Lễ khao quân tại di tích đình So (xã Hưng Đạo, TP. Hà Nội): Từ giá trị lịch sử đến di sản văn hóa độc đáo

Di tích Quốc gia đặc biệt đình So (xã Hưng Đạo, Hà Nội) nổi tiếng với kiến trúc tinh xảo và các lễ hội truyền thống đặc sắc. Lễ hội truyền thống đình So, nhất là Lễ khao quân mồng 10 tháng 7 âm lịch, không chỉ là dịp để người dân tri ân các vị Thành hoàng, giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước, mà còn là không gian để duy trì những giá trị văn hóa độc đáo. Với những giá trị văn hóa phi vật thể phong phú này, Lễ hội truyền thống đình So cần sớm được xem xét để trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.

Truyền thuyết lịch sử và Di tích Quốc gia đặc biệt

Thần tích, ngọc phả về ba vị Thành hoàng đình làng So - Tam vị hiện thông Nguyên soái Đại vương đang lưu trữ tại xã Hưng Đạo, thành phố Hà Nội bằng chữ Hán do Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1572) và được Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh thần Nguyễn Hiền sao chép chính bản năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) và được giới thiệu trong cuốn “Giới thiệu tổng quan Di tích Quốc gia đặc biệt đình So”, NXB Thanh niên, năm 2019, cùng các truyền thuyết dân gian còn được lưu truyền tại nhiều địa phương của Hà Nội và Ninh Bình đã ghi chép khá chi tiết về hoạt động của Đinh Bộ Lĩnh trong quá trình bình định 12 sứ quân, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt, một nhà nước phong kiến tập quyền trung ương đầu tiên của nước ta. Trong đó, có những ghi nhận về vai trò của ba anh em họ Cao cùng 300 tráng sĩ trang Sơn Lộ đã giải cứu vua Đinh bị vây hãm ở chùa Bối Khê. Trận đánh này có tính chất quyết định để đánh bại sứ quân Đỗ Động Giang hùng mạnh của Đỗ Cảnh Thạc.

base64-16761784207051107559506-1756476856.png
Di tích Quốc gia đặc biệt đình So.

Theo đó, vào năm 930 khi vợ chồng ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả, dù đã cao tuổi, vẫn sinh được ba người con trai nhờ sự linh thiêng. Lớn lên, ba anh em họ Cao đã theo phò tá Đinh Bộ Lĩnh. Trong một trận chiến cam go, khi Đinh Bộ Lĩnh bị sứ quân Đỗ Cảnh Thạc vây hãm tại chùa Bối Khê ở huyện Thanh Oai, tình thế vô cùng nguy cấp. Đúng lúc đó, ba anh em họ Cao đã dẫn 300 tráng đinh của trang Sơn Lộ (nay là xã Hưng Đạo) đến giải vây. Họ đã dũng mãnh chiến đấu, chém chết tướng giặc, giúp quân của Đinh Bộ Lĩnh phá tan vòng vây và giành chiến thắng quyết định.

Sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi Hoàng đế, vua Đinh Tiên Hoàng đã tổ chức lễ khao quân vào ngày 10 tháng 7 âm lịch năm đó, đặc biệt dành cho các nghĩa quân đã đồng hành cùng ông trong những trận đánh cuối cùng với sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc, trong đó có trận giải vây tại chùa Bối Khê. Ba anh em họ Cao được nhà vua phong tước Soái và thực ấp ở huyện Ninh Sơn (thuộc phủ Quốc Oai). Ba ông đồn doanh sống ở trang Sơn Lộ, một vùng đất sơn thủy hữu tình, có thế rồng hổ ôm ấp “Núi không cao mà có sa thổ đan xen, nước hữu tình, phía trước có dải sông nhỏ, phía sau là núi đất cao, tựa như hình rùa. Lại nhận ra phía Đông có chính khí, đặt theo hướng đó, tưởng cũng là một thắng cảnh thực sự phong quang vậy”.

dinh5-1756477712.jpeg
Một soạt động tại Lễ hội truyền thống đình So.

Ngày Thần hóa, mồng 10 tháng 12 năm Mậu Thìn (968), nhà vua cho người về tế lễ và ban cho khu trang Sơn Lộ làm Hộ nhi sở tại để phụng thờ các ngài. Nhà vua đã trực tiếp ban cho các ngài 8 chữ là “Cao Thông, Bác Đạt, Tính Chính, Tối Linh” và ba lần sắc phong: “Động Linh Thông Hiện Nguyên soái Đại vương”; “Thông Hiện Nguyên soái Đại vương” và “Thông Hiện Nguyên soái Đại vương”.

