Tóm tắt: Bài viết phân tích các điều kiện và rào cản của quá trình chuyển đổi từ phương thức phát triển truyền thống sang phương thức phát triển theo hướng xanh ở các điểm đến du lịch nông nghiệp Việt Nam. Dựa trên khung phân tích năm nhóm điều kiện (thể chế – chính sách; quản trị điểm đến; nguồn lực – hạ tầng; liên kết chuỗi giá trị; năng lực cộng đồng và bảo vệ môi trường) tác động lên quá trình đổi mới sản phẩm, tổ chức kinh doanh và quản lý tài nguyên của điểm đến, cùng với văn bản chính sách hiện hành, cơ sở dữ liệu điểm đến của đề tài và báo cáo thực địa tại địa phương, kết quả cho thấy chuyển đổi xanh đang diễn ra ở những khâu mà hộ và hợp tác xã tự quyết định được – phương thức canh tác và tổ chức trải nghiệm – nhưng bị vướng mắc ở những khâu đòi hỏi hành động tập thể là quản lý môi trường và phân phối lợi ích. Kết quả phân tích cho thấy, bên cạnh khó khăn về vốn và công nghệ, ba hạn chế về thể chế và quản trị có vai trò quan trọng: khung pháp lý đất đai và công nhận điểm đến chưa gắn với điều kiện vận hành; phần lớn điểm đến chưa có chủ thể quản trị chịu trách nhiệm về tài nguyên dùng chung; và liên kết chuỗi vẫn phi chính thức nên không có cơ sở để chia sẻ lợi ích. Bài viết đề xuất phân loại chính sách hỗ trợ theo ba nhóm điểm đến – truyền thống cần nâng cấp, đã có thực hành xanh cần mở rộng, chịu áp lực môi trường cao – thay vì một gói giải pháp chung, cùng bốn nhóm giải pháp về thể chế, quản trị, liên kết chuỗi và quản lý môi trường.
Promoting green transition of agritourism destinations in Vietnam: conditions, barriers and policy solutions
Abstract: This paper examines the conditions for, and barriers to, the shift from conventional to green-oriented development at agritourism destinations in Vietnam. Drawing on a five-condition analytical framework (institutions and policy; destination governance; resources and infrastructure; value-chain linkages; community capacity and environmental protection) that shapes the destination’s innovation in products, business organisation and resource management, together with current policy documents, the project’s destination database and field evidence from seven provinces, it finds that green transition is taking place where households and cooperatives can decide on their own – farming practice and experience design – but stalls where collective action is required, namely environmental management and benefit sharing. Case analysis shows that, alongside constraints on capital and technology, three institutional and governance limitations stand out: a land and destination-recognition framework not tied to operating conditions; the absence, at most destinations, of a managing entity responsible for shared resources; and informal value-chain linkages that leave benefit sharing without a basis. The paper proposes differentiating support across three groups of destinations – conventional ones needing upgrading, those with green practice needing scaling, and those under high environmental pressure – instead of a uniform package, together with four groups of solutions on institutions, governance, value-chain linkages and environmental management.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và tái cơ cấu kinh tế nông thôn, du lịch nông nghiệp được nhìn nhận như một cấu phần đang hình thành của kinh tế nông thôn đa giá trị, nơi mục tiêu phát triển du lịch, phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường gặp nhau. Chính sách đã đi theo hướng đó: Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030 đặt du lịch làm một trục của kinh tế nông thôn đa giá trị (Quyết định số 150/QĐ-TTg); Quyết định số 922/QĐ-TTg lần đầu đưa du lịch nông thôn thành một chương trình quốc gia gắn với sản phẩm OCOP và sự tham gia của cộng đồng (Thủ tướng Chính phủ, 2022); Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định số 1658/QĐ-TTg) cung cấp khung quy chiếu cho thuật ngữ “xanh”. Trên cơ sở đó, hệ thống điểm đến đã gia tăng nhanh chóng về số lượng: theo tổng kết giai đoạn 2021–2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), cả nước có hơn 600 mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn đang hoạt động, tăng gần 1,6 lần so với năm 2021, và gần 400 điểm du lịch nông thôn đã được công nhận.
Tuy nhiên, phần lớn các điểm đến du lịch nông nghiệp vẫn vận hành theo cách truyền thống: khai thác trực tiếp những gì sẵn có, sản phẩm dừng ở hoạt động tham quan theo mùa vụ, khách đến rồi đi trong ngày và giá trị giữ lại tại địa phương không đáng kể. Một bộ phận điểm đến du lịch nông nghiệp đã chuyển sang canh tác hữu cơ hoặc VietGAP, thiết kế trải nghiệm có nội dung giáo dục, giảm rác thải nhựa và để cộng đồng giữ vai trò chủ thể, nhưng quá trình ấy diễn ra tự phát, phân tán và rất không đồng đều giữa các vùng. Câu hỏi đặt ra là vì sao chuyển đổi xanh ở cấp điểm đến diễn ra chậm, dù định hướng chính sách đã rõ và thị trường đã có cầu. Quan sát ban đầu của nghiên cứu cho thấy, bên cạnh vốn đầu tư và công nghệ trở ngại đáng chú ý hơn nằm ở thể chế đất đai, tổ chức quản trị điểm đến, liên kết giữa sản xuất nông nghiệp với dịch vụ du lịch và khả năng phân phối lợi ích trong cộng đồng.
Trong phạm vi bài viết, du lịch nông nghiệp được hiểu là hoạt động du lịch gắn trực tiếp với sản xuất, cảnh quan và sinh kế nông nghiệp, hẹp hơn khái niệm “du lịch nông thôn” mà văn bản chính sách đang dùng; chuyển đổi xanh được hiểu là sự thay đổi phương thức phát triển của điểm đến chứ không phải một danh hiệu. Tổng quan các nghiên cứu trong nước cho thấy các công trình đến nay chủ yếu đo lường sức hấp dẫn của điểm đến qua cảm nhận du khách, mô tả sự tham gia của hộ hoặc tổng hợp kinh nghiệm quốc tế, mà chưa đặt câu hỏi về các điều kiện và rào cản làm thay đổi phương thức phát triển của điểm đến theo hướng xanh. Bài viết tập trung vào ba câu hỏi: các điểm đến truyền thống và các điểm đến đã chuyển đổi theo hướng xanh khác nhau như thế nào về phương thức phát triển; điều kiện chuyển đổi xanh khác nhau ra sao giữa các vùng và các nhóm điểm đến; và những rào cản nào đang kìm hãm chuyển đổi, cùng với cách thiết kế chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm điểm đến cho giai đoạn 2026–2030. Bài viết đưa ra khung phân tích điều kiện – quá trình – kết quả của chuyển đổi xanh ở cấp điểm đến, nhận diện năm nhóm rào cản trên cơ sở đối chiếu các mô hình ở các vùng địa phương khác nhau, và đề xuất phân loại chính sách hỗ trợ theo nhóm điểm đến thay vì một gói giải pháp chung.
2. Cơ sở lý thuyết, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu
Theo Phillip, Hunter và Blackstock (2010), du lịch nông nghiệp được xác định bởi ba đặc điểm: có sản xuất nông nghiệp thực tế, có tương tác giữa du khách với hoạt động nông nghiệp, và trải nghiệm có tính xác thực. Đặc điểm này phân biệt du lịch nông nghiệp với du lịch nông thôn nói chung –chỉ đòi hỏi hoạt động diễn ra ở địa bàn nông thôn – và với du lịch cộng đồng. Barbieri (2013) lưu ý du lịch xanh không phải một loại hình sản phẩm mà là một định hướng quản lý môi trường áp dụng cho mọi loại hình, nên phải được đánh giá bằng hành vi vận hành chứ không bằng ngôn từ quảng bá.
