I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đã được triển khai qua 3 giai đoạn (2006-2010, 2011-2015, 2016-2020) trên phạm vi toàn quốc. Chương trình đã góp phần tăng số lượng văn bằng bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc gia tăng từ 18.040 đơn (năm 2016) lên 33.700 (năm 2020); văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý tăng từ 7 (năm 2016) lên 21 (năm 2020) (Tài liệu hội nghị sở hữu trí tuệ năm 2021). Tính trong cả giai đoạn 2011-2020, có 1.148 sản phẩm quốc gia, chủ lực địa phương đã được hỗ trợ bảo hộ gắn với tên gọi địa danh dưới hình thức chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận hoặc nhãn hiệu tập thể. Nhiều sản phẩm sau khi được bảo hộ SHTT, người tiêu dùng đã biết đến rộng rãi, uy tín sản phẩm được nâng cao, giá trị sản phẩm gia tăng đáng kể như: Mật ong bạc hà Hà Giang, mật ong Mù Cang Chải, rau an toàn Mộc Châu, gạo nếp cái hoa vàng Kinh Môn, cà phê Sơn La, hạt điều Bình Phước, nước mắm Phú Quốc…
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 (Quyết định số 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020) đặt ra mục tiêu đến năm 2025: (1) Tối thiểu 40% sản phẩm được công nhận là sản phẩm quốc gia, sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và sản phẩm gắn với Chương trình OCOP được hỗ trợ đăng ký bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ, kiểm soát nguồn gốc và chất lượng sau khi được bảo hộ; (2) Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ thông qua: (i) Xây dựng và triển khai hệ thống quản lý chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể gắn với đăng ký mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm, chứng nhận chất lượng và xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm được bảo hộ; (ii) Khai thác, phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể theo hướng hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm được bảo hộ theo chuỗi giá trị. Giới thiệu, quảng bá và triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại khác nhằm khai thác, phát triển giá trị các tài sản trí tuệ.
Ba hình thức được nhiều tỉnh, thành phố ưu tiên lựa chọn thực hiện theo Chương trình trên là chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhân và nhãn hiệu tập thể. Điểm chung của các hình thức đó là sản phẩm được bảo hộ gắn với tên địa danh của khu vực sản xuất. Trong đó, số lượng nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ nhiều thứ hai và không ngừng tăng lên ở hầu hết các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, sau bảo hộ, việc quản lý quản lý, khai thác các nhãn hiệu chứng nhận còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế dẫn đến chưa phát huy được lợi thế của tài sản trí tuệ, ít tác động đến năng lực cạnh tranh và giá bán của sản phẩm, tỷ lệ người sản xuất sử dụng nhãn hiệu thấp, tình trạng vi phạm sử dụng nhãn hiệu còn xảy ra nhưng không bị xử lý, người tiêu dùng chưa có hiểu biết đầy đủ và sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận là cần thiết để các tỉnh, thành phố giải quyết các khó khăn, hạn chế trên đồng thời góp phần đạt được các mục tiêu của Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhãn hiệu chứng nhận đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thu thập thông tin: Bài báo có sử dụng các thông tin thứ cấp được thu thập từ số liệu thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ, các báo cáo, bài báo khoa học, bài viết, văn bản chính sách có liên quan đến tình hình quản lý, khai thác, thương mại sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận.
- Phương pháp chuyên gia: Thu thập, ghi chép các nhận định, đánh giá, góp ý của các nhà quản lý thực hiện Chương trình phát triển tài sản trí tuệ, chuyên gia lĩnh vực SHTT cho giải pháp quản lý, khai thác nhãn hiệu chứng nhận.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Tổng hợp một số kết quả, kinh nghiệm quản lý, khai thác nhãn hiệu chứng nhận điển hình, tiêu biểu để làm căn cứ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản lý, khai thác nhãn hiệu chứng nhận chung của Việt Nam.
- Phương pháp phân tích chính sách: Phương pháp này nhằm đánh giá các quy định về quản lý, các quy chế quản lý nhãn hiệu chứng nhận đã được ban hành và thực thi, từ đó phát hiện những bất cập để có giải pháp can thiệp, tác động phù hợp trong thời gian tới.
- Phương pháp phân tích SWOT: Nhằm chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong quản lý, khai thác nhãn hiệu chứng nhận nhằm xác định giải pháp can thiệp phù hợp.
- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu thu thập: Thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp và xử lý trên công cụ Excel.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2025 tại Hà Nội.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận của Việt Nam
Tính đến cuối năm 2024, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 684 nhãn hiệu chứng nhận, bao gồm cả nhãn hiệu chứng nhận của các doanh nghiệp, trung tâm, viện, trường. So sánh với thời điểm ngày 01/4/2023, có thêm 113 nhãn hiệu chứng nhận mới được cấp văn bằng bảo hộ (từ 571 lên thành 684 nhãn hiệu). Trong bài báo này, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá đối với các nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm, dịch vụ gắn với tên địa danh do các tổ chức thuộc tỉnh, thành phố quản lý. Căn cứ theo tiêu chí này, số lượng và chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đã được bảo hộ của Việt Nam được tổng hợp như bảng dưới.
Bảng 1. Cơ cấu chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận của Việt Nam (đến cuối năm 2024)
|
TT |
Tổ chức chủ sở hữu |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
1 |
UBND các cấp |
462 |
71,41 |
|
2 |
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (Sở, Chi cục, Trung tâm…) |
111 |
17,16 |
|
3 |
Cơ quan chuyên môn cấp huyện (Phòng, Trạm…) |
66 |
10,20 |
|
4 |
Tổ chức khác (Ban quản lý, Hội, Hiệp hội) |
8 |
1,24 |
|
|
Tổng cộng |
647 |
100 |
(Nguồn: Tổng hợp số liệu thu thập, 2025)
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận là tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Chính vì quy định này nên các tỉnh, thành phố thường lựa chọn các tổ chức chính quyền, cơ quan chuyên môn để đứng chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận. Kết quả tổng hợp trên cho thấy, Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã là tổ chức chủ sở hữu nhiều nhãn hiệu nhất, tiếp đến là các cơ quan cấp tỉnh và các cơ quan cấp huyện. Tỷ lệ chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp văn bằng do các tổ chức này đứng chủ sở hữu lần lượt chiếm 71,41%, 17,16% và 10,20%.
Các tỉnh có sản phẩm, dịch vụ đã được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận nhiều nhất là Kon Tum (40), Bình Định (35) và Đồng Tháp (34). Hai tỉnh mới có duy nhất một nhãn hiệu chứng nhận là Bình Phước và Đồng Nai. Còn lại 5 tỉnh chưa có nhãn hiệu chứng nhận là Điện Biên, Bắc Kạn, Hải Dương, Bình Dương và Bạc Liêu. Sản phẩm bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận đa dạng bao gồm từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, làng nghề, sản phẩm sơ chế/chế biến (các loại bánh, rượu, nước mắm…) đến con giống (Hàu giống Kim Sơn, tôm giống Ninh Thuận) và dịch vụ du lịch.
Tổng hợp thông tin thu thập tại một số tỉnh, thành phố cho thấy, số lượng nhãn hiệu chứng nhận đã tăng lên nhanh trong thời gian vừa qua. Việc xác định tên địa danh đăng ký bảo hộ thường dựa trên khu vực địa lý vùng sản xuất. Đối với các sản phẩm được sản xuất trên địa bàn của nhiều huyện, nhãn hiệu lấy tên địa danh tỉnh để đăng ký bảo hộ (sơn tra Sơn La, dệt thổ cẩm Kon Tum, sâm lai châu, phở khô Gia Lai, nghêu Cà Mau …). Đối với các sản phẩm được sản xuất trên địa bàn các xã trong huyện sẽ lấy tên địa danh huyện để bảo hộ (rau an toàn Mộc Châu, bí xanh Yên Thủy, dầu sở Bình Liêu, sầu riêng Di Linh, heo Mỏ Cày Nam…). Một số sản phẩm, dịch vụ được sản xuất, kinh doanh trên địa bàn xã sử dụng tên địa danh xã để đăng ký (bánh gai Đức Yên, thảo dược tắm Dao đỏ Tả Phìn, mía Hòa Bắc, tiêu Ba Lế…). Việc xác định tổ chức chủ sở hữu cũng được áp dụng khác nhau giữa mỗi tỉnh, thành phố. Tại tỉnh Sơn La, chủ sở hữu các nhãn hiệu chứng nhận là Sở Khoa học và Công nghệ hoặc Ủy ban nhân dân các huyện. Đa số các nhãn hiệu chứng nhận trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có chủ sở hữu là Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố. Ngược lại, tại tỉnh Đồng Tháp, hầu hết các nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp văn bằng do các Phòng (Kinh tế và Hạ tầng, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Văn hóa và Thông tin) đứng chủ sở hữu.