Từ đó, về sau đền thờ ba vị ở trang Sơn Lộ rất linh ứng, vì thế được nhiều đời đế vương ban tặng gia phong mỹ tự.

Sau khi dẹp được giặc Nguyên Mông, vua Trần Thái Tông ban phong mỹ tự “Linh ứng Anh triết Đương lộ Ngô Hiển hựu”. Hay sau khi dẹp yên được quân Liễu Thăng nhà Minh, thiên hạ thái bình, vua Lê Thái Tông ban phong mỹ tự cho ba vị “Phổ tế Cương nghi Anh linh” và cho phép trang Sơn Lộ được trùng tu miếu điện để thờ phụng các ngài với các ngày lễ chính:

- Thần sinh ngày mồng 8 tháng 2, lệ lễ dùng trên cỗ chay, dưới thịt trâu bò, xôi, rượu, bánh giầy, ca hát, đánh cờ, đấu vật trong 3 ngày.

- Thần hóa ngày 10 tháng 12 chính lệ, lễ dùng trên cỗ chay, dưới xôi đen, rượu, bánh dày.

- Lệ khánh hạ ngày 10 tháng 7 chính lệ, lễ dùng trâu bò, xôi rượu, ca hát 3 ngày.

- Lệ khánh hạ ngày mồng 4 tháng 5, lễ dùng tùy nghi.

Đến năm 1673 thời Lê Trung Hưng (1533-1788), nơi thờ phụng các ngài nêu trên được tu bổ cũng như mở rộng thành ngôi đình khang trang và trở thành một trong những ngôi đình đẹp nhất đồng bằng Bắc Bộ với danh xưng “Đẹp đình So. To đình Cấn”. 

Trải qua những biến thiên của lịch sử, người dân làng So trang Sơn Lộ xưa (nay là xã Hưng Đạo), các ngày lễ hội trên, cùng các phong tục tập quán tốt đẹp gắn với di tích đình làng So luôn được duy trì như một di sản văn hóa quý báu của địa phương. Đặc biệt, Lễ khao quân được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 7 âm lịch hàng năm, không chỉ là những nghi thức đơn thuần mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và tinh thần sâu sắc, góp phần tạo nên bản sắc độc đáo của lễ hội đình làng So.

Lễ khao quân đình So: Dấu ấn lịch sử và giá trị văn hóa

Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi nhận những hoạt động và chiến công của Đinh Bộ Lĩnh trong giai đoạn loạn 12 sứ quân. Sau cái chết của Ngô Xương Văn, loạn lạc bùng nổ, chính sử đã phác họa rõ nét cách Đinh Bộ Lĩnh từ một hào trưởng ở Hoa Lư đã trở thành người thống nhất đất nước. Ông không chỉ dùng mưu lược mà còn chiêu mộ được nhiều tướng tài, trong đó có Lê Hoàn, tạo nên một thế lực hùng mạnh. Tiến trình dẹp loạn của ông diễn ra đầy khó khăn nhưng dứt khoát, lần lượt đánh bại các sứ quân như Ngô Nhật Khánh, Lã Xử Lãm, Nguyễn Siêu...

Trận đánh với Đỗ Cảnh Thạc là một trong những trận chiến cuối cùng và có ý nghĩa quyết định. Chính sử ghi chép ngắn gọn nhưng đầy đủ về kết quả: "Đinh Bộ Lĩnh đánh Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang, lấy được thành. Đỗ Cảnh Thạc thua trận, bị trúng tên chết." Hai câu nói này không chỉ xác nhận sự tồn tại của Đỗ Cảnh Thạc và vị trí căn cứ của ông mà còn khẳng định Đinh Bộ Lĩnh chính là người đã kết thúc cuộc loạn này.

dinh4-1756477844.jpg
Nghinh rước bài vị của các ngài tại Lễ hội truyền thống làng So.

Chính những ghi chép này của chính sử đã tạo nên cơ sở vững chắc để các câu chuyện truyền thuyết và dã sử có thể phát triển, bổ sung chi tiết về vai trò của những anh hùng dân gian như ba anh em họ Cao và người dân làng So, từ đó làm phong phú và sống động thêm lịch sử dân tộc.

