Không có con đường nào trải đầy hoa

Cuộc đời thử thách tôi nhiều công việc khác nhau. “Nhà nông” cho tôi sự kiên nhẫn. “Nhà binh” cho tôi lòng quả cảm. “Nhà nước” cho tôi liêm sỉ. “Nhà buôn” cho tôi biết giá trị. “Nhà báo” cho tôi sự thật. “Nhà giáo” cho tôi sự chuẩn mực, mô phạm. “Nhà văn” cho tôi tình yêu và lòng trắc ẩn. Nhưng đáng nhớ nhất trong đời là sau khi tốt nghiệp cao học, tôi đã chạm tới ước mơ từ thời tiểu học: Làm “Nhà giáo”.

Bậc tiểu học “2 lớp”

Sinh ra và lớn lên ở làng Như Lệ, Quảng Trị cuối những năm 50 của thế kỷ trước trong thời đất nước chiến tranh, tôi nào biết đến trường học và lớp 1, lớp 2 là gì. Thầy dạy tôi biết chữ, làm toán là một ông giáo làng già mở lớp dạy trẻ con tại nhà riêng có tên Thầy Chữ. Ông rất nghiêm khắc, tay thường cầm một cây roi mây dài, cứ nhịp nhịp. Thi thoảng, lớp học râm ran chuyện trò, không tập trung làm bài, ông đập mạnh cái roi xuống bàn kêu “bộp” một cái, khiến cả lớp ai nấy đều thất kinh hồn vía, im phăng phắc. Ấy vậy nhưng tôi chưa thấy ông đánh ai bao giờ. Đứa nào hư, cuối giờ học thầy bắt ở lại tập viết thêm vài trang giấy mới cho về.

Mỗi buổi chiều tan học, khi ánh chiều tà dần buông, chúng tôi ra ngõ, ngoái lại nhìn ông giáo làng, ông cũng nhìn theo chúng tôi trìu mến, thấp thoáng bóng dáng của một người cha, người ông.

Khoảng cuối năm 1968 đầu năm 1969, ngôi trường làng hoang phế nằm trơ khung tự bao giờ được sửa sang, mở cửa trở lại, lớp trẻ chúng tôi náo nức cắp sách đến trường. Cái tên “Trường Tiểu học cộng đồng Như Lệ” gắn  với tên làng là tài sản có giá trị tinh thần to lớn của đời tôi từ đó.

Sau một cuộc kiểm tra nhỏ, tôi được xếp vào học thẳng lớp 3. Nhưng chỉ hơn 1 tháng, thầy Hiệu trưởng đột nhiên gọi tên mấy đứa lớn tồng ngồng của lớp – trong đó có tôi, dẫn theo cho lên học lớp 4, năm sau tôi lên lớp 5. Vốn là một cậu bé ngoan, chăm học, tôi luôn được nhận “Bảng Danh dự” với thứ hạng nhất, nhì mỗi tháng. Trước năm 1975, giáo dục tiểu học ở miền Nam xếp hạng học tập và tặng “Bảng Danh dự” hàng tháng và cả năm cho học sinh học lực giỏi, đứng đầu lớp và hạnh kiểm tốt được xếp hạng Ưu tú, sau đó đến hạng Nhất, Nhì, Ba, Tư, Năm. Năm học cuối cấp tiểu học tôi đạt học sinh Ưu tú duy nhất của trường cùng khoảng 10 học sinh lớp 5 thuộc các trường tiểu học khác của tỉnh được vinh danh trong một buổi lễ tổ chức long trọng tại Tòa Tỉnh trưởng.

Cùng năm đó, tôi thi đỗ vào trường Trung học Nguyễn Hoàng – trường công danh tiếng duy nhất của tỉnh ở bậc trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp lúc bấy giờ.

Ngày tháng trôi qua, vào một đêm tháng Ba năm 1972, tiếng thì thào của người lớn lúc trời gần sáng làm tôi tỉnh giấc. Tôi thấy người chú ruột của tôi là xã đội trưởng du kích hoạt động bí mật đang nói chuyện thì thầm với cha tôi, rằng:

-  Ngay sáng ngày mai, cả làng phải di tản về vùng đồng bằng để tránh nguy hiểm đến tính mạng, vì ở đây sắp có giao tranh lớn.  

Sáng hôm sau, cả nhà sửa soạn mang theo những thứ cần thiết nhất để ra đi.

