thể xác định một số lĩnh vực cần duy trì hợp tác lâu dài, chẳng hạn cà phê, cây ăn quả, chế biến nông sản hoặc tận dụng phụ phẩm. Với mỗi lĩnh vực, hình thành mạng lưới gồm đại diện người sản xuất, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, cơ sở nghiên cứu, cơ quan quản lý, đơn vị cung cấp dịch vụ và chuyên gia phù hợp. Mạng lưới là nơi các bên thường xuyên trao đổi nhu cầu, chia sẻ kết quả nghiên cứu, nhận diện cơ hội hợp tác và thống nhất những hướng hành động chung. Khi một vấn đề cụ thể phát sinh, trung tâm cần huy động các thành viên có năng lực liên quan từ mạng lưới để tham gia giải quyết.
Đối với trường hợp tỉnh Đắk Lắk, việc vận hành mạng lưới nên tận dụng các đầu mối tri thức/chuyên gia đã có trong tỉnh và khu vực. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Đà Lạt... và các chuyên gia theo ngành có thể tham gia tùy theo lĩnh vực và nội dung hợp tác. Các kinh nghiệm của Hiệp hội cà phê tỉnh Đắk Lắk, các mô hình mạng lưới ĐMST do Đại học Tây Nguyên, WASI đang vận hành đều quy tụ đa dạng các tác nhân ĐMST đều có thể trở thành kinh nghiệm học tập.
Bên cạnh đó, các mạng lưới để hoạt động thường xuyên cần có các thông tin tối thiểu gồm chuyên gia và lĩnh vực chuyên môn, kết quả nghiên cứu hoặc công nghệ có thể chuyển giao, điều kiện áp dụng, cơ sở thử nghiệm, dịch vụ hỗ trợ và đầu mối liên hệ. Các trung tâm ĐSMT có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu như vậy hoặc liên kết dữ liệu đã có tại các viện trường và tổ chức chuyên ngành, đồng thời bổ sung thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Dữ liệu này cần được các bên cập nhật thường xuyên và kết nối với Sàn giao dịch KH&CN để hỗ trợ tìm kiếm đối tác khi xuất hiện nhu cầu.
Mỗi mạng lưới cần được phụ trách bởi ít nhất một cán bộ có chuyên môn, có các năng lực, kỹ năng về tổ chức các hoạt động ĐMST, kỹ năng về thực hiện chức năng trung gian ĐMST, có thể tổ chức trao đổi định kỳ về nhu cầu và kết quả nghiên cứu; xác định những vấn đề có thể cùng giải quyết; giới thiệu chuyên gia, công nghệ và địa điểm thử nghiệm; cùng xem xét kết quả để điều chỉnh hướng hợp tác.
3.3. Cơ chế tài chính bền vững để duy trì chức năng trung gian
Kết quả sơ bộ ban đầu của nghiên cứu chức năng trung gian ĐMST cho thấy không phải mọi chức năng trung gian đều có thể hoặc cần phải tạo doanh thu trực tiếp. Tính bền vững của chức năng trung gian không nhất thiết đồng nghĩa với khả năng tự chủ hoàn toàn bằng doanh thu dịch vụ. Cần xác định chức năng nào tạo lợi ích công, chức năng nào có thể thu phí và chức năng nào cần cơ chế đồng tài trợ, từ đó xây dựng mô hình tài chính hỗn hợp phù hợp với nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các Trung tâm ĐMST đóng vai trò trung gian. Dưới đây là một số gợi ý về cơ chế tài chính có thể cân nhắc để duy trì chức năng trung gian, dựa trên mức độ tạo ra lợi ích của các nhóm hoạt động:
|
Nhóm hoạt động |
Ví dụ |
Cơ chế tài chính có thể xem xét |
|
Tạo lợi ích chung cho hệ thống |
Điều phối mạng lưới, tổng hợp nhu cầu, phản hồi chính sách |
Ngân sách công, đặt hàng nhiệm vụ, tài trợ chương trình |
|
Tạo lợi ích cho nhóm đối tác |
Thử nghiệm chung, giải quyết vấn đề ngành hàng, đào tạo tập thể |