Bảng 1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước
|
Nghiên cứu |
Đối tượng, địa bàn, phương pháp |
Kết quả chính |
Khoảng trống nghiên cứu |
|
Ngô Thị Phương Lan (2021) |
Chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long; khảo sát cộng đồng và du khách |
Sự sẵn sàng tham gia của hộ; cấu trúc chuỗi giá trị |
Vì sao sự sẵn sàng tham gia chưa chuyển thành thay đổi phương thức phát triển |
|
Nguyen và cs. (2022) |
Du lịch cộng đồng Thái Nguyên; định tính |
Rào cản nội tại đối với trao quyền cộng đồng |
Chưa gắn với thể chế đất đai và liên kết chuỗi |
|
Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân (2024) |
Phong Điền (Cần Thơ); khảo sát du khách, phân tích nhân tố |
Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch nông nghiệp |
Cảm nhận của khách không phản ánh điều kiện vận hành; không xét quản trị, liên kết |
|
Nguyễn Thị Dung (2024) |
Lâm Đồng; khảo sát du khách, phân tích nhân tố |
Nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn điểm đến |
Như trên |
|
Lane và Kastenholz (2015) |
Tổng quan nghiên cứu du lịch nông thôn quốc tế |
Du lịch nông thôn thế hệ mới cần được quản lý ở cấp điểm đến |
Chưa xét điều kiện thể chế của một nước đang phát triển |
|
Zapata và cs. (2011) |
34 dự án du lịch cộng đồng tại Nicaragua |
Mô hình từ sáng kiến bản địa bền hơn dự án áp đặt từ bên ngoài |
Không phải du lịch nông nghiệp; chưa xét quản trị tài nguyên dùng chung |
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
Tổng quan nghiên cứu cho thấy chưa có nghiên cứu nào liên kết giữa điều kiện thể chế, quản trị tập thể và liên kết chuỗi với quá trình thay đổi phương thức phát triển ở cấp điểm đến. Từ góc nhìn đó, chuyển đổi xanh của một điểm đến du lịch nông nghiệp là sự thay đổi phương thức phát triển trên bốn phương diện: Thứ nhất, phương thức canh tác: từ canh tác thông thường sang giảm hóa chất, hữu cơ, sinh thái, thuận tự nhiên hoặc tuần hoàn, với sản xuất vẫn giữ vai trò chủ đạo chứ không bị du lịch hóa; Thứ hai, tổ chức sản phẩm và dịch vụ: từ “xem – chụp – nếm” theo mùa vụ sang trải nghiệm tham gia sản xuất, giáo dục môi trường, chuỗi từ trang trại đến bàn ăn, có lưu trú và hoạt động ngoài vụ; Thứ ba, quản lý tài nguyên và môi trường: từ không có cơ chế sang có quy ước, quy trình và trách nhiệm cụ thể về rác, nước, năng lượng và sức chứa; Thứ tư, liên kết và phân phối lợi ích: từ quan hệ phi chính thức, lợi ích tập trung vào một vài chủ thể sang liên kết có hợp đồng, cộng đồng là chủ thể và có cơ chế chia sẻ lợi ích. Chữ “theo hướng” hàm ý một lộ trình: điểm đến có thể đã chuyển đổi ở phương diện này mà chưa chuyển đổi ở phương diện khác.
Bảng 2. Bốn phương diện chuyển đổi xanh của điểm đến du lịch nông nghiệp
|
Phương diện |
Phương thức phát triển truyền thống |
Phương thức phát triển theo hướng xanh |
|
Phương thức canh tác |
Canh tác thông thường; sản xuất là phông nền cho tham quan |
Giảm hóa chất, hữu cơ, sinh thái, tuần hoàn; sản xuất vẫn chủ đạo và là nội dung của trải nghiệm |
|
Tổ chức sản phẩm, dịch vụ |
Tham quan, chụp ảnh, nếm thử theo mùa vụ; khách đi về trong ngày |
Tham gia sản xuất, giáo dục môi trường, farm-to-table; có hoạt động ngoài vụ và lưu trú |
|
Quản lý tài nguyên, môi trường |
Không có cơ chế quản lý rác, nước thải, sức chứa |
Có quy ước, quy trình, trách nhiệm về rác, nước, năng lượng, sức chứa |
|
Liên kết, phân phối lợi ích |
Quan hệ phi chính thức; người dân cung cấp lao động, nguyên liệu |
Liên kết có hợp đồng; cộng đồng là chủ thể; có cơ chế chia sẻ lợi ích |
Nguồn: Tác giả xây dựng từ Phillip và cộng sự (2010), Barbieri (2013) và quan sát thực tế.
Nghiên cứu về du lịch nông thôn cho thấy chuyển đổi ở bốn phương diện ấy không thể là phép cộng nỗ lực của từng hộ. Lane và Kastenholz (2015) khẳng định du lịch nông thôn thế hệ mới phải được quản lý ở cấp điểm đến, vì cảnh quan, nguồn nước, rác thải và dòng khách là tài nguyên dùng chung mà cơ sở riêng lẻ không quản lý được; Zapata và cộng sự (2011) chứng minh qua 34 dự án tại Nicaragua rằng mô hình xuất phát từ sáng kiến bản địa bền hơn hẳn dự án do bên ngoài áp đặt và thường suy giảm khi hỗ trợ kết thúc nếu không có năng lực tổ chức tại chỗ; Boley và McGehee (2014) lưu ý sự tham gia của cộng đồng phải được đo bằng quyền sở hữu, tiếng nói và quyền quyết định chứ không bằng số lượng người tham gia.
Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng khung phân tích trong đó quá trình chuyển đổi xanh của điểm đến được đặt trong bối cảnh chung về thị trường, tài nguyên và định hướng chính sách, và chịu tác động của năm nhóm điều kiện: (1) thể chế và chính sách – pháp luật đất đai, quy hoạch, điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn dịch vụ và cơ chế công nhận có cho phép và khuyến khích mô hình kết hợp sản xuất với du lịch hay không; (2) năng lực quản trị điểm đến – có hay không một chủ thể chịu trách nhiệm về tài nguyên dùng chung, có quy chế phối hợp giữa hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp và chính quyền, có khả năng quản lý chất lượng hay không; (3) nguồn lực và hạ tầng – khả năng tiếp cận vốn, hạ tầng tiếp cận và dịch vụ, công nghệ môi trường, kỹ năng của chủ thể địa phương; (4) liên kết chuỗi giá trị – quan hệ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp du lịch và lữ hành, khả năng tích hợp sản phẩm OCOP vào trải nghiệm, thị trường tiêu thụ; (5) năng lực cộng đồng và bảo vệ môi trường – mức độ tham gia và hưởng lợi của cộng đồng, năng lực quản lý rác thải, nước thải, sức chứa và chi phí thực hiện. Năm nhóm điều kiện tác động lên quá trình chuyển đổi của điểm đến – đổi mới sản phẩm, tổ chức kinh doanh và quản lý tài nguyên – và qua đó quyết định kết quả phát triển bền vững: giá trị kinh tế giữ lại tại địa phương, chất lượng môi trường và lợi ích của cộng đồng. Các mối quan hệ trong khung là giả thuyết phân tích dùng để tổ chức bằng chứng, chưa phải quan hệ nhân quả được kiểm định định lượng. Mục đích của khung phân tích không phải là đánh giá một điểm đến đã “xanh” đến mức nào, mà là giải thích vì sao có điểm đến chuyển đổi được còn điểm đến khác thì không.
Hình 1. Khung phân tích điều kiện – quá trình – kết quả của chuyển đổi xanh ở cấp điểm đến
Nguồn: Đề xuất của tác giả.