3.2. Thực trạng và một số khó khăn, hạn chế trong quản lý nhãn hiệu chứng nhận
Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức thế nào là quản lý nhãn hiệu chứng nhận. Nếu xét trên khía cạnh là tài sản thì quản lý nhãn hiệu cũng giống như quản lý tài sản, được hiểu như là việc trông coi và giữ gìn tài sản, bảo đảm cho tài sản không bị mất mát, hao hụt. Mặt khác nó là tài sản vô hình khác biệt vì càng sử dụng nhiều thì càng tạo thêm giá trị nên việc quản lý nó cũng đồng thời là quá trình thúc đẩy khai thác, sử dụng. Khác với tài sản vô hình thuộc sở hữu tư nhân, nhãn hiệu chứng nhận sau khi bảo hộ thành công thì tổ chức chủ sở hữu chỉ thực hiện chức năng quản lý mà không trực tiếp sử dụng, khai thác và thừa hưởng các giá trị kinh tế được tạo ra bởi nhãn hiệu. Để nhãn hiệu được khai thác, sử dụng, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ trao quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh có nhu cầu, đáp ứng các điều kiện sử dụng.
Hai yếu tố quyết định hiệu quả quản lý nhãn hiệu chứng nhận đó là chủ sở hữu thiết lập được bộ máy tổ chức quản lý chuyên nghiệp và ban hành, thực thi được các quy chế quản lý, kiểm soát phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của người sử dụng. Hai yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Chủ sở hữu trên cơ sở các mục tiêu đã xác định tác động đến đối tượng quản lý (nhãn hiệu và người sử dụng) bằng những quyết định của mình và thông qua hành vi của đối tượng quản lý - mối quan hệ ngược có thể giúp chủ thể quản lý có thể điều chỉnh các quy định đã ban hành. Từ kết quả thực tế cho thấy, việc quản lý nhãn hiệu chứng nhận tại các địa phương chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của hai yếu tố trên. Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận mang địa danh của Việt Nam được giao cho UBND hoặc cơ quan chuyên môn các cấp, Hội/Hiệp hội ngành nghề quản lý. Yêu cầu các công việc cụ thể để vận hành bộ máy quản lý nhãn hiệu gồm: (1) Xây dựng cơ cấu, tổ chức của bộ máy (các thành viên tham gia); (2) Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên trong quá trình thực hiện việc quản lý và kiểm soát sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; (3) Dự trù kinh phí và nguồn chi cho các hoạt động của bộ máy. Mặc dù các chủ sở hữu đều xác định (trong quy chế sử dụng) các tổ chức, cơ quan, bộ phận có quyền hạn, trách nhiệm trong quản lý, kiểm soát nhãn hiệu chứng nhận nhưng có thể thấy rằng vẫn chưa có bộ máy quản lý nhãn hiệu hình thành và hoạt động độc lập. Hoạt động quản lý, kiểm soát nhãn hiệu chứng nhận của mỗi đối tượng chủ sở hữu đang có những thuận lợi, khó khăn và hạn chế như sau:
Bảng 2. Thuận lợi, khó khăn, hạn chế của các đối tượng chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận
|
TT |
Chủ sở hữu |
Thuận lợi |
Khó khăn, hạn chế |
|
1 |
UBND các cấp |
- Tùy theo chức năng, nhiệm vụ, chủ sở hữu huy động các cơ quan chuyên môn trực thuộc tham gia bộ máy quản lý nhãn hiệu chứng nhận - Có đủ thẩm quyền phân bổ nguồn lực kinh phí vận hành bộ máy quản lý nhãn hiệu chứng nhận |
- Không có cán bộ chuyên trách thực hiện hoạt động quản lý, kiểm soát - Cán bộ có kinh nghiệm chuyển công tác, không tham gia quản lý nhãn hiệu - Cán bộ thiếu chuyên môn, kỹ năng quản lý, kiểm soát nhãn hiệu (Nhãn hiệu do UBND xã đứng chủ sở hữu) - Không xây dựng kế hoạch kinh phí cho hoạt động quản lý, kiểm soát hàng năm. - Sáp nhập địa giới hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến thay đổi khu vực địa lý vùng bảo hộ, chủ sở hữu, bộ máy quản lý chấm dứt hoạt động... |
|
2 |
Cơ quan chuyên môn các cấp |
- Đúng chức năng, chuyên môn - Cán bộ có kinh nghiệm, nắm được phương pháp quản lý, kiểm soát tương tự (sở hữu trí tuệ, kỹ thuật, an toàn thực phẩm) |
- Quản lý theo ngành dọc - Không quản lý được nhãn hiệu bảo hộ cho nhiều nhóm sản phẩm, dịch vụ khác nhau - Không bố trí được nguồn kinh phí triển khai các hoạt động quản lý, kiểm soát hàng năm |
|
3 |
Hội/Hiệp hội ngành nghề |
- Tập hợp được nguồn nhân lực có chuyên môn, kinh nghiệm - Đánh giá khách quan |
Chủ thể phải nộp phí sử dụng |
Sau khi sáp nhập địa giới hành chính và chấm dứt hoạt động của UBND cấp huyện, cơ cấu bộ máy, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan tham gia quản lý cũng thay đổi. Vì vậy, nhiều nhãn hiệu chứng nhận của Việt Nam cần thay đổi chủ sở hữu và xây dựng, ban hành lại quy chế sử dụng.
