1. Mở đầu
Trong dòng chảy hiện đại hóa, nông thôn Việt Nam không chỉ là “không gian sản xuất”, mà là nền tảng ổn định xã hội và bệ đỡ phát triển quốc gia. Với một quốc gia mà cấu trúc dân cư vẫn mang đậm dấu ấn nông thôn, mọi chuyển động của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đều có sức lan tỏa hệ thống. Bước ngoặt thể chế từ ngày 01/7/2025, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành với 34 tỉnh, thành phố và 3.321 đơn vị cấp xã, phường, đặc khu, đã đặt nông thôn vào một cấu trúc quản trị mới, nơi cấp xã trở thành “tế bào điều hành” trực tiếp của phát triển. Trong bối cảnh đó, bài toán không còn là tăng trưởng đơn thuần, mà là tổ chức lại sản xuất theo quy mô, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Kinh tế tập thể, với hạt nhân là hợp tác xã kiểu mới, vì thế không chỉ là một khu vực kinh tế, mà là cơ chế tổ chức lại các nguồn lực phân tán của nông dân. Đồng thời, Chương trình xây dựng nông thôn mới, được hoàn thiện qua Bộ tiêu chí giai đoạn 2026–2030 theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2025), không chỉ kiến tạo hạ tầng, mà định hình một không gian phát triển tích hợp, nơi kinh tế, xã hội và quản trị cùng vận động.
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận kết hợp giữa phân tích lý luận và phân tích thực chứng, dựa trên dữ liệu từ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, 2026); Niên giám Thống kê (Tổng cục Thống kê, 2011, 2016, 2017, 2021, 2025) và các báo cáo chuyên đề. Các số liệu giai đoạn trước năm 2000 được xử lý theo phương pháp hồi cố thống kê nhằm phản ánh xu hướng dài hạn, không nhằm đo lường tuyệt đối. Trên cơ sở đó, bài viết nhận diện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tập thể và xây dựng nông thôn mới như một quá trình chuyển đổi kép, đồng thời làm rõ vai trò của cơ chế tích hợp giữa hai thiết chế này trong việc hình thành năng lực phát triển nội sinh của khu vực nông thôn trong bối cảnh thể chế mới.
2. Tổng quan lý thuyết và cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới
Kinh tế tập thể đã được nhiều trường phái lý thuyết quốc tế nghiên cứu. Nổi bật là lý thuyết hợp tác xã, kinh tế học thể chế mới và phát triển nông thôn hiện đại. Theo Liên minh Hợp tác xã Quốc tế, hợp tác xã là “một hiệp hội tự chủ của những cá nhân tự nguyện liên kết nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua một doanh nghiệp đồng sở hữu và quản trị dân chủ” (Liên minh Hợp tác xã Quốc tế, 2021, tr. 39). Định nghĩa này không chỉ nhận diện mô hình tổ chức mà còn làm rõ bản chất lưỡng diện của hợp tác xã: hợp tác xã là chủ thể kinh tế tham gia thị trường và cũng là thiết chế xã hội phục vụ lợi ích thành viên và cộng đồng.
Bổ sung cho cách tiếp cận này, Williamson (1979) cho rằng các thiết chế trung gian như hợp tác xã có vai trò “tiết kiệm chi phí giao dịch” (Williamson, 1979, tr. 233), từ đó góp phần tổ chức hiệu quả các quan hệ kinh tế trong điều kiện thông tin không hoàn hảo và thị trường chưa hoàn chỉnh. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nơi sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, hợp tác xã đóng vai trò cầu nối trong việc tập hợp nguồn lực, chuẩn hóa quy trình, nâng cao vị thế của nông dân và giảm thiểu rủi ro thị trường. Ở góc độ quản trị cộng đồng, Ostrom (1990) chứng minh rằng các cộng đồng địa phương có thể tự thiết kế và thực thi các quy tắc quản lý nguồn lực chung một cách hiệu quả nếu có các thiết chế phù hợp (Ostrom, 1990, tr. 90–102). Điều này cho thấy kinh tế tập thể không chỉ là một hình thức tổ chức kinh tế mà còn là một thiết chế quản trị xã hội bền vững.
Các lý thuyết phát triển nông thôn hiện đại cũng đã vượt khỏi quan niệm truyền thống khi không còn xem nông thôn chỉ là không gian sản xuất nông nghiệp, mà là một hệ sinh thái phát triển tổng hợp bao gồm kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị. Ngân hàng Thế giới (2005) nhấn mạnh rằng phát triển dựa vào cộng đồng là quá trình “trao quyền kiểm soát các quyết định quy hoạch và nguồn lực đầu tư cho các nhóm cộng đồng” (Ngân hàng Thế giới, 2005, tr. 2), qua đó khẳng định vai trò chủ động và đồng kiến tạo của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn.
