Tăng kiểm soát cơ sở sản xuất, ngăn chất cấm trong thức ăn thủy sản

Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT đã đưa ra loạt quy định mới về kiểm tra cơ sở sản xuất và chất lượng giống, chất cấm trong thức ăn thủy sản.

Rõ trách nhiệm kiểm tra điều kiện sản xuất

Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT là quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra điều kiện đối với các cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản và cơ sở sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.

Theo Điều 4 Thông tư 16, việc kiểm tra điều kiện cơ sở sản xuất giống thủy sản và cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản được thực hiện bằng hình thức đoàn kiểm tra.

Việc thành lập đoàn kiểm tra được thực hiện trên cơ sở đề nghị của cơ sở khi cấp mới hoặc cấp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện, đồng thời cũng được tiến hành định kỳ để kiểm tra việc duy trì điều kiện sau khi cơ sở đã được cấp phép.

Bên cạnh đó, Thông tư đặt đã đưa ra yêu cầu cụ thể đối với thành viên đoàn kiểm tra nhằm bảo đảm tính chuyên môn và khách quan trong quá trình đánh giá. Cụ thể, trưởng đoàn kiểm tra phải là lãnh đạo cấp phòng trở lên hoặc công chức có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến nuôi trồng thủy sản, giống thủy sản hoặc thức ăn thủy sản. Đối với thành viên đoàn kiểm tra, phải có ít nhất một người đã tham gia lớp tập huấn nghiệp vụ kiểm tra do cơ quan chuyên môn tổ chức, đồng thời có trình độ đại học trở lên trong các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản, sinh học, bệnh học thủy sản, môi trường hoặc các chuyên ngành liên quan.

Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT đưa ra loạt quy định mới về kiểm tra cơ sở và chất lượng giống, thức ăn thủy sản. Ảnh: Hồng Đạt.

Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT đưa ra loạt quy định mới về kiểm tra cơ sở và chất lượng giống, thức ăn thủy sản. Ảnh: Hồng Đạt.

Việc đặt ra tiêu chuẩn cụ thể như trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thủy sản, bởi, thực tế thời gian qua cho thấy việc kiểm tra nhiều khi còn mang tính hình thức hoặc thiếu chuyên môn sâu, dẫn tới khó phát hiện vi phạm trong quá trình sản xuất.

Mặt khác, Thông tư cũng phân cấp rõ trách nhiệm quản lý tại địa phương. Theo đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra điều kiện đối với cơ sở mua bán và nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trên địa bàn.

Quy định này cho thấy thẩm quyền kiểm tra không chỉ tập trung ở cơ quan quản lý trung ương mà được phân cấp rõ cho cấp tỉnh, tăng tính chủ động của địa phương. Thực tế cho thấy, khi được phân cấp kiểm tra, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có điều kiện bám sát thực tế địa bàn, nắm bắt nhanh các biến động của thị trường vật tư thủy sản, từ đó phát hiện sớm những sản phẩm không bảo đảm chất lượng hoặc không rõ nguồn gốc. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản đang phát triển nhanh, với nhiều loại sản phẩm mới xuất hiện.

Quản lý chặt các chất cấm trong thức ăn thủy sản

Bên cạnh việc kiểm tra điều kiện cơ sở, Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT cũng quy định chi tiết về kiểm tra chất lượng giống thủy sản, thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.

Theo đó, hoạt động kiểm tra chất lượng trong quá trình sản xuất và việc kiểm tra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Cách tiếp cận này cho thấy cơ quan quản lý đang hướng tới việc thống nhất cơ chế kiểm tra chất lượng giữa lĩnh vực thủy sản và hệ thống quản lý chất lượng hàng hóa chung của cả nước.

Thông tư cũng quy định rõ về các biện pháp xử lý đối với sản phẩm vi phạm chất lượng. Đối với giống thủy sản vi phạm chất lượng, biện pháp xử lý có thể là tiêu hủy hoặc chuyển mục đích sử dụng. Trong trường hợp không cần tiêu hủy, giống thủy sản có thể được chuyển mục đích sử dụng như làm cảnh, giải trí hoặc phục vụ nghiên cứu khoa học, nhưng phải có phương án và báo cáo cơ quan quản lý để giám sát.

Đối với thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường vi phạm chất lượng, các biện pháp xử lý tương tự, bao gồm tiêu hủy, tái chế hoặc chuyển mục đích sử dụng.

Một nội dung đáng chú ý khác của Thông tư 16 chính là danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Danh mục này được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư, nhằm kiểm soát chặt chẽ các chất có nguy cơ gây hại cho môi trường và an toàn thực phẩm. Danh mục này gồm nhiều nhóm hóa chất và kháng sinh từng gây lo ngại trong nuôi trồng thủy sản; một số chất có nguồn gốc sinh học; hợp chất tổng hợp; hợp chất màu công nghiệp…

Theo các chuyên gia, việc xác định rõ các chất cấm được xem là biện pháp quan trọng nhằm kiểm soát nguy cơ tồn dư hóa chất trong sản phẩm thủy sản, đồng thời bảo vệ môi trường nuôi, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, quy định này cũng góp phần nâng cao uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Quy định này cũng góp phần định hướng người nuôi trồng và doanh nghiệp chuyển sang sử dụng các chế phẩm sinh học an toàn hơn, đồng thời hạn chế tình trạng lạm dụng hóa chất trong quá trình sản xuất.

Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày 9/3. Tổ chức, cá nhân đã được cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ để giải quyết theo thủ tục hành chính trước ngày Thông tư này có hiệu lực mà chưa có kết quả giải quyết thủ tục hành chính thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận; trừ trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị thực hiện theo quy định của Thông tư này.