Để có thể thực hiện quản lý và kiểm soát sử dụng, tổ chức chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đã xây dựng và ban hành một số hoặc đầy đủ các công cụ khác nhau như: Quy chế sử dụng; Quy chế cấp và thu hồi quyền sử dụng; Quy chế kiểm soát; Quy chế sử dụng hệ thống nhận diện; Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật; Hệ thống sổ ghi chép/Cơ sở dữ liệu sử dụng... Tuy nhiên, việc ban hành và thực hiện các quy chế này còn gặp phải nhiều bất cập, khó khăn.
Thông qua áp dụng quy định cấp và thu hồi quyền sử dụng, chủ sở hữu tiến hành trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận cho tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh có nhu cầu, đáp ứng các điều kiện sử dụng. Tuy nhiên, ở một số địa phương, các quy định về đánh giá các điều kiện sử dụng, cấp phép sử dụng hoặc kiểm soát sử dụng được xem như một thủ tục hành chính vì đã quy định trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức. Nếu theo góc độ này thì quyết định ban hành quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận của UBND các cấp là không được phép (theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Thực chất, nhãn hiệu chứng nhận là một loại tài sản theo quy định của pháp luật dân sự cho nên nếu nhìn từ góc độ quản lý tài sản trong giao dịch dân sự thì quy chế sử dụng đơn thuần là văn bản quản lý tài sản của chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận. Một số chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận là UBND các cấp không nắm được quy định này nên không thể giải thích, không thực hiện quy chế đã ban hành, mong muốn được chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cho tổ chức khác.
Công cụ quan trọng nhất để chủ sở hữu căn cứ thực hiện quản lý nhãn hiệu, thúc đẩy việc sử dụng sau bảo hộ là quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Đây cũng là văn bản bắt buộc phải có trong hồ sơ nộp đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Theo quy định, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận bao gồm các nội dung chính như sau: Sản phẩm bảo hộ, tiêu chí chứng nhận, phương pháp đánh giá các tiêu chí, điều kiện sử dụng nhãn hiệu, chi phí sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Tuy vậy, việc quy định các nội dung này trong quy chế của nhiều nhãn hiệu chứng nhận cũng tồn tại nhiều hạn chế dẫn đến khó khăn trong quản lý và khai thác sau bảo hộ.
Bảng 3. Thực trạng, hạn chế và khó khăn trong quản lý, kiểm soát nhãn hiệu chứng nhận
|
TT |
Nội dung |
Thực trạng |
Hạn chế, khó khăn trong quản lý nhãn hiệu chứng nhận |
|
1 |
Sản phẩm bảo hộ |
- Chỉ lựa chọn một số nhóm sản phẩm để bảo hộ (ví dụ: bảo hộ quả táo mèo tươi, không bảo hộ sản phẩm táo mèo khô, dấm táo mèo, rượu táo mèo). - Bảo hộ thiếu nhóm sản phẩm (ví dụ: bảo hộ quả bưởi Diễn, không bảo hộ quả bưởi Đỏ) |
-Không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. - Người sử dụng sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm không được bảo hộ. |
|
2 |
Tiêu chí chứng nhận |
- Bộ tiêu chí chứng nhận bao gồm nhiều tiêu chí lý hóa, ítt tiêu chí cảm quan - Tiêu chí chứng nhận trùng với tiêu chí quản lý bắt buộc về an toàn vệ sinh thực phẩm |
- Tốn chi phí kiểm tra, đánh giá - Người tiêu dùng dựa vào tiêu chí cảm quan để lựa chọn sản phẩm, ít quan tâm đến tiêu chí lý hóa |
|
3 |
Phương pháp đánh giá tiêu chí |
- Phương pháp đánh giá theo TCVN - Không nêu phương pháp lấy mẫu đánh giá. |
- Tiêu chí đánh giá không có trong quy định của TCVN - Sai số giữa tiêu chí chứng nhận với kết quả đánh giá, kiểm nghiệm dẫn đến khó kiểm soát |
|
4 |
Điều kiện sử dụng |
- Quy định nhiều điều kiện sử dụng - Điều kiện sử dụng khắt khe, không tách biệt giữa giai đoạn tiền kiểm và hậu kiểm - Không có quy định trao quyền sử dụng cho người kinh doanh sản phẩm |
- Trao quyền sử dụng cho ít chủ thể - Số lượng chủ thể sử dụng nhãn hiệu không tăng lên sau bảo hộ - Người kinh doanh có nhu cầu nhưng không được sử dụng. |
|
5 |
Kinh phí sử dụng |
Có quy định nhưng chưa thu phí |
- Không có kinh phí phân tích, kiểm nghiệm, đánh giá, kiểm tra. - Xảy ra vi phạm sử dụng nhãn hiệu trên thị trường |
Những hạn chế trên xuất phát trước hết từ việc thiếu một phương pháp khoa học trong xây dựng hồ sơ đăng ký nhãn hiệu chứng nhận. Mặc dù, hoạt động khảo sát các chủ thể sản xuất, kinh doanh sản phẩm để xác định chủng loại sản phẩm đăng ký bảo hộ được thực hiện nhưng với quy mô hạn chế, số lượng chủ thể được khảo sát ít, không đại diện cho đầy đủ các nhóm sản phẩm cần bảo hộ. Việc xây dựng bộ tiêu chí chứng nhận còn dựa nhiều theo các ý kiến đóng góp, tham gia chủ quan của các chủ thể sản xuất trong khi đó, hoạt động khảo sát người tiêu dùng để lấy ý kiến đánh giá, xác định tiêu chí lựa chọn sản phẩm để làm căn cứ xây dựng tiêu chí chứng nhận bảo hộ không được thực hiện. Điều đó dẫn đến người kinh doanh không sử dụng các tiêu chí bảo hộ trong chiến lược quảng bá, truyền thông, giới thiệu nhận diện sản phẩm. Đối với các nhãn hiệu chứng nhận được cấp văn bằng bảo hộ trước khi Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN ngày 30/11/2023 có hiệu lực, tổ chức chủ sở hữu chưa đưa ra quy định cụ thể (trong quy chế sử dụng) về áp dụng phương pháp giao, thuê, ủy quyền, phối hợp với các tổ chức có chức năng kiểm nghiệm, phân tích, đánh giá độc lập trong lấy mẫu, kiểm tra, đánh giá các tiêu chí chứng nhận. Do thiếu nhân lực chuyên môn đồng thời chưa có cơ chế phối hợp với các tổ chức có chuyên môn tham gia đánh giá độc lập nên hoạt động đánh giá đáp ứng các tiêu chí chứng nhận của chủ sở hữu ít được thực hiện. Mặt khác, chủ sở hữu cũng chưa xác định được nguồn và định mức kinh phí nên mặc dù đã có quy chế kiểm soát nhưng không được áp dụng vào thực tế quản lý. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hầu hết chủ sở hữu cũng chưa tiến hành các hoạt động kiểm tra, đánh giá, kiểm soát sử dụng nhãn hiệu trên thị trường, không phát hiện được các vi phạm sử dụng.
Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý (tiếp nhận hồ sơ đề nghị sử dụng, quản lý chủ thể sử dụng, tình trạng vi phạm, xử lý vi phạm...) của nhiều chủ sở hữu cũng chưa thực hiện gây khó khăn cho nhiều chủ thể trong nộp hồ sơ, quản lý sử dụng, đặc biệt là các nhãn hiệu chứng nhận có chủ sở hữu là các cơ quan cấp tỉnh. Có thể thấy rằng, mô hình quản lý các nhãn hiệu chứng nhận hiện nay còn mang tính lý thuyết, chưa được áp dụng thực tế do thiếu nguồn lực bao gồm cả nhân lực, kỹ thuật và kinh phí vận hành.
3.3. Thực trạng và một số khó khăn, hạn chế trong khai thác, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận
Kết quả điều tra, khảo sát 480 chủ thể sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP và sản phẩm nông nghiệp tại 6 tỉnh Trung Bộ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp cho thấy, tỷ lệ chủ thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận tương đối thấp, chỉ chiếm 12% chủ thể được khảo sát.

Hình 1. Tỷ lệ chủ thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận
Có ba nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chủ thể không sử dụng nhãn hiệu chứng nhận là: (1) Thiếu thông tin của nhãn hiệu đặc biệt; (2) Chưa đáp ứng các điều kiện sử dụng; (3) Không có nhu cầu. Tỷ lệ chủ thể đưa ra ý kiến về các nguyên nhân này lần lượt chiếm 28,1%, 22,8% và 16,2% tổng số chủ thể điều tra. Sở dĩ có nhiều chủ thể thiếu thông tin về nhãn hiệu là do công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giới thiệu sau bảo hộ chưa được thực hiện nhiều. Chủ thể chưa hiểu rõ nhãn hiệu chứng nhận, nó khác gì với nhãn hiệu riêng, có được sử dụng đồng thời cả nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu riêng không? Khác với xu hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, nhiều quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đã ban hành quy định điều kiện sử dụng quá chặt chẽ cũng khiến cho tỷ lệ chủ thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận còn thấp.