Tại Việt Nam, xây dựng nông thôn mới được tiếp cận như một mô hình phát triển tổng hợp mang tính thể chế hóa, được cụ thể hóa thông qua hệ thống tiêu chí quốc gia đa chiều. Quyết định số 800/QĐ-TTg xác định mục tiêu “xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý” (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Các văn bản tiếp theo tiếp tục khẳng định rằng nông thôn mới không chỉ là nâng cấp hạ tầng mà còn là quá trình phát triển đồng bộ, tích hợp giữa kinh tế, xã hội, môi trường và hệ thống chính trị cơ sở (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Trong hệ thống lý luận của Đảng, kinh tế tập thể được xác định là “thành phần kinh tế quan trọng”, trong đó hợp tác xã giữ vai trò nòng cốt (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a). Luật Hợp tác xã năm 2023 tiếp tục thể chế hóa khi quy định kinh tế tập thể bao gồm tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, hoạt động trên các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, tự chủ và cùng có lợi (Quốc hội, 2023).
Từ việc tổng hợp các nền tảng lý thuyết trên, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tập thể và xây dựng nông thôn mới không phải là một sự lồng ghép chủ quan mà là một tất yếu nội tại. Ở cấp độ trừu tượng nhất, đây là mối quan hệ giữa hai đặc trưng cốt lõi của nông thôn hiện đại: một mặt, cần có phương thức tổ chức sản xuất để khắc phục thất bại thị trường và thất bại quản trị cho các hộ sản xuất nhỏ; mặt khác, cần có mô hình phát triển tổng thể cho không gian nông thôn. Lý thuyết hợp tác xã cung cấp phương thức tổ chức (dựa trên tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi) trong khi lý thuyết phát triển nông thôn hiện đại và khung chính sách nông thôn mới của Việt Nam cung cấp mục tiêu và không gian phát triển (hiện đại, bền vững, bao trùm). Điểm kết nối giữa chúng chính là vai trò của các thiết chế trung gian được nhấn mạnh bởi Williamson (1979) và Ostrom (1990). Các thiết chế đó (hợp tác xã, tổ hợp tác) vừa là công cụ để giảm chi phí giao dịch và quản lý nguồn lực chung – tức là tổ chức lại sản xuất – vừa là hiện thân của nguyên tắc dân chủ cơ sở và phát triển cộng đồng – tức là những mục tiêu xã hội cốt lõi của nông thôn mới. Do vậy, bản chất của mối quan hệ này không phải là một danh sách các phương diện tách rời, mà là một vòng lặp biện chứng: kinh tế tập thể là phương tiện để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội của nông thôn mới, đồng thời quá trình xây dựng nông thôn mới (thông qua đầu tư hạ tầng, hoàn thiện thể chế) lại tạo ra môi trường và nguồn lực cho kinh tế tập thể phát triển.
Tính tất yếu này cũng định hình nội dung cốt lõi của mối quan hệ, không phải dưới dạng một danh mục các lĩnh vực can thiệp, mà như một quá trình chuyển hóa lẫn nhau. Cụ thể, để nông thôn mới không chỉ là những con đường bê tông và trường học kiên cố, cần phải giải quyết bài toán tổ chức sản xuất cho nông dân – đó chính là chức năng của kinh tế tập thể. Ngược lại, để hợp tác xã không chỉ là những pháp nhân hình thức, cần phải có môi trường hạ tầng và thể chế đồng bộ – đó chính là sản phẩm của xây dựng nông thôn mới. Từ góc độ phân tích chính sách, việc đánh giá mối quan hệ này cũng không thể dừng lại ở các chỉ tiêu đơn lẻ. Mà thay vào đó, cần dựa trên việc xem xét liệu kinh tế tập thể có thực sự trở thành một kênh hiện thực hóa các mục tiêu của nông thôn mới (về thu nhập, việc làm, tiếp cận dịch vụ) một cách bền vững hay không, và liệu nông thôn mới có thực sự kiến tạo ra một không gian để kinh tế tập thể vận hành hiệu quả hay chỉ đơn thuần là một khung tiêu chí hình thức. Vận hành của mối quan hệ này, đến lượt nó, chịu tác động quyết định bởi năng lực của chính quyền cấp xã trong việc kết nối chính sách, năng lực nội tại của hợp tác xã, và đặc biệt là bối cảnh thị trường và các yếu tố ngoại sinh như hạ tầng số hay biến đổi khí hậu – bởi lẽ mục tiêu cuối cùng của cả hai quá trình đều là một nền nông nghiệp thích ứng và một cộng đồng nông thôn tự chủ.
