Thúc đẩy thay đổi để tăng trưởng xanh

An ninh nguồn nước là vấn đề câp thiết bởi tính công bằng chia sẻ, tác động biến đổi khí hậu (BĐKH) và sự suy kiệt ngày một gia tăng. Việt Nam coi trọng và có nhiều biện pháp nhằm đảm bảo an ninh, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước, hướng tới thúc đẩy phát triển bền vững.

Với chủ đề Thúc đẩy sự thay đổi (Be the change), ngày nước thế giới năm nay nhằm vào kêu gọi mọi người cùng hành động để thay đổi việc khai thác, sử dụng và quản lý tốt trước nguy cơ ngày càng cạn kiệt. Bài viết tổng hợp những khía cạnh nổi bật ở Vỉệt Nam.

2851-nuoc-sach-1679557791.jpg

Tài nguyên nước- hiện trạng khai thác, sử dụng và quản lý

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước phong phú cả về nước mặt, nước mưa và nước ngầm. Theo Bộ tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cả nước có 3.450 sông, suối có độ dài trên 10km với 697 sông thuộc nguồn liên tỉnh, 173 liên quốc gia và 38 hồ, đầm, phá lớn với tổng dung lượng khoảng 844,4 tỷm3/năm. Tuy nhiên, lượng nước phát sinh trong lãnh thổ chỉ chiếm từ 36,7% đến 37,3%. Ngoài hệ thống sông, hồ, để đáp ứng nhu cầu tích trữ, điều tiết dòng chảy còn có thêm nhiều hồ chứa. Số liệu từ Bộ TN&MT còn cho thấy, cả nước hiện có trên 2.900 hồ chứa nước thủy điện và thủy lợi với dung lượng trên 65 tỷ m3. Trong số này, gần 700 là hồ thủy điện có sức chứa tới 56 tỷ m3. Thêm vào đó còn có thể bổ sung với lượng mưa trung bình hàng năm từ 1940 mm đến 1960 mm (khoảng 640 tỷm3/năm). Tuy nhiên, mưa lại phân bổ không đều, tập trung chủ yếu vào 5 tháng mùa mưa (từ 75% đến 85%) dẫn đến tình trạng khô hạn trong những tháng mùa khô. Cùng với nguồn nước mặt, lượng nước ngầm trong lòng đất có khoảng 91,5 tỷ m3, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, Đồng bằng Nam bộ và Tây Nguyên.

Với tổng trữ lượng nước hiện có, nước bình quân đầu người đạt 8.510 m3/năm. Nhưng nếu chỉ tính nguồn phát sinh trong nước, Việt Nam lại là một quốc gia thiếu nước với mức bình quân chỉ đạt 3.268 m3/người/năm, thấp dưới mức bình quân chung toàn cầu là 4.000 m3/năm. Đáng lo ngại hơn là Việt Nam đang phải đối mặt với ô nhiễm và cạn kiệt đang đe dọa an ninh nguồn nước. Gia tăng dân số cùng với chất thải tăng nhanh đã gây ô nhiễm nguồn nước ở khắp mọi nơi. Trong đó, ô nhiễm do công nghiệp phát thải, nông nghiệp lạm dụng hóa chất và quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch là những nguyên nhân phổ biến.

Theo nhiều nghiên cứu, nguồn nước sử dụng ở nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ngoài tác động của nước thải từ các nhà máy, còn do ô nhiễm nặng từ hàng chục triệu tấn phân dùng trong  nông nghiệp. Lượng phân bị rửa trôi mang dư lượng chất độc hại khá cao cùng với ngành chăn nuôi mỗi năm có khoảng 84,5 triệu tấn rác thải vào môi trường không qua xử lý. Lượng chất thải này không chỉ gây ô nhiễm nước mặt mà còn ảnh hưởng tới nước ngầm, khiến nhiều nguồn nước bị ô nhiễm. Đây là hiểm họa không chỉ đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Những thiệt hại về môi trường kéo theo nhiều tổn hao kinh tế khiến GDP ngành nông nghiệp được dự báo sẽ sụt giảm ít nhất tới 3,5% vào năm 2035.

