Đảng Cộng sản Việt Nam: Những dấu ấn lịch sử và khát vọng vươn mình qua 14 kỳ Đại hội

Trải qua gần một thế kỷ lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền dân tộc vượt qua những thác ghềnh lịch sử để hướng tới kỷ nguyên vươn mình. Mỗi kỳ Đại hội là một bước ngoặt chiến lược, kết tinh trí tuệ toàn Đảng, toàn dân để giải quyết các nhiệm vụ cách mạng cấp bách và định hướng tầm nhìn dài hạn cho đất nước trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

2330356476522192747-1768787042.jpg

Mỗi kỳ Đại hội là một bước ngoặt chiến lược, kết tinh trí tuệ toàn Đảng và toàn dân

Đại hội I (3/1935): Phục hồi hệ thống và giữ vững ngọn lửa cách mạng

Diễn ra tại Ma Cao, Trung Quốc trong bối cảnh thực dân Pháp thực hiện chính sách khủng bố trắng sau cao trào 1930-1931, Đại hội I là cuộc hồi sinh kỳ diệu của tổ chức Đảng. Với 13 đại biểu đại diện cho khoảng 600 đảng viên đang hoạt động bí mật, Đại hội đã thống nhất các tổ chức Đảng bị chia cắt, khẳng định sự tồn tại hiên ngang của Đảng trước kẻ thù. Việc khôi phục hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương trong giai đoạn này đã tạo tiền đề sống còn để Đảng bám rễ sâu trong quần chúng, xây dựng các tổ chức tự vệ vũ trang, chuẩn bị lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Đại hội II (2/1951): Đại hội kháng chiến thắng lợi

Tại xã Vinh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, quy tụ 158 đại biểu đại diện cho hơn 766.000 đảng viên. Đây là kỳ Đại hội đầu tiên tổ chức trong nước, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về bản lĩnh cầm quyền. Bằng việc thông qua Chính cương và quyết sách đẩy mạnh cải cách ruộng đất để bồi dưỡng sức dân, Đảng đã làm sáng tỏ lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Những quyết sách từ Đại hội này là ngọn đuốc soi đường cho cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn tổng phản công, dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.

Đại hội III (9/1960): Xây dựng Miền Bắc, giải phóng Miền Nam

Đại hội diễn ra tại Hà Nội trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Với 525 đại biểu đại diện cho hơn 500.000 đảng viên, Đảng đã hoàn thiện đường lối cách mạng song hành: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đóng vai trò quyết định trực tiếp. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) được thông qua đã biến miền Bắc thành hậu phương lớn vững chắc, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để dân tộc đi tới thắng lợi cuối cùng vào mùa Xuân năm 1975.

Đại hội IV (12/1976): Đại hội của niềm tin và thống nhất

Sau đại thắng 1975, cả nước hòa bình, thống nhất, Đại hội IV quy tụ 1.008 đại biểu đại diện cho hơn 1,5 triệu đảng viên. Đảng chính thức lấy lại tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam, xác lập kỷ nguyên cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm là nhanh chóng khắc phục vết thương chiến tranh và thống nhất quản lý nhà nước. Dù đối mặt với nhiều khó khăn hậu chiến, Đại hội đã thể hiện khát vọng mãnh liệt về một Việt Nam độc lập, tự do, bắt đầu thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa tại miền Nam và thiết lập hệ thống quản lý kinh tế thống nhất trên quy mô toàn quốc.

Đại hội V (3/1982): Kiên trì mục tiêu trong gian khó

Trong bối cảnh đất nước đối mặt với khủng hoảng kinh tế và xung đột biên giới diễn biến phức tạp, Đại hội V với 1.033 đại biểu đã dũng cảm nhìn nhận những sai lầm trong quản lý. Một sự chuyển dịch quan trọng đã diễn ra khi Đảng xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ưu tiên sản xuất lương thực và hàng tiêu dùng thay vì tập trung quá mức vào công nghiệp nặng. Đây là giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm những nhân tố mới, chuẩn bị tiền đề quan trọng cho công cuộc Đổi mới sau này.

Đại hội VI (12/1986): Bước ngoặt Đổi mới - Sự lựa chọn sinh tồn

Khi lạm phát phi mã lên tới 774,7% và nguồn viện trợ giảm mạnh, Đại hội VI đã đi vào lịch sử với tinh thần "Nhìn thẳng vào sự thật". Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện, xóa bỏ cơ chế bao cấp và thừa nhận kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Quyết sách này không chỉ cứu nguy cho chế độ mà còn giải phóng sức sản xuất thần kỳ, đưa Việt Nam từ một nước thiếu ăn kinh niên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử hiện đại.