Đồng tài trợ, đóng góp từ đối tác, dự án hợp tác |
|
Tạo lợi ích trực tiếp cho khách hàng |
Tư vấn kỹ thuật, thử nghiệm theo yêu cầu, dịch vụ chuyển giao |
Hợp đồng dịch vụ, phí sử dụng cơ sở vật chất theo quy định |
3.4. Gắn sàn giao dịch KH&CN với chức năng thúc đẩy cơ hội thị trường và hợp tác ĐMST
Đến nay toàn quốc đã có 22 sàn giao dịch công nghệ trong đó 19 sàn tại các địa phương. Việc tham gia sàn giao dịch KH&CN có thể trở thành một công cụ quan trọng để các tổ chức trung gian thu thập thông tin, phân tích nhu cầu, thị trường và tìm kiếm kết nối nhu cầu với nguồn cung công nghệ, chuyên gia và dịch vụ hỗ trợ. Để phục vụ nông nghiệp hiệu quả, các dữ liệu được tổ chức trung gian đăng kí trên Sàn cần làm rõ một công nghệ đã được kiểm chứng trong điều kiện nào, phù hợp với nhóm người sử dụng nào, còn cần thử nghiệm hoặc hoàn thiện nội dung gì và đầu mối liên hệ là ai. Ở chiều ngược lại, thông tin về nhu cầu cần nêu được vấn đề cụ thể, quy mô dự kiến và điều kiện tiếp nhận của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Như vậy các thông tin trên sàn giao dịch cần giúp cho các bên hiểu nhu cầu của nhau, đảm bảo các giải pháp được giới thiệu có thể giải quyết được các vấn đề các bên gặp phải và đi đến kí kết hợp tác thực sự.
Kết quả đánh giá khi tham gia Sàn giao dịch KH&CN nên dựa trên số lượng kết nối được tạo ra và số lượng kết nối được triển khai thực sự. Điều này giúp các tổ chức quản lý tốt hiệu quả của sàn giao dịch. Đồng thời đánh giá được việc vận hành của sàn có bám sát với danh mục ưu tiên được xây dựng ban đầu hay không đề có điều chỉnh phủ hợp.
3.5. Bảo đảm nguồn lực và năng lực chuyên môn cho hoạt động trung gian
Các hoạt động trung gian trên thực tế không phải lúc nào cũng tự tạo ra các nguồn tài chính ngay lập tức để duy trì, trong bối cảnh Việt Nam, nó có thể tương tự các dịch vụ công nhiều hơn, để thực hiện được các chức năng, điều quan trọng là phải đảm bảo được nguồn lực và năng lực chuyên môn cho các hoạt động này. Vì vậy, các trung tâm ĐMST có thể trước mắt ngoài việc tự tìm các nguồn thu thông qua các hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh để hỗ trợ cho hoạt động trung gian. Hoặc tìm các nguồn tài trợ từ ngân sách hoặc tổ chức khác.
Bên cạnh tài chính, phát triển năng lực thực hiện các chức năng trung gian cho đội ngũ cán bộ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Mỗi một chức năng trung gian đều cần những nhóm năng lực, kỹ năng và công cụ cụ thể để triển khai. Ví dụ với nhóm chức năng huy động và điều phối các chủ thể và nguồn lực, năng lực tập hợp tác nhân, vận hành mạng lưới, xác định ưu tiên, điều phối hành động tập thể, kết nối nguồn lực là những năng lực chủ chốt. Hay nhóm chức năng thúc đẩy cơ hội thị trường và hợp tác sẽ đòi hỏi cán bộ phải có năng lực về nghiên cứu/phân tích nhu cầu thị trường, ghép nối đối tác, đàm phán hợp đồng, đánh giá công nghệ, sở hữu trí tuệ...Các trung tâm cần tiến hành giá năng lực, phân loại và tổ chức cho cán bộ tham gia các khóa tập huấn đào tạo để trang bị các năng lực kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, việc cho cán bộ tham gia cùng với các chuyên gia thực hiện những nhiệm vụ cụ thể cũng là một cách nâng cao năng lực nhanh chóng, hiệu quả.
