Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất nông nghiệp ở nhiều địa phương tại Việt Nam. Những đợt nắng nóng kéo dài, mưa lớn bất thường hay ngập úng xuất hiện với tần suất dày đặc hơn đang đặt ra thách thức không nhỏ cho người nông dân, đặc biệt tại các vùng đất trũng thấp vốn nhạy cảm với biến động thời tiết. Tại xã Phú Yên, Hà Nội (trước là xã Minh Cường, huyện Thường Tín), những tác động ấy đã hiện hữu rõ nét trên đồng ruộng trong nhiều năm qua.
Trước áp lực từ thời tiết ngày càng cực đoan, người dân địa phương buộc phải tìm kiếm những phương thức sản xuất thích ứng hơn với điều kiện tự nhiên. Từ thực tế canh tác trên các vùng đất trũng, mô hình lúa - cá dần được mở rộng như một hướng đi phù hợp, vừa tận dụng được đặc điểm địa hình, vừa giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.
Mô hình thuận tự nhiên - hồi sinh những cánh đồng trũng

Đến thăm khu ruộng của làng Đống Chanh, xã Minh Cường (cũ) vào đầu tháng 6, dưới cái nắng gay gắt của tầm giữa trưa, chúng tôi thấy những guồng nước vẫn liên tục quay trên những cánh đồng lúa - cá rộng dài hàng chục héc-ta. Xen giữa những thửa ruộng ngập nước là những ao sen thơm ngát cùng vài dải lúa xanh trải dài, nơi hàng trăm con cá đang sinh trưởng bên dưới.

Ít ai nghĩ rằng chỉ vài năm trước, nhiều diện tích nơi đây từng canh tác kém hiệu quả, thậm chí có thời điểm bị bỏ không vì sản xuất bấp bênh.
“Khi tôi mới về đây làm năm 2018, nhiều ruộng lúa gần như bỏ hoang hết rồi. Đất trũng, năng suất thấp, gặp thời tiết bất lợi là coi như mất trắng”, anh Nguyễn Xuân Hoàn, một trong những hộ dân gắn bó lâu năm với mô hình lúa - cá, nhớ lại.
Theo anh Hoàn, những năm gần đây, điều người nông dân lo lắng nhất không còn là sâu bệnh mà là thời tiết ngày càng cực đoan. Nắng nóng kéo dài khiến lượng oxy trong nước giảm mạnh, trong khi những trận mưa lớn hay bão bất thường có thể gây thiệt hại chỉ trong thời gian ngắn.
"Nắng nóng bây giờ cực đoan hơn trước rất nhiều. Có những đợt nhiệt độ lên cao liên tục khiến cá chết hàng loạt vì thiếu oxy. Có năm thiệt hại tới vài chục phần trăm sản lượng", anh Nguyễn Xuân Hoàn, một hộ dân gắn bó nhiều năm với mô hình lúa - cá, chia sẻ.

Không chỉ giúp tận dụng tốt hơn điều kiện tự nhiên của vùng đất trũng, mô hình này còn mở ra hướng sản xuất thích ứng hơn với biến đổi khí hậu, đồng thời góp phần phục hồi môi trường đồng ruộng sau nhiều năm canh tác theo phương thức truyền thống.
Điều đặc biệt của mô hình này, theo anh Hoàn, nằm ở việc cây lúa và con cá không tồn tại riêng rẽ mà tạo thành một vòng tuần hoàn sinh học khép kín. Sau khi xuống giống, người dân cải tạo ruộng, đào mương bao quanh làm nơi sinh trưởng cho cá.
Trong quá trình phát triển, cá tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên từ cỏ non, sinh vật phù du, côn trùng và các phụ phẩm trên đồng ruộng. Ngược lại, chất thải của cá trở thành nguồn dinh dưỡng tự nhiên giúp cây lúa phát triển.
Nhờ cơ chế đó, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học giảm đáng kể.
“Con cá không chỉ cho sản phẩm mà còn giúp chăm ruộng. Nó ăn cỏ, ăn sinh vật trong nước rồi thải ra chất hữu cơ nuôi lại cây lúa. Nhờ thế mà mình giảm được rất nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật”, anh Hoàn chia sẻ.
Theo người nông dân này, sau vài năm áp dụng mô hình, những thay đổi rõ rệt nhất không nằm ở sản lượng mà ở chính môi trường canh tác. Khi lượng hóa chất được cắt giảm, hệ sinh thái đồng ruộng bắt đầu dần cân bằng trở lại.
“Ngày trước, khi còn phụ thuộc nhiều vào thuốc bảo vệ thực vật, đồng ruộng gần như vắng bóng các loài thủy sinh. Nhưng vài năm trở lại đây, tôi bắt đầu thấy tôm đồng, cua đồng hay cả những con cà niễng xuất hiện trở lại trên ruộng. Với tôi, đó là tín hiệu cho thấy hệ sinh thái đồng ruộng đang được phục hồi”, anh chia sẻ.