Câu chuyện về trận chiến giải vây tại chùa Bối Khê, nơi Đinh Bộ Lĩnh bị sứ quân Đỗ Cảnh Thạc bao vây, không chỉ tồn tại trong các ghi chép chính sử mà còn được củng cố mạnh mẽ bởi hệ thống dã sử và di tích lịch sử tại địa phương. Ngọc phả đình làng So, một nguồn tư liệu quý giá, đã ghi lại câu chuyện một cách chi tiết và sống động, kể về ba anh em họ Cao và 300 tráng đinh làng So đã anh dũng phá vòng vây, chém tướng giặc, góp phần làm nên chiến thắng quyết định.

Tính chân thực của câu chuyện được khẳng định khi đối chiếu với các di tích và truyền thuyết tại nhiều địa phương lân cận. Thần phả và những ghi chép có liên quan đến di tích đền Ba Dân (Ninh Bình), chùa Bối Khê (huyện Thanh Oai) và các đình thờ Thành hoàng ở huyện Quốc Oai như đình Cổ Hiền, đình Ngô Sài, đình Sài Khê…đều lưu truyền những câu chuyện liên quan đến trận chiến này. Sự tồn tại của các địa danh và các truyền thuyết tại nhiều nơi cho thấy đây không phải là câu chuyện hư cấu của riêng một làng mà là một sự kiện có tầm vóc khu vực, được cả một vùng đất ghi nhớ.

Những chi tiết về lễ khao quân sau chiến thắng, với các nghi thức như dâng trâu tế lễ, hát cửa đình và lễ vật truyền thống, cũng được Ngọc phả và các truyền thuyết miêu tả cụ thể. Việc người dân đã duy trì và phát triển các hoạt động này qua nhiều thế kỷ càng làm tăng thêm tính xác thực. Lễ khao quân đình So không chỉ là sự kiện tưởng niệm mà còn là bằng chứng sống động, khẳng định rằng những cống hiến của ba vị tướng họ Cao và người dân làng So trong việc giúp vua Đinh thống nhất đất nước Đại Cồ Việt, một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên đã mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Chính những câu chuyện được lưu truyền tại các di tích này, cùng 45 đạo sắc phong, tài liệu lưu trữ quý hiếm từ 27 vị vua (từ thời Đinh Tiên Hoàng, năm 968 đến cuối thời nhà Nguyễn, năm 1945) và 03 bằng xếp hạng Di tích Quốc gia: Di tích Kiến trúc thế kỷ XVII (1980); Di tích Lịch sử - Văn hóa (1995) và Di tích Quốc gia đặc biệt (2018)…là sự thừa nhận của lịch sử, đã lấp đầy những khoảng trống của chính sử, mang lại một góc nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về lịch sử.

Ý nghĩa của Lễ khao quân đình So

Theo ngọc phả đình So và hương ước xã Sơn Lộ đang được lưu trữ tại đình làng So, cùng với tư liệu dân gian đều khẳng định lễ vật chính trong Lễ khao quân tại đình So là một con trâu. Điều đặc biệt là việc sắm sửa lễ vật này được phân chia cho 28 giáp (các nhóm dân cư) trong làng. Mỗi năm, một giáp sẽ phụ trách việc chuẩn bị con trâu để dâng tế. Điều này có nghĩa là phải mất 28 năm thì một giáp mới lại đến lượt sắm lễ. Con trâu được chuẩn bị rất công phu: thui khéo, da vàng xộm, đặt quỳ trên một cái giá gỗ, mõm hếch lên và sừng được cuốn giấy đỏ trang trọng. Lễ vật dâng nhà ngài còn có xôi rượu và các sản vật đặt trưng của quê hương như bánh dày, xôi đen, bún và chè kho.

Lễ khao quân cũng giống như Lễ Thần sinh ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch đều được tổ chức trong 03 ngày với nhiều hoạt động phong phú, bao gồm: Tế lễ và Rước kiệu: Đây là những nghi thức chính, trang trọng để tưởng nhớ công ơn của Tam vị Đại vương; Các cuộc thi: Thi lợn, thi làm bánh, thi các nghề sinh nhai khác của cư dân; Các trò chơi dân gian: Lễ hội có các hoạt động vui tươi, thu hút người dân và du khách như bịt mắt bắt dê, đấu vật, và các môn thể thao; Các hoạt động văn hóa nghệ thuật: Có các buổi biểu diễn hát Quan họ dưới hồ bán nguyệt, múa lân sư rồng và nhiều tiết mục văn nghệ quần chúng khác. Trong đó, có dấu ấn đặc trưng là các trò diễn xướng dân gian được tổ chức ở cửa đình đã mô phỏng, tái hiện sinh động lại tích nhà Ngài cùng 300 tráng sĩ làng So giải cứu vua Đinh ở chùa Bối Khê.

dq-1756477394.jpg
 

Chuyên gia Pháp Jean Michel Gallet và một số cán bộ của Viện Kinh tế, Văn hóa và Nghệ thuật trong chuyến điền dã tìm hiểu những giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật tại đình So. 