Tóm lại, phát triển kinh tế tập thể không phải là một hợp phần bổ trợ trong xây dựng nông thôn mới, mà là cơ chế trung tâm tạo lập và khuếch đại năng lực phát triển nội sinh của khu vực nông thôn. Chính cơ chế này cho phép chuyển dịch trọng tâm từ mô hình phát triển dựa vào đầu tư hạ tầng sang mô hình phát triển dựa vào tổ chức sản xuất và năng lực cộng đồng, qua đó quyết định tính bền vững của quá trình hiện đại hóa nông thôn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới được hình thành và phát triển nhất quán qua các kỳ Đại hội, đồng thời không ngừng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Xuyên suốt quá trình này, Đảng luôn xác định kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cần được củng cố và phát triển lâu dài, cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xét theo tiến trình lịch sử, có thể nhận thấy sự vận động trong tư duy của Đảng từ mô hình hợp tác hóa nông nghiệp sang phát triển kinh tế tập thể theo cơ chế thị trường. Tại Đại hội IV (1976), kinh tế tập thể được đặt trong khuôn khổ hợp tác hóa nông nghiệp nhằm đưa sản xuất lên quy mô lớn, với quan điểm “xây dựng nhanh chóng thành phần kinh tế tập thể, tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp và đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình, 2019, tr.118, 119). Sang Đại hội VI (1986), cùng với bước ngoặt đổi mới, Đảng đã điều chỉnh cách tiếp cận khi nhấn mạnh việc cải tiến quản lý hợp tác xã và gắn kết với xây dựng nông thôn mới, thể hiện qua chủ trương “cải tiến quản lý nội bộ hợp tác xã, hoàn thiện phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, gắn liền việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật với xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr. 58).
Đại hội VII (1991), tư duy phát triển tiếp tục được mở rộng khi xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, gắn với phát triển sản xuất và ổn định kinh tế - xã hội, đồng thời khẳng định vai trò của hợp tác xã trong thực hiện các mục tiêu này: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr. 311, 389); “Cùng với chính quyền và các đoàn thể, hợp tác xã góp phần thực hiện các chính sách xã hội và xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr. 311, 393–394).
Đại hội X (2006), các nội dung về xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế tập thể bắt đầu được cụ thể hóa theo hướng gắn với tổ chức lại sản xuất và đa dạng hóa các hình thức hợp tác, thể hiện qua quan điểm “cần tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã với quy mô thích hợp... đẩy mạnh tiến trình xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr. 65–66). Tại Đại hội XI (2011), Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông thôn mới, coi việc phát triển kinh tế tập thể là điều kiện để nâng cao năng lực làm chủ của người dân, với định hướng “nâng cao chất lượng cuộc sống để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr. 333).
Đại hội XII (2016), tư duy phát triển được nâng lên một bước khi gắn chặt kinh tế tập thể với quá trình cơ cấu lại nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, trong đó nhấn mạnh “cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới... phát triển các loại hình kinh tế hợp tác...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr. 581, 649). Tại Đại hội XIII (2021), quan điểm này tiếp tục được phát triển theo hướng tích hợp, hiện đại và bền vững, với định hướng “phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, hướng tới mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr. 17). Đặc biệt, Đại hội XIV (2026), Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò chủ thể của nông dân trong mối liên kết kinh tế tập thể, coi đây là nền tảng của phát triển nông thôn bền vững: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 277).
Như vậy, có thể nhận thấy quan điểm của Đảng đã chuyển dịch từ việc coi kinh tế tập thể là công cụ tập thể hóa đơn thuần sang việc xác định đây là tổ chức sản xuất nòng cốt trong phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại và bền vững. Trong đó, kinh tế tập thể không chỉ đóng vai trò tổ chức sản xuất mà còn là công cụ thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội, góp phần nâng cao đời sống người dân, củng cố ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, các nghị quyết của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế tập thể theo hướng đổi mới, hiệu quả và phù hợp với cơ chế thị trường, đồng thời gắn kết chặt chẽ với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Điều này thể hiện rõ tư duy phát triển theo hướng tích hợp, trong đó kinh tế tập thể trở thành cầu nối giữa sản xuất, thị trường và quản trị nông thôn, qua đó đóng vai trò trung tâm trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
4. Thực trạng và vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới
4.1. Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất tập thể
Từ sau đổi mới, khu vực kinh tế tập thể đã trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc. Nếu trước năm 1986, hợp tác xã chủ yếu vận hành theo mô hình bao cấp, nặng về huy động lao động và tổ chức hành chính, thì từ sau năm 1986, quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi căn bản cơ sở tồn tại của khu vực này. Nhiều hợp tác xã yếu kém bị giải thể hoặc chuyển đổi, nhường chỗ cho các mô hình hợp tác xã kiểu mới dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Vì vậy, sự biến động về số lượng đơn vị và lao động trong khu vực kinh tế tập thể không chỉ phản ánh thay đổi quy mô, mà quan trọng hơn là phản ánh sự dịch chuyển từ mô hình hợp tác hình thức sang mô hình hợp tác dựa trên hiệu quả, dịch vụ và liên kết thị trường.
