Em ơi đợi anh về
Tôi cũng vậy, đổi lại, vốn yêu văn, thơ từ thời học phổ thông nên tôi thuộc một vài bài và thường đọc cho anh em nghe mỗi khi có dịp. Trong đó, bài thơ “Đợi Anh Về” của nhà thơ Simonov (Nga) nói về một chiến sĩ Hồng quân Liên Xô đang ở chiến trường đánh quân phát-xit nhắn nhủ với người vợ ở quê nhà. Đó là tình yêu bất tử của người chiến sĩ ngoài mặt trận với người hậu phương, họ không thể chết vì có người mình yêu thương đang chờ đợi.
Sự chờ mong, niềm tin tưởng của những người mẹ, người vợ, người yêu… đối với những người chiến sĩ làm nhiệm vụ quốc tế xa Tổ quốc giúp chúng tôi nơi chiến trận vững tin vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy, thắng trận trở về.

Sơ đồ cuộc hành quân thần tốc của Sư đoàn 304 từ Cảng Sihanoukville ra biên giới phía Bắc Tổ quốc đầu tháng 3-1979
Bài thơ 5 chữ được nhà thơ Tố Hữu dịch, đã đi vào tâm hồn của biết bao người Việt Nam, đoạn mở đầu viết:
“Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé./ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có dài lê thê/ Em ơi em, cứ đợi!/ Dù tuyết rơi gió nổi/ Dù nắng cháy em ơi/ Bạn cũ có quên rồi/ Đợi anh về, em nhé!/ Tin anh dù vắng vẻ/ Lòng ai dù tái tê/ Chẳng mong chi ngày về/ Thì em ơi cứ đợi!” …
“Vì sao anh chẳng chết/ Nào bao giờ ai biết?/ Có gì đâu em ơi/ Chỉ vì không ai người/ Biết như em chờ đợi.”
Những ngày sau khi chặn đứng cuộc tập kích của địch đêm hôm nọ, không khí trên chốt lúc nào cũng có vẻ căng thẳng và luôn cảnh giác. Chúng tôi củng cố lại hầm hào, ăn cơm chiều sớm hơn mọi ngày và luôn trong tư thế sẵn sàng chờ bọn địch nếu chúng quay trở lại lần nữa.

Đường hành quân bộ (màu xanh) đến cảng Shihanoukville, quãng đường hơn 20km, sẳn sàng đánh địch mà đi (Ảnh googlemap)
Hằng đêm, khẩu đội duy trì tăng cường 3 vọng gác với 8 người, phải thức đêm nhiều hơn vì chỉ có 2 – 3 người mỗi vọng gác cho thời gian suốt cả đêm; còn 1 người ban ngày lo việc hậu cần cơm, nước thì được nghỉ gác đêm. Ban ngày, chúng tôi duy trì 2 vọng gác để thay nhau ngủ bù. Được ngủ ít nên ai cũng có vẻ mặt hốc hác, mắt thâm quầng, sâu hoắm. Nhưng không sao, được cái là không có anh em nào đau ốm hay hèn nhát, tất cả đoàn kết thương yêu nhau, sẻ chia lúc khó khăn gian khổ, quí nhau như ruột thịt.
Trưa 17-2-1979, dưới cái nắng chói chang trong công sự, chúng tôi nhận được tin vào rạng sáng nay, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lột mặt nạ “hữu hảo”, lộ rõ bộ mặt bẩn thỉu và dã tâm đen tối xua quân xâm lược nước ta. Quân giặc dã man thực hiện chính sách “tam quang” (ba sạch): “giết sạch, đốt sạch, cướp sạch” rất man rợ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Dù không nói nên lời nhưng tâm can người lính cháy bỏng căm hờn bọn giặc thù.
Xế trưa 4-3-1979, chúng tôi được lệnh bàn giao chốt cho một đơn vị thuộc Quân khu 9. Tôi chỉ dẫn nhanh vị trí cài lựu đạn và cách sử dụng mìn định hướng Claymore trong tình huống địch tập kích chốt. Mấy chiến sĩ tiếp quản chốt có vẻ chưa biết và chưa sử dụng mìn Claymore bao giờ, cứ hỏi rối rít. Dù rất tiếc bị lãng phí, nhưng tôi đành bấm điều khiển cho nổ 1 quả mìn Claymore làm mẫu, rồi lập tức cùng đơn vị hành quân cho kịp thời gian về vị trí tập kết nhận nhiệm vụ mới.
Chúng tôi hỏi dò nhau mình sẽ đi đâu. Không ai nắm được thông tin chính xác nhưng đều nghĩ: có lẽ đơn vị sẽ được về nước, chiến đấu trên chính mảnh đất Tổ quốc thân yêu của mình để đánh đuổi giặc Trung Quốc xâm lược … Nghĩ đến đó, ai cũng cảm thấy phấn chấn rạo rực, mong chờ.