Bài viết sử dụng phương pháp định tính, kết hợp phân tích chính sách với phân tích so sánh trường hợp, dựa trên các nguồn dữ liệu bao gồm văn bản của Quốc hội, Chính phủ, các bộ và địa phương về du lịch, đất đai, nông thôn mới, OCOP và tăng trưởng xanh, được rà soát về nội dung và tình trạng hiệu lực đến tháng 8/2026; cơ sở dữ liệu điểm đến của đề tài, hệ thống hóa từ báo cáo của địa phương, cổng thông tin cơ quan quản lý và báo chí nhà nước về loại hình, chủ thể vận hành, hoạt động và những thực hành xanh đã được ghi nhận của các mô hình đã được khảo sát; biên bản phỏng vấn sâu với các cơ quan quản lý, hợp tác xã, ban quản lý du lịch cộng đồng, hộ kinh doanh và doanh nghiệp lữ hành tại Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Cần Thơ và Đồng Tháp, nhằm nhận diện cơ chế vận hành; trường hợp Lâm Đồng và một số mô hình điểm đến ở các địa phương khác được bổ sung bằng nghiên cứu tại bàn vì đây là địa phương duy nhất đã ban hành rồi chấm dứt quy chế riêng cho du lịch canh nông. Trường hợp được lựa chọn theo ba tiêu chí: có sản xuất nông nghiệp thực chất gắn với trải nghiệm du lịch; đại diện cho loại hình chủ đạo của vùng; và có đủ thông tin công khai hoặc quan sát trực tiếp để đối chiếu bốn phương diện chuyển đổi ở Bảng 2. Mỗi trường hợp được đối chiếu với năm nhóm điều kiện ở Hình 1 để nhận diện điều kiện thuận lợi và rào cản; kết quả được tổng hợp theo nhóm điểm đến và theo vùng. Giới hạn của cách tiếp cận này là không có nhóm so sánh, phần lớn dữ liệu cấp điểm đến là dữ liệu thứ cấp hoặc tự khảo sát báo cáo, và chưa có theo dõi theo chuỗi thời gian; vì vậy các nhận định được ghi rõ mức độ bằng chứng.
3. Thực trạng phát triển và chuyển đổi xanh của các điểm đến du lịch nông nghiệp
Xét từ phía cầu, thị trường đang tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch nông nghiệp phát triển. Khách nội địa đã vượt mức trước đại dịch từ năm 2022 và đạt khoảng 137 triệu lượt năm 2025; khách quốc tế đạt khoảng 21,2 triệu lượt, vượt đỉnh 2019 (theo số liệu công bố của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, tháng 01/2026). Về phía cung, hệ thống điểm đến đã hình thành ở hầu khắp các vùng với năm loại hình chủ yếu. Du lịch miệt vườn tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long và một phần Đông Nam Bộ, kết hợp vườn cây ăn trái với du lịch đường thủy: Cồn Sơn (Cần Thơ) với thương hiệu “cá lóc bay”, làng hoa Sa Đéc, đầm sen Tháp Mười (Đồng Tháp), vùng khóm Cầu Đúc (Hậu Giang cũ), ấp Cồn Ông (Trà Vinh cũ). Làng nghề gắn nông nghiệp tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung. Du lịch cộng đồng gắn sản xuất phổ biến ở miền núi phía Bắc dưới hình thức lưu trú cộng đồng kết hợp canh tác và văn hóa dân tộc thiểu số: Bản Lác, Thái Hải, Cát Cát, Tả Van, Lô Lô Chải, Nậm Đăm. Nông trại giáo dục phát triển ở vùng ven đô Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, phục vụ nhu cầu trải nghiệm cuối tuần của cư dân đô thị. Nông nghiệp sinh thái, hữu cơ kết hợp du lịch xuất hiện ở các vùng chuyên canh có chứng nhận: chè Thái Nguyên, Hà Giang cũ; rau hữu cơ Hội An; cà phê Lâm Đồng; lúa – tôm Vĩnh Long. Từ ngày 01/7/2025, việc sáp nhập các tỉnh từ 63 xuống 34 và bỏ cấp huyện theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 làm thay đổi đơn vị quản lý của nhiều điểm đến: một số chủ thể quản lý trước đây là Ủy ban nhân dân cấp huyện không còn tồn tại, trong khi chủ thể kế nhiệm chưa được xác định ở không ít nơi – do đó khi phân tích điều kiện quản trị cần phải đặt trong bối cảnh cơ cấu, thể chế thay đổi.
Đặc điểm phát triển của nhóm điểm đến du lịch nông nghiệp theo hướng truyền thống
Nhóm điểm đến du lịch nông nghiệp phát triển theo hướng truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo cả về số lượng lẫn mức độ phổ biến trong trải nghiệm thực tế của du khách. Đặc điểm nổi bật nằm ở nguồn gốc hình thành: phần lớn xuất phát từ chính hộ gia đình và cộng đồng địa phương như một cách đa dạng hóa sinh kế, đặc biệt trong những giai đoạn nông sản tiêu thụ khó khăn hoặc thời điểm nông nhàn. Chính vì xuất phát điểm đó, các điểm đến có xu hướng khai thác trực tiếp những gì đã có sẵn – tài nguyên nông nghiệp, cảnh quan nông thôn và hoạt động sản xuất hằng ngày – với cơ sở vật chất đơn giản; đây vừa là ưu điểm giúp mô hình dễ nhân rộng với chi phí thấp, vừa là giới hạn khiến chất lượng dịch vụ khó được nâng cấp nhanh
Thực tế cho thấy nhóm này đã tạo ra những tác động tích cực đáng ghi nhận. Về kinh tế, đây là những sản phẩm có khả năng thu hút lượng lớn khách nội địa, tạo việc làm và thu nhập tại chỗ thông qua lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, vận chuyển và bán nông sản, thủ công; đồng thời là kênh xúc tiến thương mại trực tiếp, rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng. Mô hình “Hội quán cùng nhau làm du lịch” tại Sa Đéc hay cách phân vai liên hộ tại Cồn Sơn – mỗi hộ đảm nhận một sản phẩm trong cùng một tuyến trải nghiệm – cho thấy cộng đồng có thể tự tổ chức để cùng hưởng lợi mà không cần chờ dự án đầu tư lớn.
Tuy nhiên, nhóm này đang bị kìm hãm bởi những hạn chế mang tính cấu trúc. Thứ nhất, về sản phẩm du lịch: thiết kế trùng lặp, nhiều địa phương cùng khai thác tham quan vườn, hái trái, bắt cá mà chưa chú trọng giá trị đặc thù; trải nghiệm phần lớn dừng ở mức “xem – chụp – nếm”, ít cơ hội tham gia sâu vào sản xuất hay tương tác thực chất với nông dân; một bộ phận mô hình chỉ khai thác khung cảnh làng quê làm nền cho du khách tham quan, chụp ảnh mà không còn gắn với hoạt động sản xuất nào, do đó không còn là du lịch nông nghiệp theo đúng nghĩa. Thứ hai, về mùa vụ: dòng khách và doanh thu dao động mạnh theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, tạo ra những cao điểm ngắn xen giữa thời gian dài gần như không có khách. Thứ ba, về quy mô và năng lực quản lý: mô hình nhỏ lẻ, phân tán, thiếu quy hoạch tổng thể; trong các trường hợp được khảo sát, việc theo dõi có hệ thống chi tiêu bình quân hay mức độ hài lòng của khách chưa được ghi nhận. Thứ tư, về cộng đồng: người dân chủ yếu cung cấp lao động, nguyên liệu hoặc dịch vụ cơ bản, trong khi mức độ tham gia quản lý, xây dựng sản phẩm và phân phối lợi ích chưa tương xứng. Những sản phẩm du lịch nông nghiệp phát triển theo hướng truyền thống, dù có nền tảng tài nguyên và văn hóa phong phú, do đó đang ở giai đoạn cần được thiết kế lại nhiều hơn là mở rộng thêm về số lượng.