Bảng 1. Số lượng đơn vị và lao động trong khu vực kinh tế tập thể, 1986-2025
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị |
1986-1990 |
2010 |
2015 |
2020 |
2024-2025 |
|
Tổng số hợp tác xã |
HTX |
14.200* |
11.924 |
12.866 |
15.306 |
16.454 |
|
Trong đó: HTX nông, lâm, thủy sản |
HTX |
13.000* |
8.100* |
6.946 |
7.400* |
8.416 |
|
Lao động trong HTX |
Người |
4.500.000* |
251.541 |
212.939 |
167.033 |
65.985** |
|
Số lượng tổ hợp tác |
Đơn vị |
50.000* |
15.000* |
12.000* |
10.500* |
9.839 |
Ghi chú và Nguồn: Các số liệu có dấu (*) là ước tính của tác giả theo phương pháp hồi cố từ các nguồn: (i) số liệu giai đoạn 1986-1990 được ngoại suy từ Tổng cục Thống kê (1980, tr. 112, 245) và Đảng Cộng sản Việt Nam (2019a, tr. 678); (ii) số liệu tổ hợp tác các năm 2010, 2015, 2020 ước tính theo xu hướng suy giảm từ báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; (iii) số 8.100 (2010) từ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2010, tr. 15); số 7.400 (2020) ước tính từ xu hướng tăng trưởng giữa 2015 và 2024. Các số liệu có dấu (**) là lao động trong HTX nông, lâm, thủy sản tại thời điểm 31/12/2024 (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, 2026, tr. 160). Các số liệu còn lại (không có dấu) lấy từ Tổng cục Thống kê (Niên giám các kỳ) và Ban Chỉ đạo Tổng điều tra (2026).
Bảng 1 cho thấy số lượng hợp tác xã nông, lâm, thủy sản có xu hướng tăng trở lại trong giai đoạn gần đây, trong khi lao động trực tiếp trong hợp tác xã giảm mạnh từ 4,5 triệu người (1986-1990) xuống còn khoảng 66 nghìn người (2024-2025). Điều này cho thấy thiết chế nền (NTM) đã mở rộng về không gian hạ tầng và thể chế, nhưng thiết chế vận hành (KTTT) đang trong quá trình tái cấu trúc chứ chưa thực sự theo kịp. Sự dịch chuyển cơ cấu đầu vào trong hàm sản xuất phản ánh rõ tỷ lệ thay thế giữa lao động (L) và vốn - công nghệ (K, T) đã thay đổi căn bản. Theo logic của Williamson (1979), sự sụt giảm lao động là kết quả của quá trình "tiết kiệm chi phí giao dịch" và chuyên môn hóa chức năng. Nói cách khác, sự phát triển hiện nay không còn được đo chủ yếu bằng số lượng thành viên đông, mà bằng năng lực tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ và tham gia chuỗi giá trị.
4.2. Năng lực và hiệu quả vận hành kinh tế nông thôn
Cùng với sự thay đổi về loại hình tổ chức, năng lực vận hành của khu vực kinh tế tập thể và kinh tế nông thôn cũng có sự chuyển biến rõ nét. Các hợp tác xã nông, lâm, thủy sản hiện không chỉ thực hiện chức năng tập hợp hộ nông dân, mà còn tham gia cung ứng vật tư, dịch vụ kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa sản xuất, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Bảng 2. Năng lực kinh tế và công nghệ của khu vực sản xuất nông, lâm, thủy sản, 1986-2025
|
Chỉ tiêu năng lực |
Đơn vị |
1986 |
2010 |
2015 |
2020 |
2024-2025 |
|
Vốn bình quân/HTX nông, lâm, thủy sản |
Tỷ đồng |
<0,1* |
1,2* |
1,7* |
3,2* |
4,7 |
|
Vốn của doanh nghiệp nông, lâm, thủy sản |
Nghìn tỷ đồng |
<0,5* |
88,8 |
231,3 |
462,5 |
542,3 |
|
Năng suất lao động ngành nông, lâm, thủy sản |
Triệu đồng/LĐ |
0,5* |
15,0* |
30,8 |
52,7 |
106,4 |
|
Tỷ lệ hộ ứng dụng công nghệ |
% |
(không đáng kể) |
(dưới 1) |
(dưới 5) |
(dưới 6) |
9,15 |
|
Diện tích VietGAP/hữu cơ |
Nghìn ha |
(không đáng kể) |
(dưới 15) |
(khoảng 50) |
(khoảng 120) |
355,1 |
Ghi chú và Nguồn: Các số liệu có dấu (*) là ước tính của tác giả theo phương pháp hồi cố. Các số liệu không có dấu (*) là số liệu chính thức; Các số liệu trong dấu ngoặc đơn () ở hai chỉ tiêu cuối là mô tả xu hướng của tác giả, do hệ thống thống kê chưa ghi nhận đầy đủ số liệu cụ thể trước năm 2020; Nguồn số liệu chính thức: vốn bình quân HTX 2024-2025 (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra, 2026, tr. 170); vốn doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sách trắng các năm); năng suất lao động (Tổng cục Thống kê, Niên giám 2016, 2021, 2025); tỷ lệ ứng dụng công nghệ 2024-2025 (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2025, tr. 45); diện tích VietGAP/hữu cơ 2024-2025 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2025, tr. 28).
