Một số kiến giải nhằm phát triển bền vững vùng cà phê Sơn La

Sơn La hiện có khoảng 24.300 ha cà phê, sản lượng năm 2025 ước đạt hơn 37.700 tấn; tăng hơn 36% về diện tích và hơn 41% về sản lượng so với năm 2021.

Sau gần 40 năm thăng trầm, nay cây cà phê đã được Sơn La xác định là cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao, mang lại thu nhập ổn định, xóa đói, giảm nghèo, hướng tới làm giàu cho hàng chục nghìn hộ nông dân. Sơn La đang không ngừng mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng cà phê nhân. Tập trung cao xây dựng các vùng cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ. Hiện nay tỉnh đã có 2 vùng cà phê ứng dụng công nghệ cao với diện tích hơn 1.040 ha, với sự tham gia của 1.560 hộ gia đình.

Sơn La đặt mục tiêu đến năm 2030, diện tích cà phê toàn tỉnh đạt khoảng 25.000 ha, sản lượng cà phê nhân đạt khoảng 40.000 tấn. Tỉnh sẽ thực hiện tái canh 9.800 ha, phát triển khoảng 5.950 ha cà phê đặc sản và xây dựng vùng nguyên liệu cà phê đạt các tiêu chuẩn bền vững trên diện tích khoảng 18.000 ha.

Trải qua những bước thăng trầm, sau hơn 100 năm cây cà phê đã có chỗ đứng trên đất Sơn la. Mục tiêu của tỉnh là khá mạnh mẽ và tỉnh cũng đã đề ra khá nhiều biện pháp để biến mục tiêu thành hiện thực.

Với giác độ cá nhân, cộng với chuyến đi thực tế vừa qua ở Chiềng Mung, Chiềng Mai, Chiềng Cơi tỉnh Sơn la đầu tháng 1/2026, xin được đề xuất thêm một số giải pháp, đặng góp phần vào phát triển bền vững của cây cà phê trên đất Sơn La.

1. Ưu thế nổi trội nhất làm cho cây cà phê có thể phát triển được trên cao nguyên Sơn La là khí hậu

Một đặc điểm nổi bật nhất của Sơn La là vào mùa Xuân, nhờ có dãy Hoàng Liên Sơn chắn bớt hơi nước từ Biển Đông thổi vào, nên các loại cây ăn quả nói chung và cây cà phê nói riêng thụ phấn khá tốt. Tuy vậy chỉ có cà phê chè Arabica giống Catimor là khá phù hợp với đất đai, khí hậu vùng cao nguyên Sơn La. Giống này có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh tốt, kích thước cây nhỏ, chiều cao thấp, cho phép trồng với mật độ dày đặc hơn, do đó cho năng suất cao hơn so với các loại cà phê khác. Nếu chế biến đúng phương pháp sẽ mang lại hương thơm hoa quả, vị thanh chua thanh thoát, nhẹ nhàng, đắng nhẹ rất được thị trường ưa chuộng. Sơn La cũng đã khảo nghiệm nhiều giống khác như: Cà phê Vối (Robusta), Cà phê Mít (Liberia), Robusta... nhưng không hợp.

Tuy nhiên cà phê chè Catimor cũng giới hạn, chỉ thích hợp trồng trên cao nguyên Sơn La. Chủ yếu ở vùng Mai Sơn (cũ), Thuận Châu (cũ), thành phố Sơn La (cũ), và một phần ở Yên châu (cũ), Sốp Cộp (cũ). Mặt khác trên cao nguyên này cũng có sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa cây cà phê và các loại cây ăn quả khác.

Và do cây cà phê catimor dễ sống, nên đồng bào các dân tộc trồng cả lên đỉnh đồi, đỉnh núi, trồng trên những triền đồi, triền núi rất dốc vốn được quy hoạch chỉ cho rừng tự nhiên hoặc rừng trồng. Những vườn cà phê này thường rất kém phát triển do lớp màu mỡ bị trôi rửa. Đồng thời những vườn trồng trên các triền đất dốc hầu như không trồng hỗn giao với các loài cây ăn quả, không trồng các loài cây làm băng chống xói mòn, những mảnh được đào hố, bón lót thì lại được cày cuốc sâu tạo nên lớp đất mặt tơi xốp. Do đó khi có mưa là sảy ra các trận sạt lở đất đá từ trên đồi xuống các bản làng, các công trình bên dưới, ra các suối, ra sông. Nếu có dịp chúng ta hãy lên quan sát xung quanh hồ Bản Mòng Chiềng Cơi, vùng cà phê Chiềng Mai, Chiềng Mung sẽ thấy khá rõ. Những rừng cây bụi, cây trẩu, rừng thông, rừng đầu nguồn và cả những đỉnh đồi, những ngọn núi có độ dốc khá cao, theo quy hoạch chỉ để dành cho phát triển rừng đang bị cây cà phê lấn chiếm.

Những trận lũ ống, lũ quét thường xuyên sảy ra ở Sơn La những năm gần đây đã chứng minh điều đó. Như trận lũ 24 - 27/7/2024 và gần nhất là trận lũ tháng 8, tháng 10 năm 2025 đã gây ra thiệt hại rất to lớn về người và của cho nhân dân.

Tuy nhiên đây không chỉ là hậu quả của mỗi cây cà phê, mà là nhiều cây trồng khác trên đất dốc. Việc canh tác trên đất dốc là tất yếu đối với Sơn la và các tỉnh Miền Núi, do đó chúng ta phải có các biện pháp cơ bản để giảm thiểu quy mô, mức độ của các trận lũ ống, lũ quét, giảm thiểu tác hại của chúng đối với đời sống của nhân dân. Bộ Nông nghiệp xưa đã có quyết định cho một số cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày vào tập đoàn cây trồng rừng. Nhưng theo tôi cần phải xem lại phương pháp canh tác các loại cây này, nếu cứ cày, cuốc sâu lên để chăm sóc cây thì lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá sẽ ngày càng tăng lên, tác dụng phòng hộ của chúng sẽ ngược lại. Ngày xưa đồng bào các dân tộc Miền Núi đã có rất nhiều biện pháp canh tác trên đất dốc rất hiệu quả, có những luật của bản, của mường về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống, nhưng nay đã không được áp dụng, chúng ta chạy theo hiệu quả kinh tế, xóa đói, giảm nghèo một cách đơn thuần.

Chúng ta đều biết rằng các sản phẩm hàng hóa có xuất xứ từ phá rừng đều sẽ không được nhập khẩu vào Liên minh châu Âu (EU) và các thị trường cao cấp, vậy các sản phẩm của đồng bào trồng trên đất rừng không chỉ riêng cà phê mà còn rất nhiều sản phầm khác như xoài, nhãn, cao su. ...sẽ ra sao? Và suy rộng ra công cuộc xóa đói giảm nghèo đối với vùng Miền Núi sẽ như thế nào?

Do đó, theo tôi Bộ Nông Nghiệp và Tài nguyên Môi trường nên chủ trì phối hợp với UBND các tỉnh Miền Núi giao cho các nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà dân tộc học nghiên cứu các biện pháp bảo tồn thiên nhiên, canh tác bền vững trên đất dốc từ xưa của đồng bào, trên cơ sở các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện nay để đề xuất các giải pháp phù hợp.

2. Vấn đề sơ chế quả cà phê và ô nhiễm môi trường: Đây là vấn đề nhức nhối nhiều năm nay của ngành cà phê Sơn La. Có năm còn phải đóng cửa Nhà máy nước của thành phố Sơn La vài ngày để sử lý ô nhiễm do chế biến cà phê. Năm 2025 mặc dù UBND tỉnh và các ngành chức năng, UBND các xã đã tăng cường nhiều biện pháp sử lý, nhưng ô nhiễm môi trường vẫn trầm trọng.  

Các cơ sở sơ chế cà phê tươi, có hệ thống sử lý môi trường tốt đủ công xuất để chế biến toàn bộ cà phê tươi của tỉnh. Nhưng các hộ gia đình, kể cả đã có hợp đồng với các cơ sở chế biến này, nhưng vẫn tự tổ chức chế biến vì lợi nhuận hoặc bán cho các lái buôn để trốn trả nợ ứng trước.

Theo phản ảnh của nhân dân tại các xã, phường như Chiềng Mai, Chiềng Mung, Chiềng Sinh, nước thải từ hoạt động sơ chế cà phê trên địa bàn đã khiến các dòng suối ở đây trở nên đen ngòm và bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Mặc dù vậy người dân vẫn phải dùng nước để tưới cây, rau xanh và cho gia súc uống.

Lúa và hoa màu giảm năng suất rõ rệt, cá thì chết, rau xanh, hoa quả, rau xanh thì bị ô nhiễm.... Người dân đi gặt lúa hoặc tưới cây, tưới rau phải mặc bảo hộ kín mít vì nước thải không chỉ có mùi hắc rất khó chịu mà còn gây lở loét da nếu chẳng may dính vào người. Còn người tiêu dùng khi sử dụng những sản phẩm bị ô nhiễm này liệu có đảm bảo không?

3. Một vấn đề nhức nhối nhất, không chỉ đối với cây cà phê, đó là vấn đề sử dụng thuốc trừ sâu, các loại phân bón không đúng quy trình. Đặc biệt là sử dụng thuốc diệt cỏ hóa học. Khi mưa, nước của các loại thuốc trừ sâu, đặc biệt là thuốc diệt cỏ ngấm xuống đất, hòa vào nguồn nước chảy về các khu dân cư. Hòa vào Sông Đà, vào các nhà máy lọc nước cho nhân dân thành phố Sơn La (cũ), thành phố Hòa Bình (cũ), thành phố Hà Nội. Người dân sử dụng nguồn nước ấy, tưởng chừng đã sạch, cho sinh hoạt hàng ngày, như: ăn uống, tắm giặt, nấu nướng. Chất độc cứ thế ngấm vào cơ thể com người. Điều đó cũng lý giải vì sao các căn bệnh ung thư, u bướu, bệnh thần kinh gia tăng bất thường. Nhiều gia đình tan nát vì mất người thân, hoặc sống trong đau khổ với những căn bệnh hiểm nghèo. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang tự đầu độc chính mình mình và các thế hệ con cháu.

4. Một số kiến giải để cây cà phê phát triển bền vững ở Sơn La

 4.1. Kiên quyết thực hiện theo mô hình Nông – Lâm kết hợp: mô hình VAC (vườn – ao – chuồng), VACR (vườn – ao – chuồng – rừng):  

Tỉnh cần có chính sách hỗ trợ người trồng cà phê xây dựng ao, bể chứa nước để tưới ẩm cho cây cà phê. Kiên quyết yêu cầu các chủ trang trại phải trồng cây ăn quả, băng chống xói mòn bằng cỏ voi, để phòng chống thiên tai cho cây cà phê theo mô hình Nông – Lâm kết hợp. Và phòng khi giá cà phê xuống thấp thì vẫn có khoản thu khác bù lại. Đây là vấn đề bảo vệ môi trường sống, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa các dân tộc thiểu số. Đây cũng là “chìa khóa” để xuất khẩu, đặc biệt là sang Châu Âu.