Với nguồn nước ngoại lai chiếm 2/3 tổng lượng nước và nằm ở hạ lưu Mekong, Việt Nam khó chủ động bảo vệ và khai thác được các nguồn nước. Sạt lởt lở Đồng bằng sông Cửu Long khó có thể khắc phục và BĐKH làm nước biển dâng, xâm nhập mặn còn gây nhiều tác động khó lường.

Thách thức đảm bảo an ninh nguồn nước

Lượng nước mặt phụ thuộc vào nguồn phát sinh ngoài biên giới cùng với trữ lượng nước ngầm sut giảm; mặt khác tình trạng trạng ô nhiễm tràn lan, BĐKH và nước biển dâng đang là những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Theo các nhà phân tích, trở ngại lớn nhất trong khai thác sử dụng tài nguyên nước là sự phụ thuộc vào các nước thượng nguồn của những dòng sông. Với 63% tổng lượng nước mặt là nước ngoại sinh, hằng năm lượng nước sông, suối xuyên biên giới chuyển vào Việt nam khoảng 520 tỷ m3; trong đó, nước thượng nguồn Mekong chiếm 90,1%, lưu vực sông Hồng chừng 38,5%. Việc các quốc gia thượng nguồn xây dựng hồ thủy điện hoặc các công trình lấy nước, chuyển nước đều tạo sự biến đổi dòng chảy về phía Việt Nam, Nhiều nghên cứu cho thấy, lượng phù sa, chất dinh dưỡng và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long có thể giảm tới 97% vào năm 2040 (Ngọc Hân 2023).

BĐKH là hiện tượng tự nhiên được coi như yếu tố khách quan, nhưng về bản chất đó lại là hậu quả của việc làm thiếu thân thiện với môi trường. Nhiệt độ trái đất tăng dẫn đến băng tan chảy, nước biển dâng cao, ngập mặn xâm nhập, rừng bị hủy hoại đã làm mất cân bằng sinh thái. Kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia đã chỉ ra, nếu nước biển dâng cao 1m, 14% diện tích đất nông nghiệp, 28,7% đất ngập nước và 10,7% đô thị vùng ĐBSCLvà ĐBSH sẽ bị nhấn chìm làm giảm tới 10,2%  GDP (Tuấn Anh 2923).

Theo báo cáo quốc gia về hiện trạng môi trường, tỷ lệ nước thải sinh hoạt chiếm trên 30%. Nước thải từ các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ như hộ gia đình và ở các làng nghề hầu như không được xử lý, đã xả trực tiếp vào các kênh mương, sông, suối cùng với hóa chất trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là những nguồn gây ô nhiễm khiến các nguồn nước đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm rất cao.

Cùng với ô nhiễm, thiếu an toàn đập, hồ chứa nước gia tăng cũng là những rủi ro đáng quan ngại. Dưới tác động của BĐKH, sự suy giảm rừng đầu nguồn và thảm thực vật trên các hồ chứa nước đang gia tăng. Những số liệu thống kê cũng cho thấy, kể từ năm 2010 đến nay đã xảy ra trên 75 sự cố hồ đập thuy lợi và trên 14 sự cố về hồ thủy điện. Những quy định an toàn đập, hồ chứa đã được xây dựng và bước đầu thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, ở nhiều nơi vẫn chưa quan tâm bố trí kinh phí thực hiện; mặt khác, thiếu nhân lực quản lý khai thác từ cơ sở đến cấp tỉnh còn phổ biến nên hiệu quả thực thi chưa đáp ứng được yêu cầu.

Từ những tồn tại và hạn chế nêu ra, việc sử dụng tài nguyên nước ở Viêt Nam còn kém hiệu quả. Bộ trưởng Bộ TN&MT cho biết, trên 80% tổng lượng nước đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ tạo ra 2,37USD/m3, trong khi mức trung bình toàn cầu là 19,42 USD. Hiệu quả sử dụng thấp khiến giá thành sản phẩm cao, gây ảnh hưởng bất lợi đến khả năng cạnh tranh sản phẩm và lợi nhuận của nhà đầu tư, khiến thách thức an ninh nguồn nước ngày càng thêm nặng.

