Hoa sứ và ước nguyện về bức hình của cha

Tháng Bảy về, khi những ngọn nến tri ân thắp lên ở các nghĩa trang liệt sĩ dọc dải đất miền Trung - Tây Nguyên đại ngàn, lòng A Đôi lại cuộn trào những lớp sóng bồi hồi, thổn thức. Cuộc đời A Đôi là một câu chuyện cảm động mà đẫm nước mắt của người con đồng bào Xơ Đăng lớn lên từ khói lửa chiến tranh, được Đảng chở che đưa ra miền Bắc học tập rồi trở về trọn đời cống hiến cho quê hương. Thế nhưng, đằng sau bao năm tháng gánh vác những trọng trách lớn lao của tỉnh nhà, trong sâu thẳm tâm can người con ấy vẫn hoài ấp ủ một nỗi niềm đau đáu chưa bao giờ nguôi ngoai: "ước nguyện có được một tấm hình của người cha kính yêu để đặt lên bàn thờ tiên tổ".

Cha của A Đôi là liệt sĩ A Lai, người cán bộ kinh tài của xã Đắc Sao, huyện Đắc Tô. Giữa những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất, khi núi rừng Tây Nguyên gầm thét dưới bom đạn cày xới, A Lai cùng đồng đội vẫn kiên cường bám làng, gùi gạo, gom từng hạt muối để nuôi dưỡng phong trào cách mạng. Trong ký ức mường tượng của cậu bé A Đôi ngày ấy chưa tròn bảy tuổi, người cha Xơ Đăng dáng cao gầy, ánh mắt sáng quắc và cương nghị luôn dạy con tình yêu thương đồng bào sâu nặng. Những lời động viên mộc mạc mà ấm áp tình người ấy của cha đã bồi đắp vào tâm hồn thơ trẻ của A Đôi lòng yêu nước nồng nàn và ý chí sắt đá. A Đôi ngày nhỏ cũng ghi nhớ những bài học ấy, lớn lên mang muối, mang phần ăn san sẻ cho bạn bè, cho những người già đau ốm trong buôn làng.

1785072657943-1971976866488634847-1971976866488634847-4e63f4e88b5fa96fca0ce780c803a1e5-1785075706.jpg
A Đôi khi làm phó tổng biên tập báo Kon Tum.

Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi những người con ưu tú. Trong một trận càn quét và phục kích đẫm máu nhằm triệt phá cơ sở cách mạng, liệt sĩ A Lai đã anh dũng hy sinh. Sự tàn bạo của kẻ thù đẩy sự đau thương đến tận cùng khi chúng gom ba chiến sĩ du kích hy sinh gồm A Lai, A Nhing – người bác rể lấy chị của mẹ – và A Prat, chất chồng lên nhau rồi đặt mìn phía dưới để tiếp tục tiêu diệt những người đi tìm liệt sĩ. Suốt một tuần mai phục, không đạt được mưu đồ ác độc, giặc cho mìn nổ để phi tang thi thể các anh.

Ngày ấy, hai anh em A Đôi còn quá nhỏ dại chưa hiểu hết tội ác man rợ của kẻ thù. Phải mãi tận sau này, khi gia đình nhận được Bằng Tổ quốc ghi công, người thân mới bàng hoàng đọc và nghẹn ngào biết cha mình đã vĩnh viễn nằm lại với đất mẹ vào ngày 5 tháng 7 năm 1967. Suốt những năm chiến tranh ác liệt, mẹ dắt hai anh em cùng dân làng sơ tán không biết bao nhiêu lần bom địch rải thảm vùng căn cứ kháng chiến, vượt qua những trận càn khốc liệt tận chân núi Ngọc Păng. Trong ký ức tuổi thơ nhuốm màu đau thương ấy, lòng căm thù giặc sâu sắc đã kết tinh thành bản lĩnh vươn lên. Ðiều buồn thương nhất là cha hy sinh oanh liệt nhưng không có một tấm hình để lại. Người con của núi rừng Xơ Đăng đã hóa thân trọn vẹn vào đại ngàn Tây Nguyên, để lại cho đời sau khúc ca hào hùng và một khoảng trống mênh mông không gì bù đắp nổi.

1785072657974-1971976866488634847-1971976866488634847-cf538dfeb5be38a935cceda887e18353-1785075706.jpg
A Đôi (mập) cùng con trai của 1 liệt cùng hy sinh đi tim hài cốt cha.