Các mô hình chuyển đổi theo hướng xanh và những thay đổi trong phương thức phát triển
Một số điểm đến du lịch nông nghiệp đã thay đổi phương thức phát triển theo hướng xanh, dù mức độ thay đổi không đồng đều. Khảo sát của đề tài nhận diện bốn nhóm mô hình: Nhóm thứ nhất gắn với nông nghiệp hữu cơ và sinh thái cộng đồng, nơi sự chuyển đổi rõ nhất nằm ở phương thức canh tác điển hình như làng rau Trà Quế (Quảng Nam, nay thuộc Đà Nẵng) duy trì canh tác bằng phân rong biển, không dùng hóa chất tổng hợp, kết hợp trải nghiệm làm nông và lớp học ẩm thực thu hút khách quốc tế chi tiêu cao; một phần doanh thu bán vé được giữ lại tại xã để cấp giống, phân bón và công cụ cho các hộ không trực tiếp đón khách – một cơ chế chia sẻ lợi ích hiếm thấy đã được thống nhất bằng văn bản.
Nhóm thứ hai là nông trại giáo dục ven đô, đóng vai trò “phòng thí nghiệm thực” cho cư dân đô thị: các nông trại ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng; mô hình nhà màng công nghệ Nhật Bản, Israel trồng dưa lưới, dâu tây thủy canh, aquaponics tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự chuyển đổi ở nhóm này nằm chủ yếu ở tổ chức sản phẩm du lịch – chương trình trải nghiệm có thiết kế, có nội dung giáo dục, có hướng dẫn viên được đào tạo – trong khi phương thức canh tác thiên về công nghệ cao hơn là sinh thái, và rác thải từ hệ thống nhà màng chưa được quản lý.
Nhóm thứ ba là mô hình từ trang trại đến bàn ăn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và nông sản chủ lực có thương hiệu: cà phê của cộng đồng K’Ho Cil tại Lạc Dương (Lâm Đồng), Binon Cacao Park (Bà Rịa – Vũng Tàu cũ), Avocado Farm (Lâm Đồng), chè hữu cơ La Bằng và cụm điểm đến hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà – Homestay Mộc (Thái Nguyên). Chuyển đổi ở nhóm này tập trung vào liên kết chuỗi: nông sản có chứng nhận được đưa thành nội dung trải nghiệm và kênh tiêu thụ tại chỗ, nâng giá bán so với kênh thương lái.
Nhóm thứ tư kết hợp chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng nông nghiệp như Banarita Glamping Farm, Toom Sara (Đà Nẵng); nhóm này chuyển đổi về tổ chức kinh doanh và chất lượng dịch vụ, nhưng mối liên hệ với sản xuất nông nghiệp thực chất kém hơn và cần được theo dõi để không bị hiểu sang thành nghỉ dưỡng trên đất nông thôn.
Đối chiếu bốn nhóm với bốn phương diện ở Bảng 2 cho thấy: Sự chuyển đổi rõ nhất và phổ biến nhất diễn ra ở phương thức canh tác (hữu cơ, VietGAP, PGS, thuận thiên) và tổ chức sản phẩm (trải nghiệm có thiết kế, giáo dục, farm-to-table) – hai phương diện mà hộ hoặc hợp tác xã có thể tự quyết định trong phạm vi của mình. Sự chuyển đổi yếu và hiếm nhất diễn ra ở quản lý môi trường – chỉ một vài trường hợp như Thuận Nghĩa có quy trình rác thải, hầu như không có mô hình nào quản lý nước thải, năng lượng hay sức chứa – và ở phân phối lợi ích – chỉ Trà Quế có cơ chế chia sẻ được văn bản hóa, Cồn Sơn có cơ chế phân vai nhưng chưa được thể chế hóa. Hai phương diện này đòi hỏi hành động tập thể ở cấp điểm đến và chi phí mà hộ riêng lẻ không gánh được, và đó chính là nơi các rào cản ở mục 4 tập trung.
3.4. Sự khác biệt về điều kiện chuyển đổi xanh giữa các vùng
Điều kiện chuyển đổi xanh không đồng đều giữa sáu vùng kinh tế – xã hội, do khác biệt về cấu trúc tài nguyên, loại hình điểm đến lợi thế và năng lực tổ chức tại chỗ (Bảng 3). Tiểu vùng duyên hải Nam Trung Bộ với Trà Quế, Thanh Đông, Cẩm Thanh có một số điều kiện tương đối thuận lợi nhất trong nhóm trường hợp được nghiên cứu – thị trường chi tiêu cao, cộng đồng có tổ chức, chứng nhận hữu cơ đã có – nhưng đối mặt với nguy cơ quá tải cục bộ; Đồng bằng sông Hồng là vùng mà mối liên hệ với sản xuất nông nghiệp thực chất yếu nhất; Tây Nguyên có tuyên bố sạch, VietGAP dày đặc nhưng thương mại hóa cao và rác thải nhà kính chưa được quản lý. Trường hợp Biển Hồ Chè (Gia Lai) –tỉnh yêu cầu doanh nghiệp giữ hơn 62 ha chè làm cảnh quan du lịch sau khi đã chuyển hơn 236 ha sang cà phê, còn doanh nghiệp cho rằng việc giữ lại là không hiệu quả kinh tế và chưa có cơ chế bù đắp – cho thấy những bất cập khi một thỏa thuận cảnh quan tồn tại mà không có chủ thể quản trị điểm đến và cơ chế lợi ích đi kèm.
Bảng 3. Điều kiện chuyển đổi xanh của các điểm đến du lịch nông nghiệp theo sáu vùng kinh tế – xã hội
|
Vùng |
Loại hình lợi thế; điểm đến tiêu biểu |
Điều kiện thuận lợi |
Rào cản chủ yếu |
Định hướng ưu tiên |
|
Trung du và miền núi phía Bắc |
Cộng đồng gắn cảnh quan canh tác; vùng đặc sản có chứng nhận (Tân Cương, Hà Giang, Mù Cang Chải, Mộc Châu, Sin Suối Hồ) |
Nông sản đã có chứng nhận; bản sắc đậm; cộng đồng có truyền thống tự quản |
Quy mô hộ nhỏ; thiếu lưu trú đạt chuẩn; chứng nhận nông sản chưa nối vào sản phẩm du lịch; sức chứa điểm nóng chưa đo |
Kết nối chứng nhận vào trải nghiệm; quản lý sức chứa Sa Pa, Mộc Châu |
|
Đồng bằng sông Hồng |
Nông trại giáo dục cho đô thị; di sản nông thôn (Đường Lâm, Bát Tràng, HTX Bắc Hồng, Ecohost Hải Hậu) |
Thị trường Hà Nội lớn; hạ tầng tiếp cận tốt |
Liên hệ sản xuất nông nghiệp thực chất mỏng; sản phẩm nặng khai thác kiến trúc, cảnh quan |
Giữ “phép thử nông nghiệp” khi công nhận; nông trại giáo dục có sản xuất thật |
|
Bắc Trung Bộ |
Sinh thái – nông nghiệp gắn rừng, nông – lâm kết hợp (Pù Luông, Bến En, Pù Mát, Kim Phú) |
Tài nguyên rừng, vườn quốc gia |
Hạ tầng tiếp cận hạn chế; mô hình phân tán, chưa thành cụm |
Hình thành cụm điểm đến; hạ tầng kết nối |
|
Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên |
Farm-to-table gắn khách đô thị di sản; nông sản chủ lực có thương hiệu (Trà Quế, Thanh Đông, Lạc Dương, Cầu Đất, Buôn Ma Thuột) |
Thị trường quốc tế chi tiêu cao (Hội An); chứng nhận hữu cơ, VietGAP phổ biến |
Quá tải cục bộ (Cẩm Thanh); thương mại hóa làm loãng tương tác; rác thải nhà kính; thỏa thuận giữ cảnh quan không có cơ chế lợi ích (Biển Hồ Chè) |
Quản lý sức chứa; cơ chế bù đắp giữ cảnh quan; quản lý rác thải nhà kính |
|
Đông Nam Bộ |
Du lịch vườn theo mùa vụ; trang trại giáo dục cho TP. Hồ Chí Minh (Long Khánh, Củ Chi – Cần Giờ, Binon Cacao Park) |
Thị trường đô thị lớn nhất cả nước |
Mùa vụ nhọn; sản phẩm đồng nhất, cạnh tranh giá; thiếu hoạt động ngoài vụ |
Sản phẩm ngoài vụ; phân biệt hóa theo đặc sản |
|
Đồng bằng sông Cửu Long |
Cộng đồng miệt vườn; sinh thái đất ngập nước, mùa nước nổi (Cồn Sơn, Cồn Chim, Cồn Hô, Sa Đéc, Tràm Chim) |
Cộng đồng có tổ chức; đã có nghiên cứu chuỗi giá trị |
Kết quả bảo tồn sinh thái chưa giám sát; chia sẻ lợi ích chưa thể chế hóa; quá tải mùa vụ (Sa Đéc) |
Thể chế hóa phân vai liên hộ; giám sát hệ sinh thái đất ngập nước |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ cơ sở dữ liệu điểm đến và khảo sát thực địa của đề tài. Vùng theo phân vùng trước ngày 01/7/2025;
Kết quả đối chiếu sáu vùng cho thấy ba xu hướng nổi bật được nhận diện từ phân tích trường hợp. Thứ nhất, cấu trúc tài nguyên nông nghiệp – văn hóa của vùng quy định loại hình điểm đến có lợi thế. Thứ hai, điều kiện chuyển đổi xanh được quyết định bởi hai yếu tố: có chứng nhận sản xuất sẵn để kết nối vào với sản phẩm du lịch và có tổ chức cộng đồng tại chỗ – những vùng không giàu tài nguyên nhất như duyên hải miền Trung với mô hình Trà Quế hay Đồng bằng sông Cửu Long với mô hình Cồn Sơn là minh chứng cho sự chuyển đổi rõ nét nhất. Thứ ba, rào cản các vùng biểu hiện khác nhau nhưng chung một nguyên nhân: thiếu chủ thể quản trị điểm đến và thiếu cơ chế hành động tập thể về môi trường và lợi ích. Ba xu hướng này là cơ sở để đề xuất phải thiết kế chính sách hỗ trợ theo vùng và theo nhóm điểm đến, tránh áp dụng một công thức đồng nhất cho những không gian có cấu trúc tài nguyên và điều kiện rất khác nhau.