Bảng 2 cho thấy vốn bình quân của hợp tác xã nông, lâm, thủy sản đã tăng đáng kể, lên 4,7 tỷ đồng, và năng suất lao động đạt 106,4 triệu đồng/lao động (cao hơn khoảng 7 lần so với năm 2010). Tuy nhiên, năng suất này vẫn chỉ bằng khoảng một nửa mức bình quân chung của nền kinh tế. Quan hệ tích hợp giữa hai thiết chế mới chỉ hình thành ở mức điều kiện (hạ tầng, vốn), chưa chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực chất. Dưới góc nhìn của Ostrom (1990), những cải thiện về vốn và công nghệ mới dừng ở "thiết chế vận hành" sơ khai, thiếu vắng các quy tắc quản lý cộng đồng bền vững để chuyển hóa nguồn lực thành năng suất thực tế. Điểm nghẽn cốt lõi: tỷ lệ ứng dụng công nghệ chỉ 9,15%, quy mô sản xuất theo tiêu chuẩn mới đạt 355,1 nghìn ha.
4.3. Kết quả xây dựng nông thôn mới và tác động đến kinh tế tập thể
Nếu kinh tế tập thể là phương thức tổ chức sản xuất và liên kết cộng đồng, thì xây dựng nông thôn mới là môi trường thể chế - hạ tầng để phương thức đó vận hành hiệu quả. Vì vậy, mặc dù Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới chỉ chính thức triển khai từ năm 2010, việc phân tích tác động của nông thôn mới đối với kinh tế tập thể cần được đặt trong chuỗi dài hơn từ năm 1986 đến năm 2025.
Bảng 3. Các chỉ số chuyển biến nông thôn mới và OCOP, 1986-2025
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị |
1986-1990 |
2000 |
2010 |
2016 |
2020 |
2024 |
2025 |
|
Trạng thái chương trình NTM |
Mô tả |
Chưa có CTMTQG; trọng tâm là đổi mới sản xuất và kinh tế hộ |
Giai đoạn tiền NTM; thử nghiệm mô hình |
Bắt đầu CTMTQG NTM |
Mở rộng thực hiện |
Tăng tốc đạt chuẩn |
Chuyển sang nâng cao, kiểu mẫu |
Hoàn thiện diện bao phủ |
|
Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM |
% |
Chưa áp dụng |
Chưa áp dụng |
0,00 |
23,12 |
62,00* |
78,00* |
79,33 |
|
Xã đạt chuẩn NTM nâng cao |
Xã |
Chưa áp dụng |
Chưa áp dụng |
0 |
0 |
500* |
2.100* |
2.567 |
|
Tỷ lệ xã đăng ký sản phẩm OCOP |
% |
Chưa áp dụng |
Chưa áp dụng |
0,00 |
0,00 |
40,59 |
65,00* |
70,29 |
|
Tỷ lệ xã có sản phẩm OCOP được phân hạng |
% |
Chưa áp dụng |
Chưa áp dụng |
0,00 |
0,00 |
35,93 |
80,00* |
89,14 |
|
Tỷ lệ thôn có điện lưới quốc gia |
% |
Đang mở rộng |
Đang mở rộng |
85,0* |
96,33 |
98,5* |
99,2* |
99,40 |
|
Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm |
% |
Đang mở rộng |
Đang mở rộng |
95,0* |
99,43 |
99,6* |
99,7* |
99,71 |
Ghi chú và Nguồn: Các số liệu có dấu (*) là ước tính của tác giả theo phương pháp hồi cố từ xu hướng trung bình các năm liền kề hoặc từ báo cáo thường niên của Chương trình NTM; Các số liệu không có dấu (*) là số liệu chính thức; Các số liệu năm 2016, 2020 (OCOP), 2025 lấy từ Tổng cục Thống kê (2017), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021), và Ban Chỉ đạo Tổng điều tra (2026); Các chỉ tiêu trước năm 2010 ghi "chưa áp dụng" hoặc "Đang mở rộng" là mô tả xu hướng do chưa có khung đo lường chính thức.
