Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn ở Đồng bằng sông Hồng: Giải bài toán mâu thuẫn với thu nhập nông dân

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Kính thưa Hội thảo,

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu vừa cấp bách vừa khó khăn: phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời duy trì đời sống ngày càng tốt hơn cho hàng triệu nông hộ. Một con số minh họa rõ thách thức này: bình quân mỗi năm, nông dân trong vùng sử dụng hàng vạn tấn urê nhưng lượng kali sử dụng chỉ bằng một phần rất nhỏ tương ứng - tỷ lệ đạm, lân, kali thực tế lệch xa khuyến cáo kỹ thuật cho cây lúa. Hệ quả là ruộng dễ nhiễm sâu bệnh, phải phun thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn, đạm dư thừa thoát ra nguồn nước và không khí dưới dạng nitrat và N2O, còn ruộng lúa ngập nước liên tục lại là nguồn phát thải khí mê-tan lớn nhất của ngành trồng trọt. Nói cách khác, phần lớn các vấn đề môi trường mà chúng ta đang bàn - ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, phát thải khí nhà kính - có chung một gốc rễ: cách sử dụng vật tư đầu vào chưa hợp lý.

Nông nghiệp xanh, chuyển đổi số, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp tuần hoàn, nói ngắn gọn, là bốn cách tiếp cận để giải quyết gốc rễ đó: xanh là sử dụng đầu vào hiệu quả hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm; số là công cụ để biết đúng lúc, đúng chỗ cần can thiệp; tuần hoàn là biến phụ phẩm, chất thải thành tài nguyên; sinh thái là gắn sản xuất với bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan. Nhưng câu hỏi mà tôi muốn đặt ra hôm nay không phải “có nên làm hay không” - điều đó đã rõ - mà là: làm thế nào để bốn định hướng này không trở thành gánh nặng chi phí đổ lên vai người nông dân, mà thực sự giúp họ sống trong môi trường tốt hơn và có thu nhập cao hơn?

II. VÌ SAO ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG PHẢI CHUYỂN ĐỔI NGAY, NHANH, MẠNH?

Ba áp lực đang buộc chúng ta phải hành động, không thể chần chừ.

Thứ nhất là áp lực sinh thái - khí hậu. Đất đai màu mỡ của vùng đang chịu suy thoái do tồn dư hóa chất; nguồn nước tưới bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, đô thị hóa và cả chính hoạt động nông nghiệp. Đáng chú ý, kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ (AWD) và hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đã được chứng minh có thể giảm đáng kể lượng khí mê-tan phát thải từ ruộng lúa, đồng thời tiết kiệm nước tưới - đây là giải pháp không mới, chi phí không cao, nhưng đến nay vẫn chưa được áp dụng rộng rãi ở Đồng bằng sông Hồng, nơi có điều kiện thủy lợi chủ động thuận lợi hơn hẳn nhiều vùng khác trong cả nước.

Thứ hai là áp lực thị trường. Các quy định như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Quy định chống phá rừng (EUDR) của Liên minh châu Âu, cùng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe từ các nhà nhập khẩu, đang biến “xanh” từ một lựa chọn đạo đức thành điều kiện bắt buộc để vào thị trường. Kinh nghiệm từ Bỉ - quốc gia xuất khẩu khoai tây chế biến lớn nhất thế giới - cho thấy hướng đi khả thi: nhờ nền tảng số WatchITgrow, tích hợp dữ liệu vệ tinh, thời tiết, thổ nhưỡng và cảm biến để đưa cảnh báo, khuyến nghị đúng thời điểm, năng suất khoai tây bình quân đã tăng từ 44 lên 60 tấn/ha; nước này hiện sản xuất khoảng 5 triệu tấn khoai tây nhưng chế biến tới 6,2 triệu tấn - phần chênh lệch bù bằng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước lân cận - và xuất khẩu sản phẩm chế biến đạt hơn 3 tỷ euro năm 2024, tăng gấp ba trong một thập kỷ. Như vậy từ kinh nghiệm của nông dân Bỉ cho ta thấy: chuyển đổi số không chỉ giảm chi phí đầu vào (tiết kiệm phân NPK, thuốc sâu bệnh, nước..) mà còn tăng năng suất cây trồng và tăng chất lượng nông sản để có thể đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