Hình 2. Lý do chủ thể không sử dụng nhãn hiệu chứng nhận
Đối với các chủ thể có quyền (đã được trao quyền) sử dụng, các hình thức sử dụng phổ biến nhất là sử dụng nhãn hiệu chứng nhận trên bao bì, tem, nhãn sản phẩm; sử dụng trên biển hiệu, biển quảng cáo; sử dụng trên các nền tảng trực tuyến (zalo, facebook, tiktok, youtube…).

Hình 3. Các hình thức sử dụng nhãn hiệu chứng nhận của chủ thể
Kết quả trên cho thấy, chủ thể có quan tâm đến sử dụng nhãn hiệu chứng nhận sau khi được trao quyền. Với đa dạng hình thức sử dụng, chủ thể hướng đến mục tiêu cung cấp tối đa các thông tin, tăng cường sự nhận biết của khách hàng, người tiêu dùng đối với nhãn hiệu được bảo hộ để từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Đây cũng chính là mục tiêu quan trọng khi xây dựng nhãn hiệu chứng nhận của các địa phương.
Việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận trong phân phối, tiêu thụ sản phẩm đã giúp cho nhiều chủ thể tạo được uy tín, nhận được sự tin tưởng của khách hàng như các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất miến dong Bình Liêu, rau an toàn Mộc Châu, gạo chất lượng cao Bình Lục… Sản phẩm đã xây dựng được liên kết tiêu thụ bền vững với các đối tác tại thị trường Hà Nội. Giá bán sản phẩm và thu nhập của chủ thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận cũng cao hơn trên 5% khi so sánh với giá bán và thu nhập của các chủ thể không sử dụng. Điều đó cho thấy, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của chủ thể.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, nhiều chủ thể được trao quyền nhưng không tuân thủ đúng quy chế sử dụng do chủ sở hữu đã ban hành làm ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu chứng nhận. Trường hợp xảy ra tại một cơ sở sản xuất miến dong thu mua củ dong bên ngoài khu vực địa lý được bảo hộ về sản xuất miến dong mang nhãn hiệu chứng nhận “miến dong Bình Liêu” đã bị cơ quan quản lý thị trường của tỉnh Quảng Ninh phát hiện. Cơ sở này đã bị chủ sở hữu là UBND huyện Bình Liêu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng nhãn hiệu. Như vậy, để bảo vệ nhãn hiệu chứng nhận, không những chủ sở hữu cần triển khai các hoạt động kiểm tra, đánh giá theo quy chế đã ban hành mà còn cần có sự tham gia của người sử dụng thông qua áp dụng các biện pháp tự bảo vệ.

Hình 4. Áp dụng các biện pháp tự bảo vệ nhãn hiệu của chủ thể
Kết quả tổng hợp như hình trên cho thấy, tỷ lệ chủ thể không áp dụng và không biết biện pháp tự bảo vệ nhãn hiệu còn khá cao, chiếm trên 62% tổng số chủ thể được điều tra. Chiếm gần 30% chủ thể còn lại đang áp dụng biện pháp tự công bố về nhãn hiệu và quyền sử dụng trên các phương tiện thông tin, truyền thông hoặc giới thiệu thông tin đó trực tiếp cho khách hàng để tự bảo vệ.
Bên cạnh đó, do nhận thức chưa rõ và năng lực hạn chế của nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh dẫn đến việc khai thác nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ tại Việt Nam chưa hiệu quả. Hầu hết các chủ thể được lựa chọn để trao quyền sử dụng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các HTX, tổ hợp tác, hộ gia đình nông dân. Những chủ thể này có thể khai thác đồng thời cả nhãn hiệu sở hữu cá nhân (nhãn hiệu thông thường) hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận trong quảng bá, xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm. Nếu như việc khai thác nhãn hiệu cá nhân sẽ giúp bảo vệ và củng cố uy tín cho chủ thể và sản phẩm của chủ thể sở hữu thì việc sử dụng nhãn hiệu chung sẽ mang lại cho sản phẩm của chủ thể giá trị khác biệt và danh tiếng tốt hơn do nó được bảo hộ gắn với các tên địa danh của tỉnh, huyện. Tuy nhiên có nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh chưa nhận thấy lợi ích của việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Một số chủ thể còn e ngại sử dụng nhãn hiệu chứng nhận có thể làm giảm giá trị của nhãn hiệu cá nhân. Mặt khác các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về nhãn hiệu chứng nhận của cơ quan chủ sở hữu không thường xuyên nên chưa khuyến khích các chủ thể sử dụng.