Bảng 3 cho thấy đến năm 2025, tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM đạt 79,33%, tỷ lệ thôn có điện đạt 99,40%, tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm đạt 99,71%. Điều này khẳng định NTM đóng vai trò "thiết chế nền" (institutional environment) theo Ostrom (1990), tạo ra khung hạ tầng và thể chế. Trong khi đó, kinh tế tập thể với tư cách "thiết chế vận hành" (institutional arrangement) lại chưa theo kịp: lao động trong HTX giảm sâu, tỷ lệ ứng dụng công nghệ chỉ 9,15%, năng suất lao động chỉ bằng một nửa bình quân nền kinh tế. Đáng chú ý, Chương trình OCOP đã trở thành cầu nối quan trọng: tỷ lệ xã có sản phẩm được phân hạng tăng từ 35,93% (2020) lên 89,14% (2025). Tuy nhiên, trong khi NTM đã đạt mức bao phủ cao về hạ tầng và tiêu chí, thì KTTT chưa tương xứng về năng lực tổ chức sản xuất, cho thấy sự mất cân đối giữa thiết chế nền và thiết chế vận hành. Đây chính là nguyên nhân làm cho mối quan hệ giữa hai quá trình chưa chuyển hóa thành hiệu quả phát triển nội sinh.
Tóm lại, từ các kết quả trên có thể khẳng định rằng, kinh tế tập thể chỉ thực sự phát huy vai trò khi được đặt trong một không gian phát triển thể chế phù hợp, và ngược lại, xây dựng nông thôn mới chỉ đạt hiệu quả bền vững khi được chuyển hóa thành năng lực tổ chức sản xuất thông qua các thiết chế kinh tế tập thể. Xét trên toàn chuỗi thời gian 1986-2025, xây dựng nông thôn mới đã chuyển từ nền tảng tiền đề về đổi mới sản xuất và hạ tầng nông thôn sang một chương trình phát triển tổng hợp có bộ tiêu chí đo lường cụ thể. Tác động của NTM đối với KTTT không chỉ nằm ở việc tạo điều kiện vật chất, mà còn ở việc mở rộng không gian thị trường và nâng cao yêu cầu quản trị đối với các hợp tác xã. Ngược lại, KTTT chính là công cụ để chuyển hóa các điều kiện hạ tầng và thể chế của NTM thành kết quả thực chất về tổ chức sản xuất, thu nhập, việc làm và phát triển cộng đồng.
4.4. Những vấn đề đặt ra
Mặc dù phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 1986-2025 đã trải qua thanh lọc, phục hồi và tái cấu trúc, nhưng các điểm nghẽn về năng lực quản trị, vốn, đất đai, công nghệ, liên kết thị trường và thích ứng biến đổi khí hậu vẫn còn rõ nét. Cụ thể:
Thứ nhất, sự phát triển của kinh tế tập thể hiện nay đã chuyển từ tăng số lượng sang nâng cao chất lượng, nhưng tốc độ chuyển đổi chưa đồng đều. Số lượng hợp tác xã nông, lâm, thủy sản tăng trở lại, song lao động trực tiếp giảm mạnh, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tái đào tạo nhân lực, chuẩn hóa quản trị và thúc đẩy chuyển đổi số trong hợp tác xã.
Thứ hai, Chương trình NTM và OCOP đã tạo ra động lực mới cho kinh tế tập thể, nhưng sự gắn kết giữa hợp tác xã với chuỗi giá trị vẫn chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ xã có sản phẩm OCOP được phân hạng tăng nhanh là tín hiệu tích cực, nhưng để OCOP trở thành động lực dài hạn, hợp tác xã cần được nâng cao năng lực về quản trị thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và liên kết doanh nghiệp.
Thứ ba, thách thức về năng suất lao động vẫn là điểm nghẽn cốt lõi. Mặc dù năng suất lao động ngành nông, lâm, thủy sản tăng mạnh, mức năng suất này vẫn thấp hơn đáng kể so với bình quân chung của nền kinh tế. Điều đó cho thấy phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tới không thể chỉ dựa vào mở rộng số lượng hợp tác xã hay hoàn thành tiêu chí hạ tầng, mà phải chuyển sang mô hình phát triển dựa trên công nghệ, quản trị, dữ liệu, tiêu chuẩn xanh và chuỗi giá trị.