Thứ ba là áp lực, và cũng là cơ hội, từ thay đổi địa giới hành chính. Việc hợp nhất Hải Phòng và Hải Dương thành một thành phố Hải Phòng mới, Nam Định với Hà Nam và Ninh Bình thành một tỉnh mới Ninh Bình với không gian phát triển rộng lớn hơn. Tương tự nhiều tỉnh khác cũng mở rộng và đồng nghĩa với việc tăng cơ hội phát triển…  xu hướng mới đưa các vùng sản xuất nông nghiệp trù phú vào chung một số chính quyền cấp tỉnh có không gian sản xuất tiêu thụ lớn +  với cụm cảng biển lớn nhất miền Bắc. Đây là điều kiện hiếm có để khép kín trục sản xuất - chế biến - logistics - xuất khẩu ngay trong nội bộ một địa phương, thay vì phải qua nhiều khâu trung gian như trước.

III. MÂU THUẪN CỐT LÕI: VÌ SAO “XANH” TỪNG LÀM NÔNG DÂN NGHÈO HƠN

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở kêu gọi, chúng ta sẽ lặp lại một sai lầm đã từng xảy ra: coi bốn định hướng trên là nghĩa vụ đạo đức mà nông dân phải tự gánh chịu. Trên thực tế, không phải “xanh” tự nó làm giảm thu nhập, mà là cách phân bổ chi phí và lợi ích hiện nay đang đặt gánh nặng lên đúng người ít có khả năng chịu đựng nhất. Có bốn nguyên nhân cụ thể.

Một là, chi phí thuộc về tư nhân nhưng lợi ích lại thuộc về công cộng. Khi một hộ nông dân áp dụng AWD để giảm phát thải khí nhà kính, lợi ích khí hậu là của toàn xã hội, toàn cầu, nhưng chi phí đầu tư, thay đổi tập quán canh tác và rủi ro của vụ đầu tiên lại chỉ riêng hộ đó gánh chịu.

Hai là, giá bán chưa phản ánh đúng chất lượng. Phần lớn nông sản canh tác giảm phát thải, đạt chuẩn sinh thái vẫn bán qua thương lái với giá ngang bằng sản phẩm thông thường, vì thiếu chứng nhận, thiếu kênh phân phối riêng. Phần chênh lệch giá trị bị hấp thụ ở khâu trung gian, không đến được tay người sản xuất.

Ba là, qui mô kinh tế lớn đi ngược chiều với thửa ruộng nhỏ. Chi phí chứng nhận, thiết bị số đều có phần cố định cao; với những thửa ruộng vài sào phổ biến ở Đồng bằng sông Hồng, chi phí cố định đó chia trên sản lượng nhỏ khiến chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng vọt.

Bốn là, rủi ro chuyển đổi dồn hết vào giai đoạn đầu. Giảm phân bón, đổi kỹ thuật tưới đều có “thung lũng năng suất” trong một đến hai vụ đầu, trước khi đất và hệ sinh thái ruộng ổn định trở lại. Những hộ không có đệm tài chính tốt sẽ là hợp lý khi từ chối áp dụng, chứ không phải vì bảo thủ hay thiếu hiểu biết.

Nếu không tháo được bốn nút thắt này, mọi lời kêu gọi làm nông nghiệp xanh, tuần hoàn sẽ chỉ là gánh nặng đặt thêm lên vai người nông dân - và khi đó, chính sách dù đúng đắn về mặt kỹ thuật cũng sẽ khó đi vào thực tiễn.

IV. BỐN CƠ CHẾ ĐỂ “XANH, SỐ, SINH THÁI, TUẦN HOÀN” TRỞ THÀNH NGUỒN THU NHẬP

Xuất phát từ cách chẩn đoán trên, tôi cho rằng bốn định hướng - xanh, số, sinh thái, tuần hoàn - chỉ mâu thuẫn với thu nhập nông dân khi được triển khai như bốn khoản chi phí bắt buộc. Chúng hoàn toàn có thể trở thành bốn nguồn thu nhập mới, nếu thiết kế đúng cơ chế.

Nông nghiệp tuần hoàn tạo thu nhập từ phụ phẩm, không chỉ tiết kiệm chi phí. Rơm rạ hiện phần lớn bị đốt hoặc vùi ngập, vừa lãng phí tài nguyên vừa phát thải khí nhà kính. Chuỗi giá trị rơm - trồng nấm - giá thể sau nấm - phân hữu cơ biến một thứ bỏ đi thành ba nguồn thu; tương tự, chất thải chăn nuôi qua hầm biogas vừa giảm chi phí chất đốt, vừa cho ra phân bón. Điều kiện tiên quyết là tổ chức ở cấp thôn, xã hoặc hợp tác xã, vì một hộ đơn lẻ không đủ khối lượng nguyên liệu để vận hành hiệu quả.

Nông nghiệp xanh cần cơ chế để giá trị môi trường được trả bằng tiền, không chỉ dừng ở tiết kiệm đầu vào. Áp dụng AWD kết hợp bón phân cân đối giúp giảm chi phí vật tư, nhưng khoản tiết kiệm đó thường nhỏ hơn nhiều so với nguồn thu tiềm năng từ hai kênh: thị trường tín chỉ carbon - Đồng bằng sông Cửu Long đã có mô hình thí điểm, Đồng bằng sông Hồng hoàn toàn có thể học hỏi và triển khai nhanh hơn nhờ hệ thống thủy lợi chủ động hơn; và hợp đồng bao tiêu có điều khoản giá cộng thêm cho sản phẩm đạt chuẩn phát thải thấp, do chính các doanh nghiệp xuất khẩu chi trả để đáp ứng yêu cầu CBAM và tiêu chuẩn ESG từ đối tác nhập khẩu.

Chuyển đổi số chỉ bền vững khi bên hưởng lợi chính trả chi phí, không dồn hết cho nông dân. Kinh nghiệm của Bỉ với nền tảng WatchITgrow là một minh chứng rõ ràng: nông dân thu thập và nộp dữ liệu đồng ruộng được chính nhà thu mua - doanh nghiệp chế biến - trả thưởng 250 đến 750 euro cho mỗi hecta có dữ liệu đầy đủ trong một vụ, vì chính họ hưởng lợi từ khả năng dự báo sản lượng và kiểm soát chất lượng nguồn cung. Đây là gợi ý trực tiếp cho Đồng bằng sông Hồng: các doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến nông sản hoàn toàn có thể đồng tài trợ công cụ số cho vùng nguyên liệu của mình, thay vì để nông dân tự bỏ tiền mua phần mềm mà lợi ích chủ yếu lại rơi vào tay doanh nghiệp.

Nông nghiệp sinh thái tạo thu nhập từ du lịch trải nghiệm, đặc biệt phù hợp với địa phương đăng cai hội thảo hôm nay. Ninh Bình đã có thương hiệu di sản với quần thể danh thắng Tràng An. Những cánh đồng canh tác sinh thái nằm cạnh khu di sản hoàn toàn có thể bán sản phẩm với giá cao hơn nhờ gắn thương hiệu địa danh, kết hợp mô hình homestay, trải nghiệm gặt lúa, ẩm thực tại chỗ - khi đó, “sinh thái” trực tiếp sinh ra thu nhập từ du khách, không chỉ từ giá bán nông sản. Đây là mô hình nhiều vùng có di sản trên thế giới đã áp dụng thành công, và Đồng bằng sông Hồng, với mật độ di sản văn hóa - lịch sử dày đặc, có dư địa rất lớn để nhân rộng.

Bốn cơ chế này không độc lập mà bổ sung cho nhau: tuần hoàn tạo nguồn thu tại chỗ, xanh và số thu hút dòng tiền từ thị trường bên ngoài, còn sinh thái mở thêm kênh thu nhập từ du lịch - cùng hướng tới một mục tiêu chung là bảo đảm nông dân được hưởng lợi tương xứng với đóng góp môi trường của mình.

V. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC KHI THỊ TRƯỜNG CHƯA ĐỦ MẠNH

Dù vậy, thị trường không phải lúc nào cũng đủ mạnh để bù đắp ngay cho nông dân, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi ban đầu, khi rủi ro “thung lũng năng suất” là cao nhất. Đây là lúc cần vai trò trực tiếp của nhà nước.

Nhật Bản đã áp dụng cơ chế Trợ cấp chi trả trực tiếp cho nông nghiệp bảo tồn môi trường từ năm 2015: nông dân hoặc tổ chức nông dân giảm ít nhất 50% phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học, kết hợp các hoạt động có hiệu quả cao trong ứng phó biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học, sẽ được hỗ trợ trực tiếp theo diện tích canh tác - ví dụ, canh tác hữu cơ được hỗ trợ 8.000 yên, bón phân hữu cơ compost 4.400 yên, trồng cây che phủ đất 8.000 yên, tính trên mỗi 10a, tương đương khoảng một sào Bắc Bộ. Nguyên lý ở đây rất rõ ràng: nhà nước không yêu cầu nông dân hy sinh thu nhập vì lợi ích môi trường chung, mà trực tiếp mua lại lợi ích môi trường đó bằng ngân sách công, vì đó là hàng hóa công mà toàn xã hội được hưởng.

Việt Nam chưa có nguồn lực ngân sách lớn như Nhật Bản, nhưng hoàn toàn có thể áp dụng cùng nguyên lý với dòng tiền nhỏ hơn, tập trung vào giai đoạn chuyển đổi hai đến ba năm đầu - đúng lúc rủi ro cao nhất và thị trường, như đã trình bày ở phần trên, chưa kịp bù đắp. Sau giai đoạn hỗ trợ ban đầu này, các cơ chế thị trường - tín chỉ carbon, hợp đồng bao tiêu xanh, tài trợ số hóa từ doanh nghiệp, du lịch sinh thái - sẽ tiếp tục gánh vác, giảm dần gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Kinh nghiệm của Sri Lanka là một bài học đáng suy ngẫm. Tháng 4/2021, nước này đột ngột cấm toàn bộ phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp để chuyển sang nền nông nghiệp hữu cơ 100%. Chỉ sau vài tháng, sản lượng lúa ước giảm khoảng 20%, sản lượng chè xuất khẩu suy giảm, giá gạo tăng cao, và đến cuối năm 2021 chính phủ phải nới lỏng rồi gỡ bỏ phần lớn lệnh cấm. Dù chính sách này còn chịu tác động của khủng hoảng ngoại hối và nợ công, thực tiễn cho thấy mục tiêu xanh hóa nông nghiệp là đúng đắn nhưng không thể thực hiện bằng biện pháp hành chính tức thời. Chuyển đổi cần có lộ trình, dựa trên bằng chứng khoa học, chú trọng quản lý dinh dưỡng tổng hợp, chuẩn bị nguồn đầu vào và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực trong suốt quá trình. Với Đồng bằng sông Hồng, vùng thâm canh cao, đất canh tác hẹp và sinh kế của hàng triệu nông hộ gắn chặt với từng vụ mùa, bài học ấy càng có ý nghĩa: chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi nông dân giảm được chi phí, giữ được năng suất và tăng được thu nhập ngay trên thửa ruộng của mình.