Chiến tranh tiếp tục cướp đi những người thân yêu nhất. Năm 1972, người mẹ kính yêu đột ngột qua đời giữa bom đạn; rồi đến năm 1975, người em gái nhỏ cũng vĩnh viễn ra đi vì bệnh tật ngay lúc đất nước vừa dứt tiếng súng hòa bình. Gia đình bỗng chốc chỉ còn lại một mình A Đôi bơ vơ, khi anh đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đưa ra miền Bắc học tập từ năm 1970. Mang theo hình bóng người cha anh dũng và nỗi đau thương tột cùng, A Đôi bước vào hành trình đèn sách với ý chí phi thường. Dù học văn hóa hay được cử đi đào tạo nghệ thuật trong nước cũng như nước bạn Trung Quốc, trong tâm can chàng trai Xơ Đăng chưa bao giờ nguôi ngoai hướng về buôn làng, tự nhủ phải phấn đấu thật tốt để sớm trở về cống hiến cho quê hương.

Trở về Tây Nguyên, A Đôi trải qua nhiều cương vị công tác quan trọng tại tỉnh Kon Tum cũ: từ Phó Tổng biên tập Báo Kon Tum, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bí thư Huyện ủy Kon Rẫy, Phó ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, cho đến Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông trước khi nghỉ hưu vào năm 2020. Dù ở bất kỳ cương vị nào, A Đôi cũng giữ trọn phẩm chất của người cán bộ cách mạng tận tụy vì dân, mang hơi ấm và sự đổi mới về với các bản làng Xơ Đăng, Ba Na, Gié Triêng.

1785072657978-1971976866488634847-1971976866488634847-fedd026b9bea6b35c77750a747436206-1785075706.jpg
A Đôi (mập) cùng người thân thắp hương ngôi mộ có nắm đất nơi cha hy sinh tại nghĩa trang Đắc Tô.

Mãi cho đến năm 1996, sau bao nhiêu năm thao thức tìm kiếm thông tin về cha, A Đôi mới biết tin huyện Đắc Tô tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ cùng các nhân chứng trong đội du kích năm xưa. A Đôi liền sắp xếp công việc đi cùng đoàn. Nhưng thời gian và bom đạn đã xóa nhòa mọi dấu vết địa hình. Trở lại chốn rừng thiêng nước độc ngày cũ, bước chân người con trai nghẹn ngào rà soát từng tấc đất, từng hốc đá, nơi mồ hôi và máu của cha cùng đồng đội từng hòa quyện vào dáng núi hình sông để giữ trọn mảnh đất quê hương. Tìm mãi khắp các sườn đồi, thứ duy nhất họ tìm thấy chỉ là một số vỏ đạn han gỉ nằm sâu trong lòng đất. Không thể tìm thấy dấu vết hài cốt của cha mình và hai liệt sĩ, A Đôi cùng thân nhân ba gia đình đã quyết định trồng cây sứ trên vùng sườn núi nơi mà cha và đồng đội đã chiến đấu và hy sinh. Ba gia đình cẩn trọng lấy ba túi đất thiêng nhuộm đượm mồ hôi, máu xương và cả linh hồn của các anh mang về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đắc Tô, cùng chính quyền địa phương trang trọng lập bia và xây nên những phần mộ ấm áp nghĩa tình. Để từ đây, giữa chốn linh thiêng của nghĩa trang huyện nhà, những nắm đất thiêng liêng ấy hóa thành vầng linh khí chở che, ôm ấp hương hồn người cha và các đồng đội. Từ đó, mỗi độ tháng Bảy về hay vào dịp giỗ trận mùng 5 tháng 7, A Đôi cùng người vợ hiền Y Hồng Hà lại đến nghĩa trang dâng hương trên đài bia Tổ quốc và phần mộ có nắm đất mang linh hồn của người cha.

Thời gian trôi đi, những cây sứ được trồng năm ấy nay đã vươn cao tỏa bóng, mỗi mùa hoa lại nở trắng tinh khôi, tỏa hương ngát giữa đại ngàn. Nhìn những cánh hoa trắng muốt rơi nhẹ xuống thảm cỏ xanh, A Đôi thường lặng đi trong niềm xúc động nghẹn ngào. Hoa sứ như tượng trưng cho tấm lòng thanh tao, kiên trinh của người du kích năm xưa, ngã xuống để Tây Nguyên thêm xanh tươi, cho Tổ quốc hòa bình, hạnh phúc. Hôm nay, khi tuổi đã cao, nhìn lại chặng đường dài đã qua, điều trăn trở lớn nhất của người con ưu tú dân tộc Xơ Đăng ấy vẫn là ước nguyện có được một tấm hình của cha đặt trên bàn thờ tiên tổ. Dẫu biết rằng cha đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, nhưng trong sâu thẳm cõi lòng, hình bóng ấy vẫn luôn vẹn nguyên, sáng ngời như ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ mai sau.