4. Rào cản chuyển đổi theo hướng xanh các điểm đến du lịch nông nghiệp
Đối chiếu các trường hợp ở mục 3 với năm nhóm điều kiện chuyển đổi của khung phân tích cho thấy năm nhóm rào cản có quan hệ chặt chẽ với nhau. Điểm chung của chúng là phần lớn không nằm ở những việc hộ có thể tự làm như thay đổi canh tác hay thiết kế sản phẩm du lịch, mà ở những việc đòi hỏi nhiều chủ thể cùng làm và cần có thể chế bảo đảm như khung pháp lý, tổ chức quản trị điểm đến và liên kết chuỗi. Bảng 4 ở cuối mục tổng hợp bằng chứng và vai trò của từng nhóm.
Rào cản thể chế và chính sách
Khung pháp lý đất đai là một trong những rào cản thể chế đáng chú ý nhất. Trước năm 2024, pháp luật nghiêm cấm xây dựng công trình lưu trú, dịch vụ trên đất nông nghiệp khi chưa hoàn thành chuyển đổi mục đích sử dụng đất, trong khi quy trình chuyển đổi phức tạp, tốn kém và không phù hợp với quy mô đầu tư nhỏ, phân tán của hộ sản xuất. Hệ quả thể hiện rõ qua trường hợp Đồng Tháp: tỉnh xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho farmstay nhưng không giải ngân được do vướng đồng thời bốn điều kiện – chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia cho farmstay; farmstay khác biệt với du lịch cộng đồng vốn thuộc danh mục được hỗ trợ; chưa có mã ngành kinh doanh; và cơ sở lưu trú trên đất nông nghiệp chưa đáp ứng tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2023).
Luật Đất đai năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024, đánh dấu một bước ngoặt lớn. Điều 218 (được hướng dẫn tại Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, sửa đổi tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP và bổ sung tại Nghị định số 49/2026/NĐ-CP lần đầu luật hóa việc cho phép đất nông nghiệp được sử dụng kết hợp với thương mại, dịch vụ mà không phải chuyển mục đích sử dụng đất, kèm theo các nguyên tắc kiểm soát: không làm thay đổi mục đích sử dụng đất chính và sản xuất nông nghiệp vẫn phải là hoạt động chủ đạo; bảo tồn chất lượng đất, công trình có quy mô phù hợp, dùng vật liệu nhẹ, lắp ghép, dễ tháo dỡ; diện tích đất sử dụng vào mục đích kết hợp không vượt quá 50% diện tích đất sử dụng vào mục đích chính theo Điều 99 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, với một số trường hợp được quy định riêng – giới hạn này là giới hạn diện tích sử dụng kết hợp, không đồng nghĩa với việc được xây dựng công trình dịch vụ trên phần diện tích đó; phương án sử dụng đất kết hợp phải được đăng ký hoặc phê duyệt theo thẩm quyền phân cấp hiện hành tùy loại chủ thể sử dụng đất, kèm nghĩa vụ tài chính bổ sung; công trình kiên cố vượt phạm vi phương án vẫn bị xử lý theo Nghị định số 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Quốc hội, 2024; Chính phủ, 2024). Đây là hành lang pháp lý vừa để khuyến khích đầu tư, vừa để bảo vệ chức năng sản xuất và chất lượng đất lâu dài. Tuy nhiên, đó mới là điều kiện cần, và kinh nghiệm địa phương vẫn cho thấy tồn tại khoảng cách lớn giữa văn bản và thực thi. Lâm Đồng là địa phương đi trước khi thí điểm “điểm du lịch canh nông” từ năm 2015 và ban hành Quy định tạm thời theo Quyết định số 933/QĐ-UBND năm 2021, công nhận 33 điểm; nhưng sau đại dịch 14 điểm ngừng hoạt động, và tháng 12/2023 tỉnh phải bãi bỏ quy định này bằng Quyết định số 2386/QĐ-UBND vì không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành (Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, 2023). Bài học của Lâm Đồng cho thấy: địa phương chủ động cụ thể hóa quy định trung ương là cần thiết, nhưng quy định chỉ xử lý điều kiện xây dựng mà không xử lý điều kiện vận hành, môi trường và quản trị thì không bền.
Ngoài đất đai, còn ba khoảng trống thể chế khác đang kìm hãm chuyển đổi xanh của các điểm đến. Thứ nhất, chưa có tiêu chuẩn chất lượng quốc gia cho farmstay và chưa có mã ngành kinh doanh tương ứng, nên các chính sách hỗ trợ không xác định được đối tượng để áp dụng. Thứ hai, cơ chế công nhận điểm du lịch theo Luật Du lịch năm 2017 và Nghị định số 168/2017/NĐ-CP chỉ kiểm tra điều kiện tại thời điểm công nhận mà không đặt ra nghĩa vụ nào sau đó; vì vậy, gần 400 điểm đã được công nhận không có nghĩa là có gần 400 điểm đang được quản lý và vận hành thường xuyên. Thứ ba, quy hoạch điểm đến du lịch nông thôn chưa được lồng ghép vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, nên hộ và hợp tác xã không có cơ sở bảo đảm lâu dài cho khoản đầu tư của mình
Hạn chế về năng lực tổ chức và quản trị điểm đến
Rào cản thứ hai xuyên suốt là phần lớn điểm đến chưa có chủ thể quản trị rõ ràng. Khảo sát của đề tài cho thấy một mẫu hình lặp lại ở nhiều vùng: điểm đến có những điểm hấp dẫn được nhận diện – một vườn hoa, một vườn cây ăn quả, một ngôi làng nghề truyền thống, một đồi chè – nhưng không có ban quản lý, không có quy chế quy định trách nhiệm của từng chủ thể, khiến điều phối giữa hộ sản xuất, doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng diễn ra tự phát. Hệ quả trực tiếp là không ai chịu trách nhiệm về những tài nguyên dùng chung – cảnh quan, nguồn nước, rác thải, dòng khách – mà từng hộ không thể tự quản lý.