Dưới đây là một số gợi ý về một số nhóm năng lực và kỹ năng cần trang bị để giúp các tổ chức thực hiện tốt các chức năng trung gian:
|
Nhóm năng lực |
Nội dung cần phát triển |
|
Phân tích nhu cầu và chuyển hóa vấn đề |
Chẩn đoán vấn đề thực tế, phân tích nguyên nhân, chuyển nhu cầu thành nhiệm vụ ĐMST |
|
Môi giới và điều phối hợp tác |
Kết nối đối tác, thương lượng lợi ích, xử lý khác biệt, xây dựng cam kết |
|
Phát triển và huy động nguồn lực |
Xây dựng phương án hợp tác, xác định nguồn tài chính, phân chia chi phí và rủi ro |
|
Theo dõi, học hỏi và chứng minh giá trị |
Theo dõi kết quả sau kết nối, đánh giá giá trị tạo ra, rút kinh nghiệm và đề xuất cải thiện |
3.6. Theo dõi kết quả, học hỏi và cải thiện hoạt động trung gian
Để chứng minh giá trị của chức năng trung gian, các tổ chức cần xây dựng một cơ chế để theo dõi và đánh giá hiệu quả triển khai chức năng trung gian thông qua việc thiết lập một bộ chỉ số đánh giá. Tuy nhiên, nên phân biệt giữa kết quả của hoạt động trung gian với kết quả cuối cùng của giải pháp ĐMST. Ví dụ, khi một HTX áp dụng thành công công nghệ mới, kết quả đó có thể do công nghệ, năng lực HTX, nguồn lực doanh nghiệp và hoạt động điều phối cùng tạo ra. Không thể quy toàn bộ kết quả là do vai trò trung gian của Trung tâm tạo nên. Có thể chia sử dụng ba cấp độ theo dõi:
|
Cấp độ |
Chỉ số gợi ý |
|
Kết quả trực tiếp của trung gian |
Số vấn đề được xác thực; số kết nối chuyển thành hợp tác thực chất; số thỏa thuận có phân công trách nhiệm |
|
Kết quả của hợp tác ĐMST |
Số giải pháp được thử nghiệm, điều chỉnh và tiếp tục sử dụng; nguồn lực được huy động; hợp tác được duy trì |
|
Giá trị đóng góp cho hệ thống |
Chi phí hoặc thời gian kết nối giảm; năng lực đối tác cải thiện; mô hình được nhân rộng; điểm nghẽn được xử lý |
Cách tiếp cận này giúp cho trung tâm không những xác định được tổ chức có thực hiện chức năng trung gian hay không, mà còn đánh giá hiệu quả và giá trị của các chức năng đó. Từ đó, Trung tâm có thể đưa ra những biện pháp phù hợp để cải thiện hoặc làm tốt hơn nữa các chức năng trung gian. Đây cũng chính là vấn đề mấu chốt của khả năng duy trì và tạo tác động bền vững của các chức năng trung gian.
4.Kết luận
Chức năng trung gian ĐMST giúp các chủ thể trong nông nghiệp cùng xác định vấn đề, trao đổi tri thức, thiết kế và điều chỉnh giải pháp, huy động nguồn lực, thử nghiệm và đưa giải pháp vào sử dụng. Bốn nhóm chức năng được trình bày trong tham luận cho thấy hoạt động trung gian cần gắn kết năng lực nghiên cứu, nhu cầu của nông dân và doanh nghiệp, cơ hội thị trường với môi trường chính sách. Các chức năng này có thể được thực hiện bởi nhiều tổ chức trong đó có các trung tâm DDMST địa phương.
Để hình thành và phát triển một tổ chức trung gian, có thể bắt đầu từ một số vấn đề nông nghiệp ưu tiên để hoàn thiện quy trình tiếp nhận nhu cầu, tổ chức hợp tác, thử nghiệm, theo dõi kết quả, điều chỉnh và phản hồi điểm nghẽn. Hiệu quả của chức năng trung gian có thể được xem xét qua mức độ giải pháp được tiếp nhận, tác động được tạo ra, năng lực của các bên được nâng lên và quan hệ hợp tác được duy trì. Từ đó, những kết quả và bài học này sẽ cung cấp căn cứ để tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế vận hành hệ thống ĐMST nôn