Đại hội VII (6/1991): Cương lĩnh và bản lĩnh chính trị

Diễn ra giữa lúc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đại hội VII mang sứ mệnh giữ vững ổn định chính trị. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (Cương lĩnh 1991) đã trở thành kim chỉ nam cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Đảng kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, giúp đất nước phá vỡ thế bị bao vây cấm vận, bình thường hóa quan hệ với các cường quốc và bắt đầu hội nhập thực thụ vào nền kinh tế toàn cầu.

Đại hội VIII (6/1996): Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá

Sau 10 năm Đổi mới với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8,2%/năm, Đại hội VIII xác định Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng và chuyển sang giai đoạn mới. Đảng lấy khoa học công nghệ làm động lực, đặt mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Đây là thời kỳ bùng nổ của các khu công nghiệp, khu chế xuất và chủ động tham gia các liên kết kinh tế khu vực như ASEAN, AFTA, tạo nền tảng vững chắc để bước vào thiên niên kỷ mới.

Đại hội IX (4/2001): Khẳng định đường lối kinh tế thị trường

Đại hội IX đánh dấu bước đột phá về lý luận khi chính thức khẳng định mô hình "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Với hơn 2,4 triệu đảng viên, Đảng thống nhất nhận thức về việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Những cải cách mạnh mẽ về bộ máy hành chính và thể chế trong nhiệm kỳ này đã chuẩn bị "đường băng" cho Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu.

Đại hội X (4/2006): Trí tuệ và hội nhập toàn diện

Trước thềm gia nhập WTO, Đại hội X đã đưa ra quyết sách mang tính lịch sử khi cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đảng xác định khu vực tư nhân là động lực quan trọng, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ. Với sự bứt phá này, năm 2008, Việt Nam chính thức thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển để gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, mở ra thời kỳ vàng của toàn cầu hóa.

Đại hội XI (1/2011): Ba đột phá chiến lược

Để giải quyết những bất cập nội tại sau giai đoạn tăng trưởng nóng, Đại hội XI thông qua Cương lĩnh bổ sung 2011 và đề ra ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng. Đảng chuyển trọng tâm từ tăng trưởng số lượng sang chất lượng, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế và ổn định vĩ mô. Thu nhập bình quân đầu người lúc này đạt khoảng 1.300 USD, đặt nền móng cho một nền kinh tế bền vững và hiện đại hơn.

Đại hội XII (1/2016): Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt

Đại hội XII đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng và chỉnh đốn bộ máy lên vị trí hàng đầu. Quyết tâm chính trị làm sạch bộ máy với tinh thần "không có vùng cấm" trong phòng chống tham nhũng đã tạo ra chuyển biến tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Sự ổn định chính trị và kỷ cương được siết chặt đã giúp kinh tế duy trì đà tăng trưởng cao, dự trữ ngoại hối đạt mức kỷ lục gần 100 tỷ USD vào cuối nhiệm kỳ, củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân.

Đại hội XIII (1/2021): Khát vọng hóa rồng năm 2045

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và biến động toàn cầu, Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh với các cột mốc cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn 2045. Đảng xác định lấy con người là trung tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và ứng dụng đổi mới sáng tạo. Mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025 là minh chứng cho sự nhạy bén của Đảng trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đại hội XIV (2026): Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Hướng tới Đại hội XIV, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng về thể chế và năng suất lao động. Với quy mô nền kinh tế dự kiến vượt 500 tỷ USD, nhiệm vụ trọng tâm là tinh gọn bộ máy, làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), chip bán dẫn và năng lượng xanh. Đây là thời điểm dân tộc Việt Nam tự tin khẳng định vị thế cường quốc mới nổi, bứt phá để trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Xuyên suốt hành trình qua 14 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh tự đổi mới để thích ứng với thời đại. Từ giành độc lập đến công cuộc Đổi mới và hội nhập, sự gắn bó mật thiết giữa ý Đảng và lòng dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp vượt mọi thách thức. Trong kỷ nguyên mới, với khát vọng vươn mình mạnh mẽ, Đảng tiếp tục dẫn dắt dân tộc vững bước trên con đường phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm thực hiện tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu.