Tầm nhìn Hồ Chí Minh về biển đảo và chiến lược phòng thủ đại dương

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Biển Đông không chỉ là thực thể địa lý bao la mà còn là không gian sinh tồn, là linh hồn và là mạch máu nối liền dân tộc với thế giới đại dương.

Với nhãn quan chính trị sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hệ thống những quan điểm chỉ đạo về xây dựng, bảo vệ và phát triển biển đảo một cách toàn diện. Đó là một hệ thống lý luận chiến lược toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa chủ quyền lãnh thổ, phát triển kinh tế bền vững và quốc phòng hiện đại. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, biển đảo không bao giờ là một thực thể tách rời, mà là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, là “mặt tiền” để dân tộc vươn mình ra biển lớn.

Lời dạy của Người cách đây hơn sáu thập kỷ: "Ngày trước ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó" không chỉ là một lời nhắc nhở lịch sử mà còn là bản tuyên ngôn về chủ quyền và khát vọng thịnh vượng. Trong bối cảnh hiện nay và những năm tiếp theo, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng của Người không chỉ giúp chúng ta khẳng định chân lý lịch sử mà còn là chìa khóa để giải quyết các thách thức địa chính trị phức tạp, xây dựng một Việt Nam hùng cường từ biển.

Đại dương là không gian sinh tồn

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ, do thấy được địa thế quan trọng của sông biển, Người chỉ đạo thành lập cơ quan Hải quân trong Quân đội nhân dân Việt Nam (với tên gọi lúc bấy giờ là Quân đội quốc gia Việt Nam). Xây dựng các lực lượng tác chiến để chủ động tiến công địch trên các chiến trường sông biển từ Hòn Gai đến Hà Tiên. Người giao nhiệm vụ cho một bộ phận dùng tàu gỗ chở vũ khí đến tận Bến Tre để phục vụ đoàn quân Nam tiến.

Sau hòa bình 1954, khi cả nước tiến hành thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khai thác, bảo vệ vùng biển, coi đó là nhiệm vụ rất quan trọng và chỉ đạo xây dựng lực lượng chuyên trách để bảo vệ vùng biển mới được giải phóng từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17. Ngày 07/5/1955, Người chỉ đạo thành lập Cục Phòng thủ bờ bể, tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày nay.

4179306841975699655-1772416745.jpg

Bác Hồ đi thăm Trường huấn luyện bộ đội Hải quân ở TP Hải Phòng 31-5-1959. (Ảnh tư liệu)

Ngày 10/4/1956, khi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển, Bác Hồ đã nói: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?... Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”. Đây là thời điểm miền Bắc vừa hòa bình, bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế sau kháng chiến chống Pháp. Trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, việc xác định vị thế của Biển Đông không chỉ dừng lại ở khai thác hải sản mà đã được nâng tầm thành chiến lược an ninh quốc gia.

Ngày 31/3/1959, khi về thăm làng cá Cát Bà, Người dạy: “Biển bạc của ta do dân ta làm chủ”. Tư tưởng của Người là phải làm chủ tiềm năng của biển, bảo vệ biển và khai thác các nguồn lợi từ biển để phục vụ cho sự phát triển đất nước và đời sống của nhân dân. Để tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là động lực thúc đẩy, là ý chí và hành động trong quá trình khai thác các nguồn lợi từ biển, ngày 04/01 hàng năm trở thành ngày truyền thống nghề cá của ngành Thủy sản Việt Nam.

Biển, đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệt trong xây dựng và phát triển đất nước. Bởi vậy, hơn ai hết, Bác Hồ không những hiểu tầm quan trọng của biển đảo mà Người còn có tầm nhìn và tư duy chiến lược về vấn đề khẳng định chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Người luôn động viên, cổ vũ lòng yêu nước, yêu quê hương của các chiến sĩ, nhân dân, tinh thần giữ gìn biển đảo như giữ cửa nhà mình. Người đã nhấn mạnh: “Biển đảo nước ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm cách đánh cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên”. Người dặn thêm: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã thực hiện một bước chuyển dịch tư duy mang tính thời đại: Chuyển từ tâm thế của một quốc gia dựa vào "đêm và rừng" trong kháng chiến sang một quốc gia làm chủ "ngày, trời và biển" trong hòa bình và phát triển. Sự khẳng định này mang hàm ý sâu xa rằng: Độc lập của một dân tộc chỉ trọn vẹn khi dân tộc đó làm chủ được toàn bộ không gian lãnh thổ, bao gồm cả vùng trời và vùng biển.

Người nhận thức rõ rằng, biển không chỉ là ranh giới tự nhiên mà còn là cửa ngõ chiến lược để Việt Nam hội nhập quốc tế. Tầm nhìn địa chính trị của Người đã vượt ra ngoài biên giới đất liền, nhìn thấy đại dương là nơi kết nối văn minh, là không gian chiến lược để tự lực tự cường. Trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới bước vào kỷ nguyên của kinh tế biển và những tranh chấp về quyền lợi trên biển trở nên gay gắt, tư duy làm chủ không gian biển của Người chính là nền tảng để chúng ta xác lập vị thế cường quốc biển trong tương lai.

Yêu biển đảo và nhận ra được tầm quan trọng của biển đảo nên Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ, người dân đang công tác và sinh sống tại các đảo ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Tại Sầm Sơn (Thanh Hóa) vào tháng 7 năm 1960, khi trực tiếp tham gia kéo lưới cùng ngư dân xóm chài, Người đã ân cần căn dặn: "Sầm Sơn có bãi biển đẹp, nhân dân cần cù, dũng cảm. Sầm Sơn phải phấn đấu trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng". Câu nói này không chỉ là lời khen ngợi mà còn là một định hướng phát triển du lịch biển mang tầm chiến lược.

3558168139902408577-1772416812.jpg

Bác Hồ kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn-Thanh Hóa tháng 7năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Trước đó, vào năm 1959, khi đến thăm làng cá Cát Bà (Hải Phòng), Người đã khẳng định giá trị bền vững của tài nguyên biển qua câu nói bất hủ: "Biển bạc ta có sẵn, nhưng phải biết đánh bắt cho tốt". Người còn căn dặn thêm: "Các cô, các chú phải đoàn kết, phải cải tiến kỹ thuật, đánh bắt được nhiều cá hơn nữa để cải thiện đời sống". Đặc biệt, trong lần thăm đảo Cô Tô (Quảng Ninh) năm 1961, Người đã dặn dò chiến sĩ và nhân dân nơi đây một câu nói chứa đựng cả tình yêu và trách nhiệm bảo vệ đất nước: "Thủ đô Hà Nội tuy xa đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn gần gũi chiến sĩ và đồng bào các đảo". Những lời trích dẫn cụ thể này minh chứng rằng, trong tâm khảm của Người, biển đảo không bao giờ xa cách, mà luôn hiện hữu trong mỗi quyết sách trị quốc.

Phát triển kinh tế biển bền vững gắn với xây dựng thế trận lòng dân

Khái niệm "Biển bạc" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự đúc kết tài tình về giá trị kinh tế đa tầng. Tuy nhiên, theo quan điểm của Người, biển chỉ thực sự là "bạc" khi nhân dân biết cách khai thác hiệu quả và bền vững. Tại các vùng biển như Sầm Sơn, Cát Bà, Người nhắc nhở về trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với tài nguyên của mai sau. Người đã sớm nhìn thấy tiềm năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khai thác thô sang các dịch vụ cao cấp như du lịch nghỉ dưỡng, vận tải biển và cảng biển.

Điểm đặc biệt trong tư tưởng kinh tế biển của Người là lấy nhân dân làm trung tâm. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa quan điểm của Người về phát triển kinh tế biển bền vững bằng chiến lược kinh tế biển xanh. Việc giữ gìn vẻ "tươi đẹp" của biển theo lời dạy của Bác chính là mệnh lệnh bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sinh kế bền vững, đảm bảo rằng sự phát triển kinh tế không làm tổn hại đến giá trị nguyên bản của đại dương.

Một trong những nội dung sâu sắc và mang tính dự báo nhất là nghệ thuật quốc phòng từ hướng biển. Người không chủ trương xây dựng sức mạnh dựa trên sự đối đầu hay chạy đua vũ trang, mà dựa trên "thế trận lòng dân" trên sóng. Mỗi con tàu cá của ngư dân, mỗi đảo tiền tiêu đều là một bộ phận hữu cơ của hệ thống phòng thủ dân sự rộng khắp. Việc thành lập lực lượng phòng thủ bờ biển ngay từ năm 1955 đã chứng minh tầm nhìn bảo vệ Tổ quốc từ hướng đại dương là một ưu tiên hàng đầu.

Chiến lược này tạo ra sức mạnh tổng hợp, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, kết hợp với mạng lưới ngư dân bám biển tạo thành một "Vạn lý trường thành" năng động trên đại dương. Đây là phương thức phòng thủ hiện đại, linh hoạt, đảm bảo an ninh quốc gia từ sớm, từ xa. Trong giai đoạn hiện nay, sự kết hợp giữa ý chí con người và công nghệ giám sát, vệ tinh đã tạo nên một tấm khiên vững chắc bảo vệ từng sải nước thiêng liêng của Tổ quốc. Mỗi ngư dân không chỉ là một lao động sản xuất mà còn là một "cột mốc sống" khẳng định chủ quyền hợp pháp.

Đặt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp hiện nay và những năm tiếp theo, tư tưởng Hồ Chí Minh càng tỏa sáng tính thực tiễn thông qua phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Cái "bất biến" chính là lợi ích quốc gia, dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ; cái "vạn biến" là sự linh hoạt, khéo léo trong ngoại giao và thực thi pháp luật biển. Việc Việt Nam thượng tôn luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng hòa bình và chính nghĩa của Người.

Bảo vệ biển đảo ngày nay không chỉ bằng sức mạnh vật chất mà còn bằng sự minh bạch của một nền kinh tế biển xanh và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Một vùng biển xanh, sạch không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn là nền tảng cốt yếu để duy trì sự hiện diện thường xuyên của nhân dân, từ đó củng cố chủ quyền quốc gia một cách bền vững nhất. Sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và quốc phòng chính là chìa khóa để Việt Nam giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để vươn mình ra biển lớn.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ, xây dựng và phát triển biển đảo

Trải qua nhiều thập kỷ, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về biển đảo vẫn còn nguyên giá trị thời đại và đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong từng giai đoạn phát triển. Đặc biệt, bước sang giai đoạn hiện nay, tinh thần ấy một lần nữa được khẳng định mạnh mẽ trong các văn kiện và phương hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV. Đại hội XIV đã đưa ra những định hướng mang tính đột phá, nhấn mạnh việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo phải gắn liền với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh trên biển.

1078551974218645960-1772416887.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến sĩ, cán bộ tàu hải quân T554 và đơn vị pháo bờ biển trên đảo Hòn Rồng 31-3-1959. (Ảnh tư liệu)

Đảng ta xác định, trong kỷ nguyên mới, Việt Nam phải thực sự trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và làm chủ từ biển. Điều này hoàn toàn nhất quán với 7 bài học cốt lõi được rút ra từ di sản của Người:

(1) Chủ quyền là tối thượng và bất khả xâm phạm. Trong kỷ nguyên mới, chủ quyền biển đảo được xác định là giá trị bất biến và là mục tiêu tối thượng của dân tộc. Đảng ta kiên định mục tiêu giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, không để bị động, bất ngờ trước các biến động địa chính trị phức tạp. Bài học này kế thừa tư duy "Dĩ bất biến" của Người, xác lập rằng dù tình hình thế giới thay đổi ra sao, chủ quyền vùng trời, vùng biển và các quần đảo thiêng liêng vẫn là hằng số không thể lay chuyển, là ranh giới đỏ trong mọi chính sách đối nội và đối ngoại.