Giới hạn về sức chứa tại các mô hình du lịch nông nghiệp này hầu như chưa được xác định ở bất kỳ điểm đến du lịch nông nghiệp nào, kể cả những điểm đã quá tải. Làng hoa Sa Đéc đón hơn một triệu lượt khách mỗi năm và ghi nhận ùn tắc kéo dài hai ki-lô-mét trong mùa cao điểm, nhưng không có giới hạn khách hay quy tắc điều tiết; Sa Pa và Cẩm Thanh trong tình trạng tương tự. Thiếu chủ thể quản trị cũng là lý do những thỏa thuận cảnh quan như ở Biển Hồ Chè không có người thực thi và không có cơ chế bù đắp, và là lý do khiến những cơ chế tổ chức cộng đồng hiệu quả như phân vai liên hộ ở Cồn Sơn vẫn chỉ dừng ở sáng kiến tự phát, không được văn bản hóa để nhân rộng.
Ở những điểm đến du lịch đã có chủ thể quản trị, sự khác biệt là rõ rệt. Các trường hợp chuyển đổi rõ nhất là Trà Quế, Thanh Đông, Thuận Nghĩa, cụm Thái Nguyên – đều có một hợp tác xã, một tổ hợp tác hoặc một đơn vị do xã thành lập đứng ra điều phối sản xuất, tiếp đón khách và phân phối lợi ích. Điều làm nên khác biệt không phải là hình thức sở hữu, mà là có một chủ thể chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, chủ thể ấy cần được tổ chức theo cách thức khác nhau tùy loại điểm đến – một làng nghề hàng trăm hộ, một cụm nông trại do doanh nghiệp đầu tư hay một bản làng dân tộc thiểu số không thể dùng chung một mô hình quản trị – trong khi chính sách hiện nay chưa phân biệt.
Rào cản về vốn đầu tư, hạ tầng và nguồn nhân lực
Rào cản thứ ba là nguồn lực. Rào cản vốn hiện nay không phải ở mức trần tín dụng được vay mà ở chỗ cơ chế tín dụng chưa được thiết kế cho mô hình vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm dịch vụ. Cụ thể: thu nhập từ du lịch đến theo mùa, trong khi lịch trả nợ chia đều theo tháng; Công trình dịch vụ xây trên đất kết hợp chưa có hồ sơ pháp lý rõ ràng, nên ngân hàng không có cơ sở để định giá; Cán bộ tín dụng vẫn thẩm định hồ sơ như một phương án trồng trọt, chăn nuôi thông thường. Kết quả là nhiều phương án tuy đã được phép về mặt pháp lý vẫn không vay được vốn.
Về hạ tầng, nút thắt thường thấy ở nhiều vùng là thiếu lưu trú tại điểm đến du lịch nông nghiệp và thiếu công trình xử lý chất thải. Ngay trong nhóm đã chuyển đổi xanh, nhiều mô hình vẫn ở quy mô hộ nhỏ, không có hệ thống xử lý nước thải hay thu gom rác đúng với tinh thần đã tuyên bố; chi phí đầu tư công nghệ môi trường vượt quá khả năng của hộ, trong khi chưa có cơ chế đầu tư chung ở cấp điểm đến.
Về nhân lực, người làm du lịch tại các điểm đến phần lớn là nông dân kiêm nhiệm. Lợi thế của họ là am hiểu sản xuất và văn hóa địa phương; điểm yếu là thiếu kỹ năng thiết kế trải nghiệm, kể chuyện cho du khách và vận hành dịch vụ theo tiêu chuẩn – trong khi chính chất lượng hoạt động và mức độ tương tác với chủ nông trại mới là yếu tố quyết định sức hấp dẫn và ý định quay lại của khách (Phillip và cộng sự, 2010). Bên cạnh đó, hầu hết các điểm đến du lịch nông nghiệp đều có ứng dụng công nghệ số nghèo nàn, tự phát: chưa có nền tảng chung để đặt dịch vụ, thu thập dữ liệu khách và phản hồi cho cơ quan quản lý, và chưa có công cụ ghi nhận dữ liệu vận hành cho chủ thể quản trị điểm đến
Hạn chế trong liên kết chuỗi giá trị và phân phối lợi ích
Rào cản thứ tư nằm ở chất lượng liên kết. Quan hệ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp du lịch và công ty lữ hành phần lớn vẫn là thỏa thuận miệng, dựa trên quen biết cá nhân, không có hợp đồng; khi thị trường biến động, liên kết dễ đứt và thiệt hại dồn về phía hộ sản xuất. Sản phẩm OCOP – vốn được kỳ vọng là cầu nối giữa nông sản và du lịch – mới chủ yếu được bày bán tại điểm đến, chưa được đưa vào nội dung trải nghiệm; du khách vì thế không được tiếp cận câu chuyện về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và thương hiệu, tức phần giá trị gia tăng lớn nhất của sản phẩm. Bản thân cơ chế đánh giá OCOP cũng có kẽ hở: nhóm sản phẩm dịch vụ du lịch (nhóm 6) được chấm điểm và cấp chứng nhận 36 tháng, nhưng bộ tiêu chí không có yêu cầu nào về việc sản phẩm phải gắn với sản xuất nông nghiệp, nên một cơ sở lưu trú nông thôn không hề có sản xuất vẫn có thể đạt sao cao nhất.
Về phân phối lợi ích, khảo sát cho thấy sự tham gia của cộng đồng được ghi nhận ở nhiều nơi nhưng hiếm có điểm đến nào mà quy tắc chia lợi ích được ghi thành văn bản cụ thể. Điểm đến du lịch nông nghiệp vườn rau Trà Quế là ngoại lệ: một phần doanh thu bán vé được giữ lại để hỗ trợ những hộ không trực tiếp đón khách. Cồn Sơn có cách phân vai giữa các hộ, nhưng chỉ việc phân phối lợi ích từ hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng. Ở phần lớn điểm đến còn lại, người dân góp công lao động và nông sản, còn phần lợi ích lớn hơn thuộc về nhà đầu tư hoặc công ty lữ hành; hộ dân ở thế yếu vì không nắm được thông tin về khách. Tình trạng này dẫn đến ba rủi ro mà các nghiên cứu quốc tế về du lịch cộng đồng đã cảnh báo: lợi ích phân chia không công bằng, cộng đồng chỉ tham gia hình thức, và văn hóa bị “sân khấu hóa” để phục vụ khách (Zapata và cộng sự, 2011; Boley và McGehee, 2014).
Những thách thức trong bảo vệ môi trường và duy trì tính bền vững
Rào cản thứ năm là năng lực quản lý môi trường ở cấp điểm đến. Rác thải, nước thải, sử dụng nước tưới và năng lượng trong các trường hợp được khảo sát, chưa được ghi nhận là có quản lý một cách hệ thống; ngay những điểm tự nhận là “xanh” cũng chủ yếu dựa vào phương thức canh tác sạch, trong khi tác động của chính hoạt động du lịch – rác từ du khách, nước thải lưu trú và ăn uống, rác thải nhựa từ nhà màng – chưa được xử lý triệt để. Áp lực gia tăng khách tại các điểm nóng chưa được giải quyết bằng quản lý sức chứa, mà bằng cách chấp nhận quá tải trong mùa cao điểm. Các hệ sinh thái nhạy cảm gắn với du lịch nông nghiệp – đất ngập nước, lúa – tôm, sen – lúa – chim nước ở Đồng bằng sông Cửu Long – chịu thêm tác động của biến đổi khí hậu mà chưa có giám sát.