Các tổ chức kinh tế hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong vận hành hoạt động, tổ chức đa dạng hóa hoạt động tạo thêm giá trị gia tăng, chủ trì xây dựng và điều phối chuỗi giá trị. Nguyên nhân là do lãnh đạo các tổ chức kinh tế còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm về xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng liên kết, hợp tác tiêu thụ các sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận. Yêu cầu kinh phí nâng cấp sản phẩm để đáp ứng các tiêu chí (bao bì, nhãn mác, truy xuất, phân tích kiểm nghiệm để công bố và kiểm soát chất lượng, quảng bá, xúc tiến thương mại…) lớn, vượt quá nguồn lực có thể huy động và khả năng đầu tư của chủ thể.
Nguồn vốn đầu tư hạn chế nên việc ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển vào sản xuất của chủ thể còn chưa thực sự đồng bộ trong cả sản xuất và thương mại sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận.
Sự liên kết theo chuỗi giá trị giữa các tác nhân sản xuất, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận còn lỏng lẻo. Một trong những lý do chủ đạo là do việc phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nói chung và sản phẩm được bảo hộ nói riêng là hoạt động phức tạp, có liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau và đòi hỏi các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị đó phối hợp, hợp tác cùng tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch nâng cấp, phát triển chuỗi giá trị. Các chủ thể sản xuất là tổ hợp tác, hộ gia đình và hợp tác xã được cấp quyền sử dụng chưa quen với việc sản xuất theo hợp đồng, tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn sản xuất hàng hóa, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà chưa thấy được lợi ích lâu dài về sản xuất, tiêu thụ ổn định. Trong khi đó, quá trình khai thác và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm được bảo hộ cần gắn với xây dựng chứng nhận chứng minh an toàn thực phẩm để tiêu thụ tại thị trường trong nước (cơ sở đủ điều kiện an toàn, VietGap, hữu cơ), hay xuất khẩu (mã vùng sản xuất, chứng nhận quốc tế, GlobalGap, hữu cơ). Đây là một trong những tiêu chí được quan tâm hàng đầu của đơn vị phân phối các sản phẩm và người tiêu dùng. Ngoài ra, tiếp cận phát triển chuỗi giá trị sản phẩm còn khá mới đối với nhiều tổ chức, cá nhân trong khi chưa có các hướng dẫn trực quan, sinh động và phù hợp với đặc điểm địa phương nên các địa phương còn lúng túng trong xây dựng nội dung và cách thức triển khai. Việc tiêu thụ các sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận còn phụ thuộc chặt chẽ vào các thu gom, thương lái địa phương.
Đối với người tiêu dùng, nhiều người ít có thông tin và chưa có hiểu biết đầy đủ về sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đây là tác nhân đóng vai trò quyết định đến sự phát triển thị trường tiêu thụ và thương hiệu sản phẩm. Có nhiều người biết đến sản phẩm, tin tưởng và tiêu dùng sản phẩm là một trong những mục tiêu quan trọng nhất để thu hút các chủ thể sản xuất tham gia vào chương trình bảo hộ sở hữu trí tuệ. Vì vậy, trong thời gian tới, hoạt động tuyên truyền giới thiệu về sản phẩm bảo hộ sở hữu trí tuệ cần được đẩy mạnh thực hiện.
3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận
a) Đánh giá kết quả và hiệu quả quản lý, khai thác các nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đã được các tỉnh thực hiện trong nhiều năm góp phần nâng cao số lượng nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả, hiệu quả quản lý, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ chưa được thực hiện. Mặt khác, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp trong thời gian tới sẽ chấm dứt hoạt động của nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận. Do đó, cần thiết phát tiến hành các hoạt động khảo sát, đánh giá để để kịp thời phát hiện các tồn tại, hạn chế cụ thể và đề xuất, thực hiện các giải pháp can thiệp trong quản lý, khai thác của từng nhãn hiệu đồng thời xác định tổ chức phù hợp nhận quyền sở hữu nhãn hiệu chứng nhận sau sáp nhập.
b) Ban hành cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý, phối hợp truyền thông, xúc tiến thương mại các sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận
Bên cạnh các chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, số lượng các sản phẩm được bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận của các tỉnh, thành phố không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, ở hầu hết các tỉnh, thành phố chưa có bộ máy tổ chức, bộ phận quản lý riêng các nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ. Chương trình phát triển tài sản trí tuệ trong giai đoạn vừa qua cũng tập trung nhiều vào khâu hỗ trợ đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu chứng nhận, chưa có cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực cụ thể để triển khai các hoạt động quản lý, khai thác, phát triển nhãn hiệu chứng nhận. Cơ chế phối hợp liên ngành (Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Môi trường, Công thương) cũng không đồng bộ, đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước. Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thì các tỉnh, thành phố cần xem xét ban hành cơ chế, chính sách và tổ chức bộ máy quản lý, phối hợp truyền thông, xúc tiến thương mại các sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận.
