Huyền thoại bắt đầu từ một quyết định mang tính lịch sử của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vào ngày 23 tháng 10 năm 1961, khi Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, được thành lập. Nhiệm vụ của đoàn là sử dụng các loại tàu vận tải nhỏ, cải trang thành tàu đánh cá hoặc tàu buôn để bí mật vận chuyển vũ khí, khí tài và cán bộ từ miền Bắc vào chi viện cho các chiến trường miền Nam, đặc biệt là những nơi mà đường Trường Sơn trên bộ chưa thể vươn tới hoặc gặp nhiều khó khăn. Những con tàu này được gọi là "không số" không phải vì chúng không có số hiệu, mà vì số hiệu của chúng thường xuyên thay đổi, không cố định, nhằm che mắt sự kiểm soát của hải quân và không quân đối phương.
Qua các tư liệu lịch sử được công bố gần đây, chúng ta đã có cái nhìn chi tiết hơn về quy mô khổng lồ của tuyến đường này. Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, đường Hồ Chí Minh trên biển đã tổ chức gần 2.000 lượt tàu thuyền vượt biển. Những con tàu nhỏ bé ấy đã thực hiện hành trình không tưởng qua gần 4 triệu hải lý, bất chấp điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và vòng vây lửa đạn của kẻ thù. Tính chất của con đường này cực kỳ nguy hiểm, bởi mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với tử thần. Các chiến sĩ trên tàu không số luôn mang theo khối thuốc nổ đủ lớn để sẵn sàng hủy tàu, hy sinh cùng con tàu và hàng hóa nếu bị địch phát hiện, quyết không để rơi vào tay đối phương. Đó là một cam kết bằng máu mà mỗi người lính biển đều khắc ghi trước khi nhổ neo rời bến K15 tại Đồ Sơn, Hải Phòng.

Hiệu quả của tuyến đường này được minh chứng qua khối lượng hàng hóa và nhân lực khổng lồ được vận chuyển thành công. Trong suốt 14 năm hoạt động, tuyến đường này đã vận chuyển được gần 160.000 tấn vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, thuốc men và hàng hóa thiết yếu chi viện cho quân dân miền Nam. Riêng giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, lực lượng vận tải biển đã chuyển giao hàng chục ngàn tấn vũ khí hạng nặng gồm xe tăng và đại pháo, kịp thời đáp ứng yêu cầu của các chiến dịch lớn. Đặc biệt, con đường còn đảm bảo việc di chuyển an toàn cho hàng chục ngàn lượt cán bộ, chiến sĩ và lãnh đạo cao cấp vào miền Nam trực tiếp chỉ đạo kháng chiến. Những vũ khí từ miền Bắc, qua bàn tay của những thủy thủ quả cảm, đã cập 19 bến bãi thuộc địa bàn 9 tỉnh miền Nam trong những thời điểm then chốt nhất, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Tuy nhiên, để có được những con số huy hoàng ấy, cái giá phải trả là vô cùng to lớn. Những mất mát, hy sinh trên đường Hồ Chí Minh trên biển mang một nỗi bi tráng đặc biệt, nhiều khi toàn bộ tàu và người đều tan vào sóng biển, không để lại một dấu vết hay nấm mồ. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta ghi nhớ sự hy sinh của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ trên tuyến đường này, trong đó có những tập thể anh hùng như tàu 41, tàu 235 của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh, hay những tấm gương như Anh hùng Nguyễn Văn Đức.
Để hiểu rõ hơn về tính chất khốc liệt và tinh thần bất khuất của những người lính biển năm xưa, chúng ta hãy cùng lắng nghe nguyên văn những lời chia sẻ đầy xúc động của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Đức về những ký ức không thể nào quên trên con đường huyền thoại này:
"Trước khi hy sinh đồng chí nói em trúng đạn rồi có thể hy sinh các anh ở lại chiến đấu thắng lợi tới bây giờ những lời ấy còn theo tôi mãi mãi chứ có lẽ theo đến cuối đời khi trên biển chở đầy vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam địch thả trúng cái bơm Naban mà gia đình tôi phải hy sinh bảy người trong đó có một bào thai cũng mất mát hoàn cảnh khác cũng mất mát lấy căm thù ra mình làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam thì dân mình mới được tự do và hạnh phúc 20 tuổi dân đánh cá ở địa phương cho nên là được tổ chức cái thuyền đi trinh sát mở đường ra miền Bắc bằng đường biển sau này gọi đó là đường Hồ Chí Minh trên biển khi sóng mà 4, 5 m nó lên nó xuống nè rồi nó dằn cái rồi coi như nếu nếu mà gặp vô mùa thì nó dằn cái là nằm trên giường nó cũng rơi xuống đất rơi xuống sàn tàu nhưng mà anh em chịu được mở được đường biển thì có 16 người thôi chở được gần 100 tấn hàng trăm tấn súng đạn thì nó hiệu quả đến mức nào cho nên có hy sinh đến mức nào cũng phải giữ con đường huyết mạch trên biển Đông của đoàn tàu không số từ cái chiếc tàu ấy mà cấp cho 60 tấn vũ khí trong lúc không còn viên đạn nào để chiến đấu thì đó là quý giá vô cùng tiếp sức quân dân miền Nam triệt ác phá kềm mở rộng vùng giải phóng."