Trời sáng rõ, mặt trời dần lên cao, những tia nắng vàng của mùa xuân vô tư tỏa xuống xóm làng, quấn quít bên những mái nhà sắp vắng bóng người. Tôi lẳng lặng đứng nhìn mái nhà tranh quá đỗi thân quen, nơi tôi sinh ra và lớn lên với bao kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ mà lòng xốn xang vô kể.

Cả nhà nấn ná, cuối cùng cũng phải gồng gánh đi theo dân làng. Tôi đi ngang qua ngôi trường làng, nơi tôi hoàn tất bậc tiểu học chỉ hơn 2 năm học, cũng là nơi khởi đầu ước mơ mình sẽ làm thầy giáo. Ngoảnh mặt nhìn cánh cổng trường đã đóng, lòng tôi bâng khuâng như chính nó đã khép lại tuổi thơ học trò ngắn ngủi của tôi vậy.

 Dòng người di tản đến bốt lính gác ở chiếc cầu đầu làng có tên gọi là Cầu Đúc thì bị lính địa phương quân – một sắc lính thời chế độ Sài Gòn – chặn lại không cho di tản. Tên chỉ huy quát:

-  Lính “quốc gia” còn đây, chạy đi đâu? Tất cả về nhà đi.

Dân làng cương quyết không chịu về, cứ đứng dồn lại ở đầu cầu  mỗi lúc càng đông. Một chị trung tuổi, tôi đoán có lẽ là người được chính quyền cách mạng bí mật giao nhiệm vụ hướng dẫn người dân di tản, giọng oang oang cãi lại:

-  Dân làng không chịu đựng được nữa rồi, nửa đêm nửa hôm, ban ngày ban mặt, các ông bắn ca-nong (đại bác) vô giữa làng, buộc phải di tản thôi.

-  Nói láo, ca-nong vô giữa làng đâu lên chỉ, không tao đập bể sọ. Tên chỉ huy tay cầm gậy baton hùng hổ xông tới chĩa vào người phụ nữ, người dân nhao nhao phản ứng nên hắn ta không dám làm gì. Dân làng tôi có tiếng “cứng đầu” vì theo “Việt cộng” 99% nên chúng cũng ngán. Đám lính giằng co, ngăn dân lại không cho qua cầu.

Sống sót giữa đạn bom

Những tiếng nổ chát chúa của đại bác và những cột khói đen tung lên từng chập bên kia sông Thạch Hãn nơi làng Thượng Phước, An Đôn rồi đột ngột chuyển làn, rót xuống gần chỗ dân làng đang tụ tập. Đám đông nhốn nháo tán loạn, mạnh ai nấy chạy tìm các hầm trú ẩn mà hồi đó bất cứ nhà nào cũng có từ 1 đến 2 cái làm nơi trú tránh bom đạn. Dứt trận pháo kích điên cuồng của địch, không chỉ dân làng mà toán lính địa phương quân cũng hoảng hồn, rất may không ai bị thương. Mùi thuốc pháo khét lẹt, tiếng gọi nhau í ới gọi tìm người thân bị lạc sau trận pháo kích. Gia đình nhỏ của tôi cũng lạc nhau. Mẹ tôi không kịp tìm hầm trú ẩn phải nằm giữa sân phó mặc cho sự may rủi. Còn cha tôi thì không biết đã tránh trú nơi nào. Sau một hồi thấp thỏm tìm kiếm, chúng tôi đã gặp nhau trong nỗi vui mừng khôn tả, cùng dân làng đi về nơi đã được chính quyền cách mạng hướng dẫn từ trước. 