4.2.Có chính sách thực hiện sản xuất theo chuỗi giá trị:

Cần phải có chính sách để gắn các chủ trang trại với các nhà máy chế biến sâu, hiện đại, gắn với các cơ sở nghiên khoa học, các nhà khoa học, các HTX dịch vụ. Trên cơ sở liên kết: Doanh nghiệp “đầu tầu” với HTX dịch vụ, các cơ sở khoa học, các nhà khoa học, các chủ trang trại với nhau thì mới có thể giải quyết được vấn đề nâng cao chất lượng cà phê, sử lý ô nhiễm môi trường, tái canh cây cà phê, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh cà phê... Nhà nước giữ vai trò: Định hướng phát triển, quy hoạch, cơ chế, chính sách hỗ trợ, sử lý các vi phạm hợp đồng, vi phạm môi trường cảnh quan...Phải có chính sách gắn kết trường Đại học Tây Bắc, trường cao đẳng Nông Lâm nghiệp và các trường đại học, viện nghiên cứu với các chuỗi giá trị: Đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật, nghiên cứu sản xuất, khảo nghiệm giống mới, thực nghiệm các mô hình kinh tế ( kinh tế tuần hoàn, kinh tế hữu cơ, kết hợp cây dược liệu, cây ăn quả với vườn cà phê,...). Các doanh nghiệp, HTX, chủ trang trại cần phải cấp học bổng cho sinh viên, hợp đồng với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu.

Việc chuyển từ phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, bao cấp của thiên nhiên và Nhà nước sang sản xuất hàng hóa hiện đại là một bước tiến đại nhảy vọt. Đối với bà con nông dân, nhất là nhân dân các dân tộc thiểu số việc đổi mới cách nghĩ, cách làm không thể dễ ràng. Chỉ có tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị thì mới giúp được bà con.

4.3. Có chính sách khuyến nông, khuyến công phù hợp:

Cán bộ khuyến nông có nhiệm vụ: yêu cầu, hướng dẫn và giám sát các chủ trai trại, các HTX thực hiện theo đúng yêu cầu của Tỉnh về định hướng, quy hoạch phát triển; đảm bảo nâng cao chất lượng cà phê Sơn La, đặc biệt là giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hái, trồng mới, tái canh phải đúng quy trình; đảm bảo gìn giữ, bảo vệ môi trường, đặc biệt thực hiện hỗn canh cây cà phê với cây ăn quả, cây dược liệu, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Cần quy định rõ quyền hạn, lợi ích và trách nhiệm của cán bộ khuyến nông Nhà nước, khuyến nông doanh nghiệp, HTX.

4.4. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng vùng cây cà phê. Kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch vùng cà phê, gắn với du lịch sinh thái, du lịch văn hóa các dân tộc.

Xây dựng hạ tầng giao thông vùng chuyên canh cây cà phê: đường vận chuyển, đường phục vụ cho du lịch, cho dân sinh theo phương thức “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”. Nhà nước đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông chính, các hồ chứa nước lớn vùng trồng cà phê.

4.5. Xây dựng các điểm du lịch cà phê gắn với văn hóa các dân tộc.

Vận động các doanh nghiệp và các chủ trang trại, các HTX xây dựng các điểm thăm quan: trồng, thu hoạch, chế biến, dùng thử các sản phẩm từ cà phê Sơn La. Mỗi điểm du lịch gắn với bản sắc văn hóa một dân tộc tạo thành chuỗi du lịch. Gắn các tour du lịch vùng cà phê với các tour du lịch khác.

Các điểm này sẽ chứng minh cho thương hiệu cà phê Sơn La, minh chứng cho sự bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa của các dân tộc, chìa khóa để đưa cà phê Sơn La vào các thị trường có yêu cầu cao về môi trường sinh thái... Các điểm du lịch này cũng là minh chứng cho đại đoàn kết giữa các dân tộc trên đất Sơn La.

Trên đây chỉ là một số giải pháp bổ xung hoặc làm rõ thêm các giải pháp mà tỉnh Sơn La đang áp dụng, rất mong tỉnh có những cuộc nghiên cứu, tổng kết đánh giá chuyên sâu về ngành cà phê Sơn La nói riêng và canh tác trên đất dốc nói chung nhằm làm cho cây cà phê và các cây trồng trên đất dốc của Sơn La phát triển bền vững.