Thứ tư, chuỗi phát triển 1986-2025 cho thấy “vòng lặp” giữa KTTT và NTM mới được thiết lập rõ sau năm 2010, nhưng chưa vận hành đầy đủ. NTM đã tạo ra hạ tầng và không gian thị trường, song chưa phải ở đâu cũng chuyển hóa thành năng lực sản xuất hiện đại. KTTT đã có sự phục hồi về tổ chức, nhưng chưa đủ mạnh để trở thành cơ chế trung tâm dẫn dắt phát triển nội sinh ở nông thôn.
5. Hàm ý chính sách
Tiến trình hiện đại hóa ở Việt Nam thời gian tới đặt trọng tâm vào nâng cao năng suất, chuyển đổi số và phát triển bền vững, do đó nông thôn không thể tiếp tục là không gian sản xuất nhỏ lẻ mà phải chuyển thành hệ sinh thái kinh tế năng động dựa trên tổ chức lại sản xuất và nội lực cộng đồng. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tập thể và xây dựng nông thôn mới trong tiến trình hiện đại hóa ở Việt Nam đòi hỏi chính sách phải chuyển từ cách tiếp cận lồng ghép hành chính sang thiết kế cơ chế phát triển tích hợp, trong đó kinh tế tập thể giữ vai trò thiết chế tổ chức sản xuất, còn nông thôn mới là thiết chế nền tạo lập môi trường vận hành. Theo đó, các hàm ý chính sách cụ thể như sau:
Thứ nhất, chuẩn hóa năng lực quản trị hợp tác xã như một điều kiện thực thi tiêu chí tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập trong nông thôn mới. Theo logic của kinh tế học thể chế, hiệu quả của hợp tác xã phụ thuộc trực tiếp vào khả năng giảm chi phí giao dịch và điều phối hành vi tập thể. Do đó, cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực HTX theo các nhóm về minh bạch tài chính, năng lực thị trường và mức độ tham gia của thành viên, đồng thời gắn kết quả đánh giá với khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ. Việc này giúp chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, qua đó củng cố vai trò của HTX trong thực hiện tiêu chí kinh tế của nông thôn mới.
Thứ hai, tái thiết kế cơ chế tín dụng theo hướng dựa trên dòng tiền và liên kết thị trường thay vì tài sản thế chấp. Điều này không chỉ tháo gỡ rào cản tiếp cận vốn mà còn thúc đẩy HTX gắn với các chuỗi giá trị và hợp đồng tiêu thụ ổn định. Khi tín dụng được thiết kế gắn với đầu ra sản xuất, kinh tế tập thể sẽ trở thành công cụ trực tiếp để hiện thực hóa mục tiêu phát triển sản xuất và tăng thu nhập trong chương trình nông thôn mới.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế đất đai theo hướng tạo điều kiện cho sản xuất tập thể quy mô lớn. Việc cho phép HTX tiếp cận đất đai tập trung với thời hạn ổn định và cơ chế sử dụng linh hoạt sẽ giúp giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ và yêu cầu phát triển quy mô lớn. Đây cũng là điều kiện để HTX thực hiện vai trò tổ chức sản xuất, thay vì chỉ cung ứng dịch vụ rời rạc như hiện nay.
Thứ tư, chuyển Chương trình OCOP từ công cụ phân hạng sản phẩm sang thiết chế phát triển chuỗi giá trị. Trong đó, HTX cần được định vị là chủ thể trung gian kết nối sản xuất, chế biến và thị trường. Cách tiếp cận này phù hợp với lý thuyết thiết chế cộng đồng khi HTX không chỉ là đơn vị kinh tế mà còn là cơ chế điều phối lợi ích và phân bổ giá trị trong cộng đồng nông thôn.
Thứ năm, tích hợp kinh tế tập thể vào các tiêu chí chuyển đổi số, kinh tế xanh và thích ứng biến đổi khí hậu. HTX cần được xác định là chủ thể tổ chức thực hiện chuyển đổi số ở cấp cơ sở, với lộ trình từ số hóa quản lý đến quản trị sản xuất thông minh. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn mở rộng không gian thị trường và tăng khả năng thích ứng của kinh tế nông thôn.
Thứ sáu, trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần tái cấu trúc cơ chế phân cấp theo hướng phân định rõ chức năng giữa các cấp quản trị. Cấp tỉnh tập trung vào thiết kế thể chế và phân bổ nguồn lực, trong khi cấp xã đảm nhận vai trò tổ chức thực thi, kết nối các chủ thể và giám sát quá trình phát triển kinh tế tập thể gắn với tiêu chí nông thôn mới. Sự phân định này giúp nâng cao hiệu lực điều hành và giảm áp lực hành chính cho cấp cơ sở.