Ngày 1 tháng 5 năm 1972 toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng, chúng tôi trở về nhà. Nhưng không bao lâu sau, giặc Mỹ dùng không quân và hải quân đánh phá vô cùng ác liệt nhằm yểm trợ cho quân đội ngụy Sài Gòn tái chiếm Quảng Trị. Làng tôi nằm ở bờ Nam sông Thạch Hãn, phía Tây Thành Cổ cách chừng 3km đường chim bay, là mục tiêu trọng điểm địch đánh phá. Hàng đêm, xe tăng và các loại xe quân sự của quân Giải phóng vượt sông Thạch Hãn, chạy ngang qua làng hướng vào mặt trận phía Nam. Những trận “pháo bầy” 105 ly, 175 ly từ Hạm đội 7 của Mỹ ở Biển Đông bắn phá bất kể ngày đêm, nổ rền chát chúa; những trận mưa bom rải thảm của “pháo đài bay” B52 dội xuống bất ngờ, tiếng nổ long trời lở đất; những đàn máy bay phản lực F4 gầm rú trên bầu trời suốt cả ngày, chúng thả bom đào, bom chùm, bom bi nổ nhanh, nổ chậm, bom hẹn giờ… cày xới, huỷ diệt, hòng chặt đứt con đường huyết mạch ra tiền tuyến của quân Giải phóng, gây nhiều thương vong cho bộ đội và dân thường. Có lần nọ, 1 quả bom bi nổ nhanh rơi trúng cửa hầm của gia đình tôi nổ đinh tai, may là cha tôi đã dùng tấm ván đậy cửa hầm, không thì quả bom bi rơi vào trong hầm cả nhà sẽ chết.

tac-gia-thoi-quan-ngu-nam-1977-1773497711.jpg

Tác giả thời quân ngũ năm 1977

Làm sao quên những buổi chiều tang thương mùa Hè năm 1972 ấy, tất cả các ngôi nhà trong làng đều bị trúng bom cháy rụi, nhiều người dân chết và bị thương, có gia đình chết cả nhà vì bom đánh sập hầm trú ẩn. Chị tôi, chú tôi và cô em dâu con chú cũng chịu chung số phận. Còn đứa cháu gái 5 tuổi gọi tôi bằng bác may mắn thoát chết khi nằm dưới bụng mẹ nó – người mẹ đã lấy hết sức bình sinh, gồng mình đỡ trần hầm trú ẩn bị sập đè nặng, giữ không để nó đè lên con mình, khi lực lượng du kích đến cứu thì cô ấy và bà ngoại cháu đã không qua khỏi!

Làng tôi xác xơ, tiêu điều, chi chít hố bom, hố pháo, mùi thuốc súng và sự chết chóc, tang thương. Người dân vội vã di tản lần thứ hai, không còn gì mang theo ngoài bộ quần áo trên người và chút ít lương thực còn sót lại. Chúng tôi rời làng khi màn đêm vừa buông xuống, lần mò qua những đoạn đường đã bị bom cày xới vì không thể đi giữa ban ngày, sợ máy bay Mỹ phát hiện sẽ đánh bom.

Chúng tôi đến nơi sơ tán mới ở thôn Bến Cầu, xã Gio Lễ, huyện Gio Linh (Quảng Trị) cũng không thoát khỏi những trận bom do pháo đài bay B52 và máy bay cường kích của Mỹ rải thảm, đánh phá, lại thấy cảnh hàng trăm người dân bị chết thảm, lòng dân căm thù giặc Mỹ ngút trời. Nước Mỹ cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất, chúng tìm kiếm gì ở đất nước chúng ta, tại sao chúng tàn ác thế!?

Cho đến tận bây giờ, đã hơn 50 năm trôi qua, nhưng những cảnh tượng bi thảm ngày đó vẫn cứ ám ảnh tôi mãi.

Hạnh phúc ngày hòa bình

Tôi nhớ rất rõ ngày 31 tháng 12 năm 1972, loa phóng thanh công cộng phát bản tin của Đài Tiếng nói Việt Nam, đại ý: Đế quốc Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, buộc phải ngừng ném bom miền Bắc và vùng giải phóng từ ngày 30 tháng 12 năm 1972, chấp nhận ngồi lại vào bàn đàm phán hòa bình tại Paris.

Sau bao nhiêu ngày đội mưa bom, bão đạn của giặc Mỹ, người dân chúng tôi khấp khởi mừng vui, có thể rời khỏi hầm trú ẩn vì không còn nghe tiếng bom và tiếng pháo nổ. Niềm hy vọng chiến tranh sẽ kết thúc dần hiện thực, hòa bình đang đến gần.

tac-gia-giang-day-tai-truong-dai-hoc-noi-vu-theo-hinh-thuc-thinh-giang-1773497788.jpg

Tác giả giảng dạy tại Trường Đại học Nội vụ theo hình thức thỉnh giảng

Tin tức ngày 27 tháng 1 năm 1973 truyền đi giữa tiếng reo hò của người dân: Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết chính thức giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ, bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973. Tuy vậy, chúng tôi vẫn thấp thỏm, lo âu. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, dù không có tiếng gầm rú của máy bay và bom nổ, nhưng tiếng súng vẫn ì ầm từ cảng biển Cửa Việt vọng về nơi dân làng tôi sơ tán. Mấy ngày sau, tôi biết được đó là những trận chiến trước “giờ G” để cắm cờ giành đất giữa quân Giải phóng và quân đội ngụy Sài Gòn, khi Hiệp định Paris 1973 có hiệu lực thi hành.