Nguyên nhân của những rào cản này xuất phát từ nhiều vấn đề: thứ nhất là chi phí chuyển đổi: xử lý nước thải, thu gom rác, giảm nhựa làm tăng chi phí vận hành của hộ trong khi không làm tăng giá bán tương ứng, nên hộ không có động cơ thực hiện nếu không có cơ chế hỗ trợ hoặc điều kiện gắn với công nhận; Thứ hai, thiếu chủ thể thực hiện: quản lý môi trường ở điểm đến là hành động tập thể, và như đã chỉ ra, không có chủ thể quản trị thì không có người tổ chức và chi trả; Thứ ba, thiếu cơ chế giám sát đặc thù: nghĩa vụ bảo vệ môi trường nói chung của cơ sở sản xuất, kinh doanh vẫn được điều chỉnh bởi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn, nhưng cơ chế theo dõi định kỳ năng lượng, nước và rác thải dành riêng cho cơ sở du lịch theo Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT đã hết hiệu lực từ ngày 15/12/2023 theo Thông tư số 12/2023/TT-BVHTTDL mà chưa có cơ chế chuyên ngành tương ứng thay thế, và cơ chế ấy cũng chưa bao giờ được thiết kế cho trang trại, hợp tác xã hay điểm đến du lịch nông nghiệp; các bộ tiêu chí du lịch xanh cấp tỉnh – Quảng Nam từ năm 2021, sửa đổi năm 2024 – có nội dung môi trường cụ thể nhưng là tự nguyện, áp dụng cho doanh nghiệp và phạm vi nhỏ. Kết quả là yếu tố “xanh” đang đi trước năng lực quản lý của chính nó: điểm đến có thể chuyển đổi về canh tác và sản phẩm du lịch nông nghiệp, nhưng không có công cụ, chủ thể và động cơ để chuyển đổi về môi trường.
Bảng 4. Năm nhóm rào cản chuyển đổi xanh: bằng chứng, vai trò và tính chất
|
Nhóm rào cản |
Bằng chứng chính trong bài |
Vai trò trong chuyển đổi |
Tính chất của rào cản |
|
1. Thể chế đất đai và công nhận |
Văn bản pháp luật; trường hợp Đồng Tháp, Lâm Đồng |
Điều kiện pháp lý |
Nền tảng: xác lập địa vị pháp lý cho mọi hành động khác |
|
2. Quản trị điểm đến |
Tổ chức điều phối, trách nhiệm về tài nguyên chung; Sa Đéc, Biển Hồ Chè, Trà Quế, Cồn Sơn |
Điều kiện phối hợp |
Trực tiếp: không có chủ thể thì không có hành động tập thể |
|
3. Liên kết chuỗi giá trị |
Hợp đồng liên kết, OCOP, chia sẻ lợi ích; Trà Quế, Cồn Sơn |
Điều kiện kinh tế |
Trực tiếp: quyết định động cơ và cách phân phối lợi ích |
|
4. Nguồn lực và hạ tầng |
Vốn, nhân lực, công trình xử lý chất thải; phỏng vấn hộ, hợp tác xã |
Điều kiện thực hiện |
Làm tăng chi phí: không ngăn chuyển đổi bắt đầu nhưng làm chậm và đắt hơn |
|
5. Cộng đồng và môi trường |
Sự tham gia, giám sát, sức chứa; Thuận Nghĩa, Cẩm Thanh |
Điều kiện duy trì bền vững |
Làm tăng chi phí và rủi ro duy trì kết quả |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Ba rào cản được nhấn mạnh là có tính quyết định – thể chế, quản trị và liên kết chuỗi. Thể chế là rào cản nền tảng xác lập địa vị pháp lý cho mọi hành động; quản trị và liên kết là rào cản trực tiếp quyết định có hay không chủ thể và động cơ để hành động tập thể. Nguồn lực và môi trường là rào cản làm tăng chi phí: chúng khiến chuyển đổi chậm và đắt hơn chứ không ngăn chuyển đổi bắt đầu, và trong các trường hợp được khảo sát, chúng chỉ được tháo gỡ ở nơi ba rào cản đầu đã được xử lý, như Trà Quế hay Thuận Nghĩa.
5. Kết luận và kiến nghị giải pháp
Chuyển đổi xanh của các điểm đến du lịch nông nghiệp ở Việt Nam đang diễn ra ở những phương diện mà hộ và hợp tác xã tự quyết định được – canh tác và tổ chức sản phẩm – và bị chặn ở những phương diện đòi hỏi hành động tập thể và thể chế – quản lý môi trường và phân phối lợi ích. Kết luận này tương đồng với kết luận của Lane và Kastenholz (2015) rằng du lịch nông thôn phải được quản trị ở cấp điểm đến, và bổ sung cho các nghiên cứu trong nước một góc nhìn khác: sự sẵn sàng tham gia của hộ mà Ngô Thị Phương Lan (2021) ghi nhận chỉ chuyển thành chuyển đổi thực sự khi có chủ thể quản trị và cơ chế liên kết, còn chứng nhận sản xuất nông nghiệp (VietGAP, PGS, hữu cơ) là tài sản sẵn có ở nhiều vùng mà chính sách du lịch chưa khai thác. Vì điều kiện chuyển đổi khác nhau rất lớn giữa các nhóm điểm đến, chính sách hỗ trợ “một gói cho tất cả” khó phát huy hiệu quả; Luật Đất đai năm 2024 và việc sắp xếp lại đơn vị hành chính từ tháng 7/2025 là thời điểm thích hợp để thiết kế lại thể chế ở cấp địa phương theo hướng phân nhóm.
Ba nhóm dưới đây (Bảng 5) là ba nhóm ưu tiên can thiệp, một điểm đến có thể thuộc nhiều nhóm (Trà Quế vừa có thực hành xanh cần mở rộng, vừa chịu áp lực khách từ Hội An); khi đó thứ tự ưu tiên hỗ trợ theo mức độ cấp bách là áp lực môi trường trước, quản trị và liên kết tiếp theo, nâng cấp sản phẩm sau cùng.
Bảng 5. Ba nhóm ưu tiên can thiệp chính sách theo nhóm điểm đến
|
Nhóm điểm đến |
Đặc điểm nhận diện |
Rào cản chính |
Ưu tiên chính sách |
Điều kiện hỗ trợ |
Ví dụ |
|
Truyền thống cần nâng cấp |
Khai thác tài nguyên bề mặt; sản phẩm “xem – chụp – nếm”; mùa vụ; chưa có chủ thể quản trị |
Sản phẩm, quản trị, nhân lực |
Thiết kế lại sản phẩm gắn sản xuất; hoạt động ngoài vụ; thành lập chủ thể quản trị; đào tạo tại mô hình |
Có chủ thể quản trị; giữ liên hệ sản xuất nông nghiệp |
Phần lớn điểm miệt vườn, làng nghề, bản làng |
|
Đã có thực hành xanh cần mở rộng |
Canh tác có chứng nhận; trải nghiệm có thiết kế; hợp tác xã/cộng đồng điều phối |
Liên kết chuỗi; chi phí chuyển đổi môi trường; phân phối lợi ích |
Nối chứng nhận vào sản phẩm; hợp đồng liên kết; quy chế chia sẻ lợi ích; hỗ trợ xử lý chất thải |
Hợp đồng liên kết; báo cáo định kỳ; quy chế lợi ích công khai |
Trà Quế, Thanh Đông, Thuận Nghĩa, cụm chè Thái Nguyên, Cồn Sơn |
|
Chịu áp lực môi trường cao |
Đã quá tải mùa cao điểm hoặc hệ sinh thái nhạy cảm; thỏa thuận cảnh quan không có cơ chế lợi ích |
Sức chứa; hạ tầng chất thải; giám sát tài nguyên |
Xác định và công bố sức chứa; đầu tư xử lý chất thải; cơ chế bù đắp giữ cảnh quan; giám sát hệ sinh thái |
Có kế hoạch quản lý sức chứa trước khi nhận hỗ trợ mở rộng |
Sa Pa, Cẩm Thanh, Sa Đéc, Biển Hồ Chè, đất ngập nước ĐBSCL; Trà Quế (áp lực khách) |
Nguồn: Đề xuất của tác giả trên cơ sở phân tích ở mục 3 và 4.