Không chỉ hệ sinh thái được phục hồi, chất lượng đất cũng thay đổi rõ rệt theo thời gian. Cùng tham gia mô hình lúa - cá trong những năm gần đây, anh Nguyễn Văn Khởi lại cảm nhận rõ sự thay đổi từ chính nền đất sản xuất.
“Ngày trước trồng lúa liên tục thì đất ngày càng chai cứng, mỗi vụ đều phải phụ thuộc vào phân bón. Còn bây giờ đất tơi hơn, lượng phân sử dụng cũng giảm đi rất nhiều”, anh cho biết.
Theo anh Khởi, sau mỗi vụ cá, ruộng được rút cạn nước và phơi đất trước khi bước vào vụ gieo sạ tiếp theo. Quá trình luân phiên giữa giai đoạn ngập nước và khô đất giúp hạn chế hiện tượng chua hóa, đồng thời tạo điều kiện để đất được phục hồi tự nhiên.

Đây cũng là một trong những yếu tố giúp mô hình lúa - cá được đánh giá là hướng sản xuất thuận tự nhiên, góp phần phục hồi độ phì của đất sau nhiều năm canh tác phụ thuộc vào hóa chất.
Sự “hồi sinh” này tới từ lớp bùn hữu cơ tích tụ từ thức ăn tự nhiên, xác thực vật và chất thải của cá trở thành nguồn dinh dưỡng cho vụ lúa sau. Nhờ vậy, đất giữ được độ mùn, khả năng giữ nước và hấp thụ dinh dưỡng cũng được cải thiện theo thời gian.
Đứng giữa cánh đồng đang vào vụ, anh Khởi cho rằng giá trị lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch mà còn ở việc giữ được môi trường sản xuất lâu dài.
"Đất tốt hơn, sinh vật đồng ruộng quay trở lại và vẫn tạo ra sản phẩm. Làm mô hình này có thể không giàu nhanh, nhưng giữ được đồng ruộng cho những năm sau", anh nói.
Kiến tạo “xanh” cho nguồn nước

Không chỉ đất được cải thiện, nguồn nước trong khu vực nuôi cũng ổn định hơn nhờ hạn chế hóa chất và tăng cường tái sử dụng nước giữa các ao.
Với anh Nguyễn Văn Thu, hộ dân đang canh tác hơn 5 ha theo mô hình lúa - cá tại xã Minh Cường, cho biết chất lượng nguồn nước là một trong những thay đổi rõ nét nhất sau nhiều năm gắn bó với mô hình. “Nguồn nước bên ngoài bây giờ tôi rất ngại lấy vào ao. Những hôm mưa lớn, nước từ cống rãnh chảy về thường đục và bẩn, đưa vào là cá và cây lúa dễ phát sinh bệnh tật”, anh Thu chia sẻ.
Chính vì vậy, thay vì thường xuyên lấy nước mới từ bên ngoài, nhiều hộ dân ưu tiên tận dụng nguồn nước đã được xử lý và ổn định trong hệ thống ao nuôi. Các chế phẩm vi sinh cũng được sử dụng thường xuyên để làm sạch môi trường nước và nền đáy ao, hạn chế phát sinh dịch bệnh, đồng thời giảm áp lực xử lý nước trong suốt quá trình nuôi.

Theo anh Thu, những năm đầu triển khai mô hình, không ít hộ dân gặp khó khăn trong việc duy trì chất lượng nước. Khi đó, cá thường được thả xuống ruộng khá muộn sau khi gieo lúa. Lượng lá lúa già, cỏ dại và các chất hữu cơ tích tụ dưới ruộng không được xử lý kịp thời, khi phân hủy đã làm nước nhanh xuống cấp, đáy ruộng xuất hiện hiện tượng yếm khí khiến cá dễ mắc các bệnh về mang.
Sau nhiều vụ sản xuất, người dân dần điều chỉnh quy trình canh tác theo hướng để cây lúa và con cá hỗ trợ lẫn nhau ngay từ đầu vụ. Cá được thả sớm hơn để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên như rong, rêu, sinh vật phù du và các chất hữu cơ phát sinh trong ruộng lúa. Nhờ đó, lượng hữu cơ dư thừa không tích tụ quá nhiều dưới đáy ruộng, môi trường nước được duy trì ổn định hơn.