Hoà bình lập lại nhưng dân làng tôi vẫn chưa được trở về quê cũ vì dưới mặt đất và trong lòng đất còn ẩn chứa nhiều bom đạn sót lại, có thể phát nổ cướp đi sinh mạng con người bất cứ lúc nào. Chúng tôi phải chuyển đến nơi lập nghiệp mới ở xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ. Tại đây, một ngôi trường mái tranh vách đất được dựng tạm cho học sinh trung học toàn huyện đến học, thầy cô giáo ở Miền Bắc vào dạy, chúng tôi lại được cắp sách đến trường.

Cho đến ngày nay, dù đã lớn tuổi nhưng ai trong lớp chúng tôi thời ấy cũng nhớ mãi hình ảnh những thầy cô giáo trẻ dấn thân nơi vùng hỏa tuyến. Đó là cô giáo Phương Nhị dạy môn văn lớp tôi với nụ cười thường trực trên môi, không chỉ dạy văn rất hay, cô còn như một người chị, người mẹ. Đó là thầy Văn Hùng Anh dạy môn toán với lòng nhiệt huyết vô bờ, chỉ cần một học sinh chưa hiểu bài tại lớp, thầy sẽ cùng bạn đó ở lại thêm vài chục phút để phụ đạo riêng cho đến khi bạn ấy hiểu bài. Đó là thầy Vũ Văn Trường quê ở Hà Nội. Thầy bảo, được Bộ Giáo dục thông báo Quảng Trị là tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề, là địa bàn tiềm ẩn nguy hiểm bởi vô số bom, mìn sau chiến tranh, nhưng các thầy cô vẫn xung phong vào dạy học ở tỉnh Quảng Trị mà không chọn tỉnh khác. Và còn nhiều thầy, cô giáo khác như thầy Thắc, thầy Đoan, cô Thành ... luôn dành tất cả sự yêu thương cho chúng tôi – những học trò ở vùng bị chiến tranh tàn phá nặng nề.  

Hơn 2 năm sau, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, người dân vỡ òa hạnh phúc trong ngày hội lớn non sông liền một dải, Nam – Bắc sum họp một nhà. Lớp trẻ chúng tôi cũng trào dâng cảm xúc, vui mừng từ nay không còn cảnh chiến tranh bom đạn nữa, mình sẽ được học hành, hướng tới tương lai tốt đẹp. Ước mơ trở thành thầy giáo từ thời tiểu học lại bùng cháy trong tôi. Nhưng đời không như là mơ, có ai đó đã nói như thế.

Kẻ thù buộc ta phải cầm súng

Như bao người khác, gia đình tôi trước chiến tranh cũng có của ăn của để. Sau chiến tranh, nhà cửa tan hoang, tài sản mất hết sạch sành sanh, chỉ còn 2 bàn tay trắng đúng nghĩa. Cuộc sống thiếu thốn, đến chiếc xe đạp cũ cũng không mua nổi. Tôi tiếp tục vượt lên số phận, hàng ngày thức dậy từ 3 giờ sáng đi bộ đến trường học cách nhà gần 10km, buổi chiều về đi cuốc đất, làm ruộng phụ giúp cha mẹ, nhiều lúc nản quá, nghĩ có lẽ mình phải bỏ học. Nản nhất là mùa đông, sáng sớm trời rất lạnh, chỉ còn tôi và một bạn cùng làng có tên Ngô Văn Đầu, co ro trong giá rét với tấm áo mưa cũ rách, đi tắt lội băng qua đồng ruộng, băng mấy quả đồi để đến trường, trong khi đám bạn cùng làng đã bỏ học gần hết. Đến năm đầu cấp 3 thì nhà tôi sắm được chiếc xe đạp cũ, nhưng lại có thêm thử thách mới: Quy định phân tuyến bất cập trong giáo dục khiến tôi trở thành nạn nhân, phải đi xa hơn 15km để vào học trường cấp 3 mà không được học trường gần nhà 4km vì khác huyện (!?). Vào mùa gió Lào thì nắng rát mặt, đạp xe ngược chiều gió, có lúc bị hất tung cả người và xe xuống vệ đường.