VI. NGUỒN NHÂN LỰC THỰC HIỆN: HAI TẦNG, KHÔNG THAY NGƯỜI MÀ PHÂN VAI

Một câu hỏi thường bị bỏ qua nhưng có ý nghĩa quyết định: ai sẽ là người thực hiện những chuyển đổi này? Thực tế nhiều vùng Đồng bằng sông Hồng, đặc biệt những nơi gần khu công nghiệp, đang chứng kiến lao động trẻ, nhất là nam giới, rời đồng ruộng để làm công nhân, để lại canh tác chủ yếu cho phụ nữ trung niên và người lớn tuổi. Một chính sách nhân lực chỉ nhắm vào “lớp trẻ có trình độ cao” sẽ bỏ sót chính lực lượng đang trực tiếp sản xuất hôm nay.

Tôi đề xuất phân nguồn nhân lực thành hai tầng, tương ứng hai vai trò khác nhau. Tầng thứ nhất là người trực tiếp canh tác - phần lớn là phụ nữ, người trung niên và người lớn tuổi - cần được đào tạo ngắn hạn, tại chỗ, về kỹ thuật ứng dụng cụ thể: quy trình tưới ngập - khô xen kẽ, bón phân cân đối theo bảng so màu lá, sử dụng điện thoại thông minh để nhận cảnh báo sâu bệnh qua nhóm liên lạc của hợp tác xã. Đây không phải yêu cầu về trình độ cao, mà là bổ sung kỹ thuật mới cho kinh nghiệm đồng ruộng đã có sẵn hàng chục năm.

Tầng thứ hai là nhân lực trẻ, có đào tạo bài bản hơn, đảm nhiệm vai trò vận hành hệ thống ở cấp hợp tác xã hoặc tổ dịch vụ: quản lý nền tảng dữ liệu, vận hành thiết bị bay không người lái, đàm phán hợp đồng bao tiêu. Số này không cần nhiều - một nhóm nhỏ có thể phục vụ hàng trăm hộ nếu tổ chức theo mô hình dịch vụ dùng chung. Chuyển đổi, vì vậy, không đòi hỏi thay người, mà đòi hỏi phân vai đúng.

VII. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Từ những phân tích trên, tôi xin đề xuất ba nhóm giải pháp cụ thể với các cấp có thẩm quyền:

Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường cho giai đoạn chuyển đổi ban đầu, tham khảo nguyên lý của Nhật Bản nhưng với quy mô và mức chi trả phù hợp nguồn lực Việt Nam, ưu tiên các mô hình tưới ngập - khô xen kẽ, giảm đạm cân đối tại các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2026-2030.

Thứ hai, khuyến khích và tạo cơ chế ưu đãi để các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản đồng tài trợ công cụ chuyển đổi số cho vùng nguyên liệu của mình, theo nguyên tắc bên hưởng lợi từ dữ liệu cùng chia sẻ chi phí, tham khảo mô hình đã áp dụng thành công tại Bỉ.

Thứ ba, xây dựng thí điểm mô hình nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch di sản, bắt đầu từ Ninh Bình - nơi có sẵn thương hiệu và lượng khách du lịch, làm cơ sở nhân rộng ra các địa phương khác trong vùng có tiềm năng tương tự.

Ba kiến nghị này đều có chủ thể thực hiện, mốc thời gian gần và có thể đánh giá được kết quả, thay vì dừng lại ở những định hướng chung chung.

VIII. KẾT LUẬN

Kính thưa Hội thảo, nông nghiệp xanh, chuyển đổi số, nông nghiệp sinh thái và tuần hoàn không hề mâu thuẫn với thu nhập của người nông dân. Mâu thuẫn chỉ nảy sinh khi chúng ta thiết kế sai cơ chế phân bổ chi phí và lợi ích - để một mình người nông dân gánh chịu cái giá của quá trình chuyển đổi, trong khi lợi ích lại lan tỏa cho toàn xã hội. Nhiệm vụ của chúng ta, những nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp có mặt hôm nay, là cùng nhau thiết kế lại cơ chế đó - để môi trường tốt hơn và thu nhập cao hơn không phải hai mục tiêu đánh đổi, mà là hai kết quả của cùng một con đường phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn Hội thảo.