Đi kèm phân nhóm là bốn nhóm giải pháp, mỗi nhóm nhằm vào một nhóm rào cản
Trước hết, về thể chế và chính sách. Các tỉnh sau sáp nhập cần chủ động cụ thể hóa cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo Điều 218 bằng hướng dẫn thi hành thống nhất, xác định rõ loại công trình, tỷ lệ diện tích, thủ tục đăng ký và nghĩa vụ tài chính phù hợp với quy mô hộ và hợp tác xã, nhưng rút kinh nghiệm từ Lâm Đồng: quy định phải bao gồm cả điều kiện vận hành, môi trường và chủ thể quản trị, không chỉ điều kiện xây dựng. Cần sớm ban hành tiêu chuẩn chất lượng quốc gia cho farmstay, mã ngành kinh doanh tương ứng và quy định riêng về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường cho công trình dịch vụ trên đất nông nghiệp, để chính sách hỗ trợ có đối tượng pháp lý rõ ràng. Công nhận điểm du lịch và đánh giá OCOP nhóm 6 cần gắn với điều kiện duy trì – có chủ thể quản trị được xác định, có liên hệ với sản xuất nông nghiệp thực chất, có báo cáo định kỳ tối thiểu về khách, lao động địa phương, rác thải và sức chứa – lấy chu kỳ chứng nhận OCOP 36 tháng làm nhịp đánh giá lại sẵn có thay vì tạo cơ chế mới.
Thứ hai, về năng lực quản trị và tổ chức hoạt động điểm đến. Yêu cầu hình thành chủ thể quản trị điểm đến nên được đặt làm điều kiện của công nhận và hỗ trợ, với mô hình phân biệt theo quy mô, loại hình và chủ thể: ban quản lý do xã thành lập cho làng nghề, làng cổ có nhiều hộ; hợp tác xã hoặc tổ hợp tác điều phối cho vùng chuyên canh có chứng nhận; doanh nghiệp đầu mối có quy chế liên kết với hộ cho cụm nông trại; tổ chức cộng đồng có quy ước cho bản làng dân tộc thiểu số. Mỗi mô hình cần có quy chế xác định trách nhiệm về tài nguyên chung – sức chứa, rác thải, cảnh quan – và về phân phối lợi ích. Cần ưu tiên xác định và công bố sức chứa tại các điểm đã có dấu hiệu quá tải (Sa Pa, Cẩm Thanh, Sa Đéc) như bước đi đầu tiên của quản trị điểm đến, vì đó là nơi chi phí của việc không quản trị đã hiện hữu, và chuyển mục tiêu kinh tế từ tối đa hóa lượt khách sang tối ưu giá trị trong giới hạn sức chứa.
Thứ ba, về liên kết chuỗi giá trị và lợi ích kinh tế địa phương. Cần chuẩn hóa hợp đồng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp du lịch với cơ chế giá, chu kỳ thanh toán và chia sẻ lợi ích minh bạch; chương trình hỗ trợ có thể lấy việc có hợp đồng liên kết làm điều kiện. Tiêu chí OCOP nhóm 6 cần bổ sung phép thử về liên hệ với sản xuất nông nghiệp, và sản phẩm OCOP cần được tích hợp vào trải nghiệm thay vì chỉ đặt ở quầy hàng – khách tiếp cận vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và câu chuyện thương hiệu. Chứng nhận sản xuất sẵn có (VietGAP, PGS, hữu cơ) nên được nối trực tiếp vào sản phẩm du lịch, vì đây là tài sản mà nhiều vùng đã có nhưng chưa dùng cho du lịch. Các cơ chế phân phối lợi ích đã vận hành hiệu quả – giữ lại một phần doanh thu vé cho hộ không đón khách ở Trà Quế, phân vai liên hộ ở Cồn Sơn – cần được tài liệu hóa và thể chế hóa thành quy chế mẫu để nhân rộng, với yêu cầu công khai, minh bạch nhằm ngăn ngừa bất bình đẳng và tham gia hình thức.
Cuối cùng, về quản lý môi trường. Cần lồng ghép nguồn lực của chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026–2030 để đầu tư công trình xử lý rác, nước thải ở cấp điểm đến thay vì cấp hộ, vì đó là quy mô mà chi phí trở nên hợp lý và có chủ thể vận hành; thiết lập cơ chế giám sát môi trường đặc thù ở cấp điểm đến du lịch nông nghiệp – báo cáo tối thiểu về rác, nước, năng lượng và sức chứa gắn với điều kiện duy trì công nhận, áp dụng cho cả trang trại và hợp tác xã – thay cho cơ chế chuyên ngành đã hết hiệu lực từ năm 2023; và hỗ trợ có điều kiện chi phí chuyển đổi môi trường cho nhóm đã có thực hành xanh, để chuyển đổi không dừng ở canh tác và sản phẩm mà đi tới được hai phương diện còn thiếu là môi trường và lợi ích.
Lời cảm ơn: Bài báo là sản phẩm của nhiệm vụ: “Nghiên cứu hoàn thiện các chính sách, giải pháp thúc đẩy du lịch nông nghiệp và thử nghiệm tại một số mô hình theo hướng xanh” (thuộc Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022) do TS. Bùi Thu Trang chủ nhiệm, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới chủ trì. Xin chân thành cảm ơn Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025 đã tài trợ kinh phí cho nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo
- Barbieri, C. (2013). Assessing the sustainability of agritourism in the US: A comparison between agritourism and other farm entrepreneurial ventures. Journal of Sustainable Tourism, 21(2), 252–270.
- Boley, B. B., & McGehee, N. G. (2014). Measuring empowerment: Developing and validating the Resident Empowerment through Tourism Scale (RETS). Tourism Management, 45, 85–94.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Báo cáo kết quả phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn giai đoạn 2021–2025, định hướng 2026–2030. Nguồn dẫn gián tiếp, theo Báo Đầu tư (17/10/2025), “Từ làm nông sang làm du lịch: bước ngoặt trong tư duy phát triển nông thôn mới”, https://baodautu.vn/tu-lam-nong-sang-lam-du-lich-buoc-ngoat-trong-tu-duy-phat-trien-nong-thon-moi-d414543.html
- Chính phủ. (2024). Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP).
- Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (2023). Tháo gỡ khó khăn về chính sách đất đai cho phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn. https://vietnamtourism.gov.vn/post/50804
- Lane, B., & Kastenholz, E. (2015). Rural tourism: The evolution of practice and research approaches – Towards a new generation concept? Journal of Sustainable Tourism, 23(8–9), 1133–1156.
- Ngô Thị Phương Lan. (2021). Phát triển chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới. TP. Hồ Chí Minh: Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
- Nguyen, D. T. N., d’Hauteserre, A.-M., & Serrao-Neumann, S. (2022). Intrinsic barriers to and opportunities for community empowerment in community-based tourism development in Thai Nguyen province, Vietnam. Journal of Sustainable Tourism, 30(4), 723–741.
- Nguyễn Thị Dung. (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn điểm đến du lịch nông nghiệp tại Lâm Đồng. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế, Luật và Quản lý, 8(3), 5384–5396.
- Phillip, S., Hunter, C., & Blackstock, K. (2010). A typology for defining agritourism. Tourism Management, 31(6), 754–758.
- Quốc hội. (2024). Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024.
- Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025.
- Trương Trí Thông, & Nguyễn Trọng Nhân. (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch nông nghiệp tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 60(2C), 200–213.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (2023). Quyết định số 2386/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 bãi bỏ Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 13/4/2021 ban hành Quy định tạm thời về đầu tư và quản lý hoạt động kinh doanh du lịch canh nông trên địa bàn tỉnh.
- Zapata, M. J., Hall, C. M., Lindo, P., & Vanderschaeghe, M. (2011). Can community-based tourism contribute to development and poverty alleviation? Lessons from Nicaragua. Current Issues in Tourism, 14(8), 725–749.
Bùi Thu Trang¹
¹ TS. Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Email: trangbt2002@gmail.com