Gian nan là thế nhưng chưa bao giờ tôi đến lớp mà không thuộc bài. Hàng năm tôi đều đạt danh hiệu học sinh giỏi của trường, và là thành viên Đội tuyển học sinh giỏi 2 môn toán và văn của huyện và Đội tuyển học sinh giỏi văn của tỉnh Bình - Trị - Thiên.

tac-gia-nhan-bang-thac-si-hanh-chinh-cong-1773497818.JPG

Tác giả nhận bằng Thạc sĩ Hành chính công

Những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, thông tin truyền thông trong nước còn nhiều hạn chế, chúng tôi đâu biết rằng, ở biên giới Tây – Nam quân giặc Khmer Đỏ ở Campuchia do 2 tên đồ tể Pol Pot – Ieng Sary cầm đầu đang xâm lấn, giết hại hàng vạn đồng bào ta. Nơi biên cương phía Bắc cũng bất ổn, quan hệ 2 nước Việt – Trung ngày càng xấu đi.

Tháng 11 năm 1977, tôi gác lại ước mơ vào đại học lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Sau thời gian ngắn huấn luyện tại quân trường ở Quảng Nam - Đà Nẵng, đơn vị tôi hành quân vào chiến trường biên giới Tây - Nam, bắt đầu chiến dịch tổng phản công đánh đuổi quân giặc xâm lược ra khỏi bờ cõi, tiến vào đất xứ Chùa Tháp, cùng quân và dân Campuchia đập tan chế độ Khmer Đỏ diệt chủng do Trung Quốc hậu thuẫn, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 7 tháng 1 năm 1979. Thời gian này, tình hình biên giới Việt – Trung bất ổn leo thang, ngày 17 tháng 2 năm 1979, nhà cầm quyền Trung Quốc với chiêu bài “chia lửa với Khmer Đỏ kháng chiến” đã xua 60 vạn quân xâm lược nước ta. Đơn vị tôi đang chiến đấu ở mặt trận phía Nam Campuchia nhận lệnh lập tức về nước, hành quân thần tốc bằng đường hàng không, tàu thủy, xe lửa ra mặt trận phía bắc chiến đấu đánh đuổi giặc xâm lược. Trước sự phản công quyết liệt của quân ta, ngày 17 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân nhưng toàn tuyến vẫn bị quân Trung Quốc quấy phá đến năm 1989 mới tạm ổn.

Gần 6 năm trong quân ngũ, đi qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, tôi may mắn sống sót và được giải ngũ năm 1983.

Xách chiếc ba lô nhẹ tênh về với đời thường, tài sản là hai bộ quần áo lính, giấy tờ phục viên, mấy cái bằng khen, giấy chứng nhận huân, huy chương và cuốn nhật ký chiến sĩ. Theo tiêu chuẩn sĩ quan cấp bậc Thiếu úy, tôi được lĩnh tiền trợ cấp 1 lần bằng 420 đồng và một tập tem phiếu thời bao cấp dùng để mua lương thực, thực phẩm được cửa hàng mậu dịch bán phân phối theo tiêu chuẩn ăn trong 6 tháng.

Tương lai bất định, đi bộ đội trở về ngoài biết bắn súng, trong tay tôi chẳng có nghề ngỗng gì, chưa biết mình sẽ làm gì, bắt đầu lại từ đâu để mưu sinh. Mặc kệ, cứ nghỉ ngơi cho chán đi hãy tính sau, bù lại những ngày tháng gian lao trong quân ngũ và ngoài mặt trận – tôi nghĩ thầm.

Rồi may mắn cũng mỉm cười, là cựu sĩ quan quân đội nên tôi được tiếp nhận vào làm việc tại một cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Lâm Đồng. Những ngày đầu tiên làm ở cơ quan dân sự còn bỡ ngỡ rồi cũng qua mau, tôi hòa nhập môi trường mới khá nhanh, chỉ cái tính bộc trực là khó thay đổi.