Ngày nước Thế giới, luật pháp quản lý và giải pháp đảm bảo an ninh

nuoc-1679557837.jpg

Biến nước thành tài nguyên du lịch (Ảnh sử tầm)

Sự kiện thế giới về nước đầu tiên được tổ chức vào ngày 22 tháng 3 năm 1993; ba mươi năm qua, vào những ngày này, các quốc gia đều tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể nhằm kêu gọi nhân loại nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nước đối với đời sống trong sự phát triển bền vững; Liên Hợp Quốc hằng năm đều lựa chọn chủ đề hành động cụ thể nhằm giải quyết nhứng thách thức và dự báo tương lai.

Chủ đề Be the change năm nay với mục đích kêu gọi tất cả mọi người cùng tham gia hành động  nhằm thay đổi cách khai thác tiêu thụ, sử dụng và quẩn lý tốt nguồn nước. Chương trình hành động được tập hợp từ những cam kết tự nguyện của các Chính phủ, tổ chức. liên minh và các thành viên trong cộng đồng để thúc đẩy mục tiêu về nước và vệ sinh đã được xác định trong mục tiêu phát triển bền vững về “Nước sạch và vệ sinh cho tất cả mọi người vào năm 2030” (SDG6) của Liên Hợp Quốc...

Theo Ban tổ chức Ngày nước toàn cầu, thế giới hiện đi chệch hướng yêu cầu. Dữ liệu nghiên cứu cũng đã chỉ ra, các Chính phủ cần phải nỗ lực thêm nhiều lần mới đạt được mục tiêu đúng hạn, Có nhiều tác nhân ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn (chu trình) nước dẫn đến tác động tiêu cực từ sức khỏe đến nạn đói, bình đẳng giới tới việc làm, giáo dục và sự tham gia. Thay đổi nhanh chóng và khẩn trương là việc làm cần thiết, nó đòi hỏi mọi người đều phải chung sức đóng góp vì một  hành động dù nhỏ, nhưng cũng đêu tạo nên sự khác biệt.

Người Viêt Nam từng xác định, nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống, nó quyết định sự tồn vong và phát triển của đất nước. Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn thể chế chính sách về tài nguyên, đẩy mạnh hợp tác với những nước có chung nguồn nước nhằm quản lý bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này. Quá trình thực thi Luật Tài nguyên đã mang lại những kết quả, tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý và chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động về khai thác, bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên, công tác quản lý tài nguyên nước còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

Thiếu thông tin, số liệu và cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý là một tồn tại; nguồn nước  phụ thuộc vào bên ngoài, lại phân bổ không đều theo không gian và thời gian đã ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác sử dụng. Áp lực phát triển kinh tế-xã hội khiến nhu cầu khai thác gia tăng; ô nhiễm nguồn nước nặng nề và thiếu khả năng tiếp cận nước sạch an toàn. Ngoài ra, nguồn nước còn chịu tác động nặng nề bởi BĐKH.

Nhằm giải quyết những khó khăn, bất cập Bộ TN&MT đã xác định những nhóm nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045. Theo đó đã tập trung vào: Tăng cường hoàn thiện, đổi mới thể chế chính sách để quản lý ngành nước theo hướng thông minh; nâng cao năng lực ứng phó với tác động bĐKH và rủi ro liên quan; đẩy mạnh thanh kiểm tra, tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng vào đảm bảo an ninh tài nguyên nước quốc gia.

Theo hướng phát triển trên đây, từ năm 2022 Luật cấp thoát nước đã được triển khai xây dựng trên tinh thần rà soát, sửa đổi Nghi định 117/NĐ-CP về sản xuất cung cấp và tiêu thụ nước sạch và Nghị định 84/2014 về thoát nước và xử lý nước thải. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang nghiên cứu xây dựng Luật cấp thoát nước nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, làm công cụ quản lý và phát triển cấp thoát nước.