“Bây giờ tôi thả cá sớm hơn và nâng nước theo từng giai đoạn phát triển của lúa. Cá vừa có thức ăn tự nhiên, vừa giúp làm sạch môi trường nước ngay từ đầu vụ nên nước ít bị đen hay thối đáy như trước. Môi trường ổn định hơn thì cá cũng khỏe và ít bệnh hơn”, anh Thu cho biết.
Theo anh, chính sự tương hỗ giữa cây lúa và con cá đã tạo nên một vòng tuần hoàn tự nhiên trên đồng ruộng. Cây lúa cung cấp nguồn thức ăn và nơi sinh trưởng cho cá, trong khi cá góp phần kiểm soát lượng hữu cơ dư thừa, hạn chế ô nhiễm nước và giảm nhu cầu sử dụng các chế phẩm xử lý môi trường.
Cây lúa nuôi con cá: Bài toán kinh tế xanh từ đồng ruộng

Ông Vũ Tùng Thiện, Giám đốc HTX Minh Cường nhận định rằng không chỉ mang lại lợi ích cho đất và nguồn nước, mô hình lúa - cá còn giúp người dân giảm đáng kể chi phí sản xuất trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp liên tục tăng cao.
Cụ thể, lợi thế lớn nhất của mô hình là tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên trên đồng ruộng. Sau khi gieo sạ, cá được thả xuống ruộng và trong khoảng hai tháng đầu gần như không phải sử dụng thức ăn công nghiệp. Trong khi đó, với hình thức nuôi cá truyền thống, một ao nuôi quy mô vài nghìn con có thể tiêu thụ tới 5 - 6 bao cám mỗi ngày, tương đương hơn 2 triệu đồng tiền thức ăn.
“Giá cám hiện nay dao động khoảng 440.000 - 450.000 đồng/bao. Chỉ riêng việc tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên từ ruộng lúa cũng giúp người dân tiết kiệm được hàng chục triệu đồng mỗi vụ nuôi”, ông Thiện cho biết.

Không chỉ giảm chi phí thức ăn, mô hình còn cắt giảm đáng kể phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Theo tính toán của HTX, chi phí sản xuất lúa theo mô hình lúa - cá hiện dưới 20 triệu đồng/ha, thấp hơn nhiều so với phương thức canh tác truyền thống trước đây. Trong khi đó, lúa sạch được thương lái thu mua với giá cao hơn khoảng 200 đồng/kg.
Đặc biệt, người dân có thể thu được hai nguồn sản phẩm trên cùng một diện tích đất. Sau khi kết thúc vụ lúa, cá tiếp tục được nuôi thương phẩm và trở thành nguồn thu chính. Với những ao nuôi thuận lợi, sản lượng có thể đạt từ 30 - 35 tấn cá/ha sau khoảng 7 tháng nuôi.

“Hiệu quả của mô hình phụ thuộc nhiều vào chất lượng con giống, nguồn nước và công tác quản lý môi trường. Dù vẫn có những vụ gặp rủi ro do dịch bệnh hoặc thời tiết bất lợi, nhưng với điều kiện thuận lợi, một ao đầu tư khoảng 300 triệu đồng có thể mang lại lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng sau mỗi vụ nuôi”, ông Thiện cho biết.
Theo vị giám đốc HTX, khi cộng cả giá trị từ lúa và cá, lợi nhuận trên cùng đơn vị diện tích có thể cao hơn khoảng 2-3 lần so với hình thức sản xuất truyền thống trước đây. Quan trọng hơn, phần lợi nhuận đó không đến từ việc tăng sử dụng vật tư đầu vào mà được tạo ra nhờ tận dụng hiệu quả các mối liên kết tự nhiên giữa cây lúa, con cá, đất và nguồn nước.
Chiều muộn, khi chúng tôi rời cánh đồng, những guồng nước vẫn đều đặn quay trên mặt ruộng. Dưới lớp nước trong, cá tiếp tục sinh trưởng bên những khóm lúa đang vào vụ mới. Ít ai nghĩ rằng nơi đây từng là những diện tích sản xuất kém hiệu quả, nhiều lần đứng trước nguy cơ bị bỏ hoang.
Giữa những thách thức ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, mô hình lúa - cá ở Minh Cường không chỉ mang đến một sinh kế ổn định hơn cho người dân. Quan trọng hơn, nó cho thấy một hướng đi mà ở đó, phát triển kinh tế và bảo tồn tài nguyên không còn là hai lựa chọn đối lập. Khi đất được phục hồi, nguồn nước được gìn giữ và hệ sinh thái được vận hành theo quy luật tự nhiên, những cánh đồng ấy cũng đang từng ngày nuôi dưỡng sức chống chịu cho nông nghiệp trong tương lai.