Không bỏ cuộc

Tôi đặt quyết tâm vừa đi làm vừa đi học bổ túc văn hóa vào ban đêm và chủ nhật để hoàn tất chương trình cấp 3 còn dang dở. Cũng khá là vất vả, nhưng có là gì so với những năm tháng trong quân ngũ. Không những tôi học chăm chỉ mà còn học khá giỏi nên đã đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp bổ túc văn hóa cấp 3 (sau này gọi oai là đỗ thủ khoa) với 34 điểm, 4 môn: Văn, Toán, Lý, Hóa. Kết quả đó đã khích lệ tôi tiếp tục thực hiện ước mơ thi vào trường đại học. Miệt mài tự ôn thi và chờ đợi kỳ thi tuyển sinh đại học. Cuối năm 1984, tôi trúng tuyển vào trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hệ chuyên tu, tại chức chuyên ngành “Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân”.

Thời đó học tại chức có quy định khắt khe hơn bây giờ, phải là cán bộ có tuổi đời theo quy định với  thời gian công tác trong cơ quan nhà nước đủ từ 5 năm trở lên mới được xét cho thi tuyển và học hệ chuyên tu, tại chức. Vậy nên mới có thơ vui: “Cặp da, trán hói/ Ăn nói bi bô/ Ra vô không cần xin phép” để chỉ cán bộ học chuyên tu, tại chức là vậy. Còn nếu tuổi đời còn trẻ thì buộc phải tham dự các kỳ thi tuyển sinh chính quy với học sinh phổ thông.

Vượt bao khó khăn, tôi bước chân vào giảng đường đại học khi đất nước trong buổi giao thời từ cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, “ngăn sông, cấm chợ” sang thời kỳ đầu của “Đổi mới”. Từ năm 1985 – 1989, bốn năm đi lại học tập, ăn, ở, sinh hoạt, tôi phải chi tiêu dè sẻn từng đồng trong thời gian tập trung tại trường nếu không muốn bị nhịn đói.

tac-gia-nhan-giai-thuong-bao-chi-1773497801.jpg

Tác giả nhận Giải thưởng báo chí

Rồi mọi thứ cũng qua, nhờ nỗ lực học tập, chuyên đề tốt nghiệp cuối khoá của tôi vinh dự được chọn nâng lên thành Luận văn tốt nghiệp, bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và đạt loại giỏi, được miễn thi 2 môn chuyên ngành, chỉ phải thi 1 môn Kinh tế - Chính trị học.

Vào những năm thập niên 80 và đầu 90, có được tấm bằng đại học là một lợi thế để bố trí vị trí việc làm trong các cơ quan nhà nước. Chưa hài lòng với chính mình, tôi bước vào một cuộc thử thách mới về học vấn: Thi tuyển sinh Cao học. Đầu thập niên 2000, sau 2 lần dự thi tuyển sinh tôi trúng tuyển khóa đào tạo cao học tại Học viện Hành chính quốc gia.

Từ Đại học cho đến Cao học là thử thách không hề nhỏ. Tôi vừa học vừa làm khá nhiều công việc của nhiều nghề khác nhau để mưu sinh. Từ “Nhà nông – Nhà binh – Nhà nước” đến “Nhà buôn – Nhà báo – Nhà giáo – Nhà văn”, tôi đều luôn giữ đúng chuẩn mực, lương tâm nghề nghiệp, công việc. “Nhà nông” cho tôi sự kiên nhẫn. “Nhà binh” cho tôi lòng quả cảm. “Nhà nước” cho tôi liêm sỉ. “Nhà buôn” cho tôi biết giá trị. “Nhà báo” cho tôi sự thật. “Nhà giáo” cho tôi sự chuẩn mực, mô phạm. “Nhà văn” cho tôi tình yêu và lòng trắc ẩn. Nhưng đáng nhớ nhất trong đời là sau khi tốt nghiệp cao học ở tuổi ngoài 50, tôi đã chạm tới ước mơ từ thời tiểu học: Tôi được mời làm “Nhà giáo” – giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng cho Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Lâm Đồng và Trường Đại học Nội vụ.

Ngẫm lại, dù bị chiến tranh cướp mất nhiều thứ; dù cuộc sống và con đường học vấn đầy trắc trở, gian nan đeo đẳng suốt từ thời tiểu học cho đến cao học, nhưng tôi hiểu rằng, không có con đường nào trải đầy hoa, nếu mình tự tin, nỗ lực, kiên trì mục tiêu thì sẽ đi đến đích.

Với quan niệm “Đạo” là gốc của con người. Mưu sự, mưu sinh, hành nghề cũng để hành Đạo, tôi cảm thấy thật sự hạnh phúc, tự hào về sự dấn thân và những gì mình đã dâng hiến cho đời./.