Thứ bảy, chuyển sang cơ chế giám sát dựa trên kết quả đầu ra thay vì chỉ theo dõi chỉ tiêu đầu vào. Hệ thống đánh giá cần tập trung vào các chỉ số phản ánh thực chất như thu nhập của thành viên HTX, mức độ tham gia thị trường, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân. Điều này bảo đảm rằng mối quan hệ giữa kinh tế tập thể và nông thôn mới được đo lường dựa trên hiệu quả thực tế, không phải hình thức.
Tổng thể, các hàm ý chính sách hướng tới một chuyển dịch căn bản từ tư duy “lồng ghép chính sách” sang “thiết kế cơ chế phát triển tích hợp”. Trong đó, kinh tế tập thể được hiểu là phương thức tổ chức và huy động nội lực cộng đồng, còn nông thôn mới là không gian thể chế và hạ tầng để phương thức đó vận hành hiệu quả. Khi hai yếu tố này được tích hợp thành một cơ chế thống nhất, quá trình hiện đại hóa nông thôn sẽ chuyển từ phụ thuộc vào đầu tư công sang dựa trên năng lực nội sinh, qua đó bảo đảm tính bền vững trong dài hạn.
5. Kết luận
Phát triển kinh tế tập thể gắn với xây dựng nông thôn mới là mối quan hệ biện chứng, đồng kiến tạo giữa phương thức tổ chức sản xuất và mô hình phát triển nông thôn. Thực tiễn 1986-2025 cho thấy nông thôn mới với tư cách "thiết chế nền" đã đạt mức bao phủ cao về hạ tầng và tiêu chí, trong khi kinh tế tập thể với tư cách "thiết chế vận hành" đang chuyển dịch cơ cấu từ thâm dụng lao động sang dựa vào vốn và công nghệ. Tuy nhiên, sự mất cân đối giữa hai thiết chế này là điểm nghẽn lớn nhất: thiết chế nền mở rộng nhưng thiết chế vận hành chưa theo kịp, khiến mối quan hệ tích hợp mới chỉ dừng ở điều kiện vật chất mà chưa chuyển hóa thành năng lực sản xuất nội sinh. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không còn là phát triển kinh tế tập thể hay hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới một cách riêng lẻ, mà là thiết kế được cơ chế tích hợp để hai quá trình này vận hành như một hệ thống thống nhất, trong đó kinh tế tập thể là kênh chuyển hóa hạ tầng và thể chế thành kết quả thực chất về tổ chức sản xuất, thu nhập và việc làm. Định hướng chính sách cho giai đoạn tới cần chuyển từ tư duy "lồng ghép hành chính" sang "thiết kế cơ chế phát triển", lấy nâng cao năng lực quản trị và thị trường của khu vực kinh tế tập thể làm trọng tâm.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. (2026). Kết quả chính thức Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2019). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2020). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2024). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2024. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2025. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2021). Báo cáo tổng kết Chương trình OCOP 2020. Hà Nội.
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2025). Báo cáo tổng hợp kết quả Chương trình OCOP và truy xuất nguồn gốc 2024. Hà Nội.
8. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2025). Báo cáo chỉ số chuyển đổi số Việt Nam (DTI) 2024. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2019a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Phần I: Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2019b). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Phần II: Đại hội X, XI, XII). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
14. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. (2019). Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
15. Liên minh Hợp tác xã Quốc tế. (2021). Co-operative identity, values and principles. International Co-operative Alliance.
16. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. (2010). Báo cáo tổng kết năm 2010. Hà Nội.
17. Ngân hàng Thế giới. (2005). Community-driven development: A primer. World Bank.
18. Ostrom, E. (1990). Governing the commons: The evolution of institutions for collective action. Cambridge University Press.
19. Quốc hội. (2023). Luật Hợp tác xã. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
20. Thủ tướng Chính phủ. (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010–2020. Hà Nội.
21. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025. Hà Nội.
22. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030. Hà Nội.
23. Tổng cục Thống kê. (1980). Kinh tế và văn hóa Việt Nam 1930–1980. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
24. Tổng cục Thống kê. (2011). Niên giám Thống kê Việt Nam 2010. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
25. Tổng cục Thống kê. (2016). Niên giám Thống kê Việt Nam 2015. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
26. Tổng cục Thống kê. (2017). Niên giám Thống kê Việt Nam 2016. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
27. Tổng cục Thống kê. (2021). Niên giám Thống kê Việt Nam 2020. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
28. Tổng cục Thống kê. (2025). Niên giám Thống kê Việt Nam 2024. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
29. Williamson, O. E. (1979). Transaction-cost economics: The governance of contractual relations. Journal of Law and Economics, 22(2), 233–261.