Cánh đồng ruộng Phum Smach Daeng, Sihanoukvill, nơi bộ đội bắt cá cải thiện bữa ăn (Ảnh Googlemap)
Đêm hôm đó, Tiểu đoàn chúng tôi đóng quân ở khu vực tập kết tại Phum Thma Thum. Hết phiên gác, tôi ngả lưng nằm xuống thảm cỏ ngủ một giấc ngon lành, gần sáng thì nghe tiếng súng nổ từng tràng dài, tiếng mìn Claymore và lựu đạn nổ ở hướng chốt cũ đơn vị tôi vừa bàn giao hôm qua, có lẽ bọn địch đã tập kích.
Hành quân bộ đến cảng Sihanouville
Không khí buổi sáng nay trong lành và yên bình, với người lính, những giây phút thế này nơi chiến trường thật hiếm. Từng cơn gió từ biển thổi vào xuyên qua hàng cây thưa thớt ven đường, mấy con chim chích chuyền cành hót líu lo. Mặt trời lên, nắng vàng rực rỡ, thoang thoảng mùi hương của rơm rạ trên cánh đồng xa xa bay về, gần gũi tưởng như mình đang ở một miền quê đất mẹ Việt Nam.
Tin truyền nhau sẽ được về nước bằng tàu biển khiến ai cũng khấp khởi vui mừng.
Sáng ngày 5-3-1979 chúng tôi được hậu cần phát cục cơm nắm còn nóng ấm. Ăn xong, mỗi người nhận đầy một ruột tượng gạo 3kg mang theo. Tính cả vũ khí, quân dụng mỗi người mang xấp xỉ 25kg. Mấy anh em bàn nhau hay vứt bớt mấy khẩu AR-15 “ngoài biên chế” cho đỡ nặng, nhưng nghĩ lại mình đang ở chiến trường, có thêm súng đạn thì vẫn yên tâm hơn nên ai cũng ráng.

Cảng Shihanoukville, Campuchia - Ký ức ngày trở về 5- 3-1979
Cả đơn vị chờ ô tô. Một đoàn xe chở đơn vị bạn thuộc Trung đoàn 24 (cùng F304) ngang qua, tôi tìm hỏi thăm mấy đồng đội cùng quê, biết được 2 người cùng làng, cùng nhập ngũ là anh Phan Giáp và Ngô Hảo – là con ông chú tôi đã hy sinh, lòng lặng đi vì tiếc thương. Được biết, anh Phan Giáp bị thương nặng và hy sinh khi đơn vị bị đánh chặn trên đường rút quân về đây, còn Ngô Hảo – cũng là xạ thủ 12ly7 hy sinh trong một trận đánh khác vào cứ điểm của địch.
Chờ mãi mà vẫn không có ô tô, toàn đơn vị nhận lệnh hành quân bộ từ ngã ba cảng Ream theo Quốc lộ 4 đến cảng Sihanoukville, quãng đường hơn 20km đường lộ băng qua rừng núi. Đây chính là đoạn đường mà bọn Khmer Đỏ đã phục kích bắn cháy nhiều xe tăng của hải quân đánh bộ của ta trong các ngày từ 6-1 đến 8-1-1979 khi đơn vị chúng tôi chưa đến kịp để hợp đồng tác chiến.
Chúng tôi giữ cự ly hành quân, vừa đi vừa cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, đề phòng địch phục kích. Mệt mỏi vì đường xa, dọc đường thi thoảng còn gặp xác lính Miên chết khô queo nằm rải rác, nhưng nghĩ đến sắp được lên tàu về nước nên ai cũng quên đi nỗi mệt nhọc. Trời xế chiều thì chúng tôi đến cảng Shihanoukville, mấy chiếc tàu đang neo chờ sẵn. Nghỉ tạm ở dãy nhà trên bến cảng, tôi lấy nước ngọt cho vào cơm sấy ăn, thở phào nhẹ nhõm, nghĩ bụng chắc mình đã may mắn còn sống và sẽ trở về.
Còn tiếp...!