Lời kể của Anh hùng Nguyễn Văn Đức không chỉ là một trang ký ức cá nhân mà còn phản ánh chân thực hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Sự hy sinh của gia đình ông với bảy người tử nạn bởi bom Napalm, bao gồm cả một sinh linh chưa kịp chào đời, là nỗi đau chung của rất nhiều gia đình Việt Nam trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, thay vì gục ngã trước mất mát, ông và những người đồng đội tuổi đôi mươi, vốn là những ngư dân chân chất, đã biến nỗi đau thành sức mạnh, biến lòng căm thù thành hành động cách mạng để đi mở đường cứu nước.

Nhìn lại toàn cảnh, đường Hồ Chí Minh trên biển không chỉ là một tuyến vận tải đơn thuần mà là một nghệ thuật quân sự độc đáo, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Bác Hồ. Đó là sự kết hợp giữa lòng dân, thế trận lòng biển và trí tuệ của những con người dám nghĩ, dám làm. Việc sử dụng những con tàu nhỏ bé, lợi dụng các luồng lạch phức tạp và cả những hải trình viễn dương để trà trộn vào dòng chảy thương mại quốc tế đã khiến các phương tiện giám sát hiện đại nhất của đối phương nhiều lần bất lực. Mỗi chuyến tàu cập bến an toàn không chỉ mang theo đạn dược mà còn mang theo niềm tin chiến thắng và tình cảm sâu nặng của hậu phương gửi cho tiền tuyến.
Hiệu quả kinh khủng từ việc chỉ với 16 người trên một con tàu nhỏ mà có thể vận chuyển hàng trăm tấn súng đạn đã tạo nên những cú hích làm thay đổi cục diện chiến trường. Khi quân dân miền Nam đang trong tình thế thiếu hụt vũ khí trầm trọng, sự xuất hiện của những con tàu không số cùng hàng chục tấn đạn dược chính là "nguồn sống", là sức mạnh để họ vùng lên phá kìm, mở mảng, mở vùng giải phóng. Điều này đặt ra một vấn đề phản biện sâu sắc: Nếu không có sự mưu trí trong việc cải trang và lợi dụng yếu tố bất ngờ, liệu chúng ta có thể đối đầu với hệ thống radar và tuần tiễu dày đặc của địch? Câu trả lời nằm ở bản lĩnh của những người lính biển, những người đã biến đại dương thành chiến trường của lòng dân.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta càng thấy rõ hơn giá trị của con đường huyền thoại này trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những bài học về sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần quyết thắng của Đoàn tàu không số vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở vũ khí tối tân mà còn nằm ở sự đoàn kết, lòng yêu nước và ý chí độc lập tự chủ. Những di tích lịch sử như bến Vũng Rô, bến K15 hay bến Lộc An không chỉ là những địa danh lịch sử mà còn là những tượng đài bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam.
Để tiếp nối tinh thần ấy chính là việc giáo dục lịch sử một cách sống động, gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới. Các bài viết, thước phim và tư liệu về tàu không số cần được lan tỏa rộng rãi để mỗi công dân đều hiểu và tự hào về một thời hoa lửa. Sự hy sinh của các anh hùng, chiến sĩ trên đường Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp thống nhất non sông, để hôm nay chúng ta có một đất nước hòa bình và phát triển. Ý chí và tinh thần của những người lính năm xưa vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay và mãi mãi về sau.
Huyền thoại trùng khơi rạng sử vàng,
Đoàn tàu không số vượt gian nan.
Lòng mang nợ nước thề dâng hiến,
Chí giữ biển Đông quyết chẳng hàng.
Vũ khí đầy kho chi viện gấp,
Sóng gầm mặt bến nghĩa dâng tràn.
Ngàn thu rạng rỡ tên anh kiệt,
Độc lập tự do mãi vững bền.