(2) Nhân dân là nền tảng của thế trận bảo vệ biển đảo. Xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng "Lấy dân làm gốc" của Hồ Chủ tịch. Đảng xác định ngư dân không chỉ là lao động sản xuất mà là chủ thể trung tâm, là những "cột mốc sống" khẳng định chủ quyền trên thực địa. Việc chăm lo sinh kế, hỗ trợ ngư dân bám biển không chỉ giúp phát triển kinh tế mà còn tạo ra mạng lưới an ninh nhân dân rộng khắp. Khi mỗi con tàu là một pháo đài và mỗi ngư dân là một chiến sĩ, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc sẽ trở nên vô hạn.

(3) Kinh tế biển xanh là động lực phát triển tiềm lực quốc phòng. Theo định hướng của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế biển bền vững là phương thức tạo ra nguồn lực vật chất vững chắc cho quốc phòng. Một quốc gia biển mạnh phải có nền kinh tế giàu mạnh để đầu tư trang thiết bị, khí tài hiện đại cho các lực lượng thực thi pháp luật. Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh giúp bảo tồn nguồn lợi đại dương cho thế hệ mai sau, đồng thời tạo thế và lực để Việt Nam tự chủ về ngân sách quốc phòng, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa "làm giàu từ biển" và "giữ vững từ biển".

(4) Phòng thủ chủ động, đa lớp và tinh nhuệ. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, trong đó, hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển theo hướng tinh nhuệ nhằm đáp ứng yêu cầu phòng thủ đại dương hiện đại. Đây là sự kế thừa tư duy phòng thủ từ sớm, từ xa của Người. Thế trận phòng thủ đa lớp là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lực lượng chính quy hiện đại và lực lượng dân quân tự vệ biển rộng khắp. Cách tiếp cận này giúp ngăn chặn các nguy cơ xâm phạm ngay từ vòng ngoài, bảo đảm an ninh quốc gia trên hướng biển luôn được duy trì trong trạng thái chủ động và sẵn sàng chiến đấu cao.

(5) Luật pháp quốc tế là vũ khí chính nghĩa sắc bén. Sử dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) làm công cụ pháp lý chủ đạo là sự vận dụng tư tưởng yêu hòa bình và chính nghĩa của Hồ Chí Minh. Đảng ta kiên trì giải quyết mọi tranh chấp thông qua đàm phán và các biện pháp hòa bình. Vũ khí luật pháp giúp Việt Nam khẳng định quyền chủ quyền và lợi ích hợp pháp trên trường quốc tế, đồng thời tranh thủ sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng toàn cầu. Chính nghĩa từ luật pháp giúp quốc gia có được sức mạnh mềm vô song, tạo lợi thế trong đấu tranh ngoại giao.

(6) Khoa học công nghệ là chìa khóa quản trị đại dương. Trong kỷ nguyên số, việc làm chủ biển đảo gắn liền với làm chủ công nghệ cao. Đảng chủ trương ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và giám sát vệ tinh vào công tác quản lý tài nguyên và giám sát chủ quyền. Đây là bước đột phá nhằm hiện đại hóa năng lực quản trị quốc gia hướng biển, giúp phát hiện sớm các hành vi xâm phạm và tối ưu hóa việc khai thác tài nguyên. Công nghệ không chỉ giúp khắc phục những hạn chế về khoảng cách địa lý mà còn đưa việc bảo vệ biển đảo lên tầm cao mới của trí tuệ và sự minh bạch.

(7) Hợp tác quốc tế để kiến tạo môi trường hòa bình. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là bài học sâu sắc nhằm kiến tạo một vùng biển ổn định và phát triển. Việt Nam mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, cứu hộ cứu nạn và an ninh hàng hải nhằm đan xen lợi ích với các đối tác toàn cầu. Sự vận dụng này giúp chúng ta không bị cô lập, đồng thời biến vùng Biển Đông thành không gian hợp tác thay vì đối đầu. Hợp tác quốc tế chính là phương thức hữu hiệu để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong một thế giới đa cực và hội nhập sâu rộng.

Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại hội XIV chính là lời khẳng định đanh thép: Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, đồng thời luôn rộng mở cánh cửa hợp tác, hòa bình vì sự phát triển bền vững của dân tộc và khu vực. Di sản của Người sẽ tiếp tục là ngọn đuốc soi đường để con tàu Việt Nam rẽ sóng vươn xa, làm chủ hoàn toàn không gian biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.