Cùng với Luật cấp thoát nước, Bộ TN&MT đang dự thảo Luật TN nước (sửa đổi) nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước Quốc gia. Luật cần làm rõ các ưu tiên, chính sách xã hội hóa trong bảo vệ phát triển TN nước; chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang bằng công cụ kinh tế. Dự thảo Luật TN nước (sửa đổi) được xây dựng theo hướng tách bạch quản lý tổng hợp thống nhất về TN nước với quản lý vận hành công trình trình khai thác sử dụng đồng thời xử lý những trồng chéo, đan xen và xung đột có trong các bộ luật khác.

Trên tinh thần này, Dự thảo Luật (sửa đổi) đã bổ sung các quy định nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn nước bên ngoài và ảnh hưởng của BĐKH; bổ sung các quy định nhằm xã hội hóa theo hướng việc doanh nghiệp làm được thì giao cho doanh nghiệp thực hiện, hướng tới nhà nước quản lý, doanh nghiệp thực hện và dần dịch chuyển để nhà nước chỉ ban hành chính sách và hậu kiểm.

Chuyển đổi từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế đòi hỏi phải bổ sung thêm các quy định về đối tượng, nội dung lưu trữ và sử dụng nguồn nước. Các quy định ban hành cần theo hướng kiểm soát toàn diện hoạt động ảnh hưởng đến nguồn nước, lòng bờ, bãi sông, hồ chứa, nguồn gây ô nhiễm và báo vệ môi trường. Việc xác định vùng, tiểu lưu vực nguồn nước cần gắn với kế hoạch chi tiết trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông. Theo đó, trách nhiệm của Bộ TN&MT, các bộ ngành và địa phương, tổ chức cá nhân cần được quy định cụ thể.

Sau khi Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể về Điều tra cơ bản TN nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 tại Quyết định 432/QĐ-TTg ngày 24/3/2021, Bộ TN&MT đã cùng các địa phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Ngày 23/6/2022, Bộ Chính trị Đảng CSVN đã ban hành kết luận 36-KL/TW về đản bảo an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, đến năm 2030 phải cân đối đủ nước phục vụ dân sinh và phát triển KT-XH; giải quyết căn bản nước sinh hoạt, hoàn thiện đồng bộ hệ thống công trình điều tiết nước ngọt, tích trữ nước trên các lưu vực sông lớn; chủ động phòng chống thiên tai, thích ứng với BĐKH; xây dựng và vận hành hệ thống theo dõi, đánh giá và giám sát an ninh nguồn nước quốc gia.

Vào năm 2050 phải chủ động được nguồn nước phục vụ dân sinh và phát triển KT-XH, đảm bảo các hộ gia đình được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn; xử lý ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; chủ động ứng phó với thiên tai BĐKH, kiểm soát và khắc phục được tình trạng suy thoái, ô nhiễm tại các lưu vực sông, hoàn thiện chính sách đảm bảo an ninh nguồn nước.

Từ mục tiêu cần đạt, Kết luận đã chỉ ra 9 việc cần làm, tập trung vào Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của an ninh nguồn nước và an toàn hồ, đập chứa nước; hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng quy hoạch tài nguyên nước và điều tra cơ bản; chủ động tích trữ và điều hòa phân phối nguồn nước đáp ứng nhu cầu nước phục vụ dân sinh và phát triển KT-XH; nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý vận hành, đảm bảo an toàn hồ đập; giảm thiểu tác động bất lợi của thiên tai liên quan đến nước và BĐKH; nghiên cứu phát triển ứng dụng KHCN, chuyển đổi số trong đảm bảo an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập; tăng cường bảo vệ sinh thủy, phòng chống ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước và sau cùng là đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đảm bảo an ninh nguồn nước.

Phù hợp với những chủ đề về nước toàn cầu, hy vọng những chủ trương của Đảng Cộng sản và Chính phủ Vỉệt Nam sẽ mở đường để Việt Nam có vị trí xứng dáng trong sự nghiệp phát triển bền vững toàn cầu./.