c) Giải pháp tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp văn bằng bảo hộ
Cơ quan chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận xây dựng và thực hiện kế kế hoạch kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu. Kế hoạch kiểm tra, kiểm soát có thể được tiến hành theo định kỳ hoặc đột xuất. Thông qua hoạt động này, chủ sở hữu xác định được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sử dụng đồng thời đánh giá được sự phù hợp của các quy định quản lý để kịp thời có các giải pháp cải thiện.
d) Giải pháp tăng cường trao quyền sử dụng và củng cố, tăng cường năng lực cho các tổ chức sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đã được bảo hộ
Hiệu quả nhãn hiệu có được phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực khai thác của chủ thể sản xuất, kinh doanh (Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình) khi được trao quyền sử dụng nhãn hiệu. Để nhãn hiệu được khai thác có hiệu quả và trở thành công cụ tiếp cận thị trường tiêu thụ thì cần tiến hành các hoạt động trao quyền sử dụng. Số lượng chủ thể được trao quyền sử dụng càng lớn thì nhãn hiệu càng được nhiều người tiêu dùng, thị trường tiêu thụ biết đến. Vì vậy, các cơ quan chủ sở hữu nhãn hiệu cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, khảo sát, xác định chủ thể có nhu cầu sử dụng để tiếp tục trao quyền. Đối với các chủ thể đã có quyền sử dụng cần được hỗ trợ tăng cường năng lực quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang nhãn hiệu. Trước tiên, cần hỗ trợ chủ thể tăng cường năng lực tổ chức, quản trị, vận hành hoạt động theo đúng các quy định của nhà nước (Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp). Tiếp đến, các chủ thể cần xây dựng và triển khai phương án sản xuất và kinh doanh sản phẩm mang nhãn hiệu, ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, bảo quản, chế biến đa dạng hóa sản phẩm.
e) Giải pháp tăng cường chuyển đổi số trong quản lý, khai thác nhãn hiệu được bảo bộ
- Xây dựng cơ sở dữ liệu chung, số hóa thông tin sản phẩm được bảo hộ, văn bản quản lý, chủ thể được trao quyền sử dụng, khu vực địa lý tương ứng với nhãn hiệu chứng nhận, bộ tiêu chí chứng nhận của sản phẩm.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong truyền thông, quản lý dữ liệu sản phẩm được bảo hộ, xây dựng và quản lý mã vùng sản xuất gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị.
IV. KẾT LUẬN
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ được thực hiện tại các tỉnh, thành phố trong giai đoạn vừa qua thúc đẩy gia tăng số lượng nhãn hiệu chứng nhận mang địa danh được cấp giấy chứng nhận đăng ký. Hầu hết chủ sở hữu các nhãn hiệu đã được bảo hộ đó do các cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn của nhà nước đảm nhận. Mặc dù các chủ sở hữu đã ban hành quy chế sử dụng và xác định mô hình quản lý sau bảo hộ nhưng còn mang tính lý thuyết, chưa áp dụng vào thực tiễn do thiếu nguồn lực thực hiện (con người, kỹ thuật, kinh phí). Ảnh hưởng của quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận chấm dứt hoạt động trong thời gian tới, thay đổi thông tin khu vực địa lý được bảo hộ nên cần có các hoạt động đánh giá, điều chỉnh theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ. Số lượng chủ thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ còn ít và không tăng lên theo thời gian. Hình thức sử dụng nhãn hiệu của chủ thể được trao quyền đa dạng và có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa nhiều. Nhiều chủ thể được trao quyền sử dụng nhưng có năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh hạn chế, gặp khó khăn trong xây dựng liên kết tiêu thụ sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận theo chuỗi giá trị cần tiếp tục được hỗ trợ, tăng cường năng lực trong thời gian tới. Để nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ cần thực hiện 05 nhóm giải pháp: (1) Đánh giá kết quả và hiệu quả quản lý, khai thác các nhãn hiệu chứng nhận sau bảo hộ; (2) Ban hành cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý, phối hợp truyền thông, xúc tiến thương mại các sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận; (3) Tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp văn bằng bảo hộ; (4) Tăng cường trao quyền sử dụng và củng cố, tăng cường năng lực cho các tổ chức sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đã được bảo hộ; (5) Tăng cường chuyển đổi số trong quản lý, khai thác nhãn hiệu được bảo bộ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cục Sở hữu trí tuệ, 2024. Danh sách các nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Báo An ninh Hải Phòng điện tử, 2017. Thu hồi nhãn hiệu "Miến dong Bình Liêu" với một cơ sở sản xuất vi phạm tại http://anhp.vn/thu-hoi-nhan-hieu-mien-dong-binh-lieu-voi-mot-co-so-san-xuat-vi-pham-d17069.html
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp, 2024. Báo cáo khảo sát thực trạng sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP và sản phẩm nông nghiệp của khu vực Trung Bộ