Những hoạt động trong Lễ khao quân và các lễ hội trong năm tại đình làng So được lưu truyền từ xa xưa, đến nay, dù đã lược bỏ nhiều hoạt động cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống mới và được tập trung chính vào Lễ hội truyền thống đầu năm từ ngày mồng 8 tới mồng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Tuy nhiên, những giá trị và ý nghĩa nguyên thủy của nó vẫn luôn được người dân và chính quyền quan tâm, nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử của quê hương, bày tỏ tri ân công đức tới các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.

Thứ nhất, dâng trâu tế lễ: Biểu tượng của sự kính ngưỡng và thịnh vượng. Nghi thức dâng trâu là hoạt động trung tâm và linh thiêng nhất của lễ hội. Con trâu, biểu tượng của sức mạnh, sự no đủ và phồn thịnh trong nền văn minh lúa nước, được hiến tế để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của người dân đối với các vị Thành hoàng đã che chở cho làng. Việc thui trâu khéo léo, da vàng óng và trang trí cẩn thận, cho thấy sự tôn kính tuyệt đối của người dân đối với thần linh. Hành động này không chỉ là một nghi thức cúng tế mà còn là lời cầu nguyện cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, và cuộc sống ấm no.

Thứ hai, hát cửa đình và diễn xướng dân gian: Gìn giữ văn hóa phi vật thể. Hoạt động hát cửa đình và các trò diễn xướng dân gian là "linh hồn" của lễ hội, giúp tái hiện lại không khí hào hùng của trận chiến năm xưa. Các nghệ nhân hát thờ những bài hát cổ, với những quy tắc diễn xướng nghiêm ngặt, đặc biệt là việc kiêng kỵ tên húy của các vị thánh, đã thể hiện sự tôn kính và lòng thành. Hoạt động này không chỉ mang tính giải trí mà còn là phương thức hiệu quả để truyền lại các giá trị văn hóa, lịch sử cho thế hệ sau. Hơn nữa, nó còn cho thấy sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các làng xã khi làng thường mời các giáo phường nổi tiếng về biểu diễn, tạo nên một không gian văn hóa đa dạng và phong phú.

Thứ ba, lễ vật truyền thống: Kết nối ẩm thực với tín ngưỡng. Bánh dày, xôi đen, bún và chè kho không chỉ là những lễ vật đơn thuần mà còn là biểu tượng của tinh thần hậu phương vững chắc. Việc người dân dùng chính những sản vật của mình để khao quân thể hiện sự đồng lòng, chung sức. Ngày nay, miến dong làng So (một dạng bún được làm từ chất liệu củ dong riềng) đã trở thành một đặc sản nổi tiếng của quê hương, được sử dụng trong các bữa tiệc lễ hội và là niềm tự hào của người dân địa phương. Điều này cho thấy mối liên kết bền chặt giữa ẩm thực truyền thống và tín ngưỡng dân gian, giúp quảng bá hình ảnh của làng và thúc đẩy kinh tế cộng đồng.

Thứ tư, sự tham gia của 28 giáp: Tinh thần đoàn kết cộng đồng. Việc 28 giáp trong làng thay phiên nhau tổ chức lễ hội theo chu kỳ 28 năm thể hiện một cơ chế quản lý lễ hội mang tính cộng đồng cao. Hoạt động này củng cố sự gắn kết giữa các xóm, các dòng họ và từng cá nhân trong làng. Mỗi người dân đều cảm thấy mình là một phần của lễ hội, cùng nhau gìn giữ và phát huy truyền thống. Đây là một bài học quý giá về sự đồng lòng, trách nhiệm chung trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

dinh1-1756477971.jpeg
Rước kiệu tại đình làng So.

Có thể đánh giá, Lễ hội truyền thống đình làng So, nhất là lễ hội khao quân gắn với Di tích Quốc gia đặc biệt đình So là một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của Thủ đô Hà Nội ngàn năm, văn hiến, không chỉ bởi những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học độc đáo, mà còn thể hiện bản sắc của cộng đồng, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc xuyên suốt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của người Việt. Để phát huy những giá trị đặc sắc này, thiết nghĩ, UBND Thành phố Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan hữu quan cần sớm nghiên cứu xem xét công nhận Lễ hội truyền thống đình làng So là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia./.