Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón, sơ chế biến dược liệu đến năng suất và chất lượng của cây kim ngân (Lonicera japonica Thunb.)

Nghiên cứu được thực hiện tại Gia Lai nhằm mục đích xác định lượng phân bón phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây Kim ngân. Lượng phân 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 300 kg NPK (12:3:5), phù hợp cho mục tiêu đạt năng suất cao, sinh trưởng mạnh và chất lượng dược liệu tốt. Thu hoạch Kim ngân sau 240 ngày trồng. Kim ngân cuộng được thu hoạch, làm khô bằng máy sấy bơm nhiệt nhiệt độ khoảng 40oC, sấy đến độ ẩm an toàn không lớn hơn 13% và bảo quản trong bao bì PE dày 0,01mm và hộp carton. Thời điểm thu hái dược liệu Kim ngân hoa thích hợp là khi hoa nụ trắng và có tỷ lệ hoa nở <10%. Hàm lượng hoạt chất đạt so với Dược Điển Việt Nam V (2017) quy định.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Kim ngân có tên khoa học (Lonicera japonica Thunb.) thuộc họ Cơm cháy (Caprifoliaceae). Còn có tên khác: Dây nhẫn đông, Kim ngân nhật (Viện Dược liệu, 2016). Cây phân bố khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Viện Y học cổ truyền Quân đội đã nghiên cứu trồng Kim ngân tại Ba Vì, Hà Nội với lượng phân bón 15 tấn/ha phân chuồng hoai mục; 1 tấn/ha phân NPK và 4,5 tấn/ha phân vi sinh kết hợp với NPK tỷ lệ 17 - 12 - 7 với lượng 300 kg để bón bổ sung cho cây Kim ngân sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao (Viện Y học cổ truyền Quân đội, 2016).Trong các yếu tố kỹ thuật, lượng phân bón đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sinh trưởng, phát triển và tăng năng suất của cây. Việc áp dụng mức bón phân hợp lý giúp tối ưu hóa khả năng hấp thu dinh dưỡng, cải thiện sinh khối hoa và thân, lá đồng thời nâng cao hàm lượng các hoạt chất có giá trị dược lý. Bên cạnh đó, quy trình sơ chế - bao gồm thu hái, làm sạch, sấy và bảo quản - là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng cuối cùng của dược liệu, ảnh hưởng đến màu sắc, độ ẩm, mùi vị và đặc biệt là hàm lượng hoạt chất sinh học. Nghiên cứu “Ảnh hưởng của lượng phân bón, sơ chế biến dược liệu đến năng suất và chất lượng của cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.)” được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các mức phân bón khác nhau và các phương pháp sơ chế tới năng suất cũng như chất lượng dược liệu Kim ngân trồng tại Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất và chế biến Kim ngân, nâng cao hiệu quả canh tác và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường dược liệu trong nước và quốc tế.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nguồn gen hom giống Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) trên các cây mẹ đang lưu giữ tại mô hình trồng của Viện YHCT Quân đội.

  - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2023 - 11/2025.

- Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Gia Lai.

2.2. Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón trồng đến sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất của Kim ngân.

- Nghiên cứu một số biện pháp sơ chế biến và bảo quản dược liệu Kim ngân

2.2. Phương pháp nghiên cứu

            - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón trồng đến sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất của Kim ngân.

Ø  Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lót khác nhau đến năng suất Kim ngân.

CT1: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha

CT2: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha  + phân NPK 1 tấn/ha

CT3: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha + phân NPK 1 tấn/ha + phân vi sinh 1 tấn/ha.

Thí nghiệm một nhân tố, được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m2

Mật độ trồng: 12.500 cây/ha. Thời gian trồng: tháng 8.

Ø  Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất cây Kim ngân.

CT1:15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 200 kg NPK (12:3:5)

CT2: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 300 kg NPK (12:3:5)

CT3: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 400 kg NPK (12:3:5)

Thí nghiệm một nhân tố, được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m2.

Mật độ trồng: 12.500 cây/ha. Thời gian trồng: tháng 8.

- Thí nghiệm: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng dược liệu Kim ngân cuộng

Thí nghiệm được bố trí gồm 3 công thức

CT1.1: thu hoạch sau 210 ngày sau khi trồng (đ/c)

CT1.2: thu hoạch sau 240 ngày sau khi trồng

CT1.3: thu hoạch sau 270 ngày sau khi trồng

Sau khi Kim ngân cuộng (gồm thân, lá Kim ngân) được thu hoạch ở các thời điểm thu hái khác nhau: 210 ngày, 240 ngày, 270 ngày sau khi trồng, tiến hành lựa chọn và phân loại tiến hành rửa sạch: sau đó tiến hành làm khô máy sấy bơm nhiệt ở cùng nhiệt độ (40oC) đến cùng độ ẩm thích hợp (≤ 13% ẩm), sau đó bao gói bằng bao bì PE dày 0,01mm, ở nhiệt độ phòng. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên; Mỗi công thức thí nghiệm được nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 10 kg dược liệu tươi. Chỉ tiêu theo dõi: độ ẩm, tro toàn phần, chỉ tiêu cảm quan, và tỷ lệ tươi/khô, hoạt chất chính

- Thí nghiệm: Ảnh hưởng của sơ chế sau thu hoạch đến chất lượng dược liệu Kim ngân cuộng

Thí nghiệm được bố trí gồm 3 công thức:

CT1.4: Phơi khô (đ/c) (Kim ngân cuộng)

CT1.5: Sấy bơm nhiệt ở nhiệt độ 400C (Kim ngân cuộng)

CT1.6: Sấy nhiệt ở nhiệt độ 500C (Kim ngân cuộng)

Sau khi chọn đúng thời điểm thu hái Kim ngân cuộng tiến hành sơ chế và làm khô theo các công thức trên. Mỗi lần nhắc lại 10 kg dược liệu tươi (cuộng), Kim ngân cuộng được thu hoạch theo đúng độ già thu hái, rửa sạch, tiến hành sấy ở các nhiệt độ khác nhau đến khi đạt độ ẩm ≤ 13%, sau đó bao gói bằng bao bì PE dày 0.01mm nhiệt độ phòng, 2 tháng kiểm tra 1 lần và đánh giá các chỉ tiêu theo dõi: độ ẩm, tro toàn phần, chỉ tiêu cảm quan.

- Thí nghiệm: Nghiên cứu thời điểm thu hoạch đến chất lượng dược liệu Kim ngân hoa

Thí nghiệm được bố trí gồm 3 công thức

CT1.7: nụ xanh

CT1.8: nụ trắng

CT1.9: hoa nở hoàn toàn

Sau khi Kim ngân hoa được thu hoạch ở các thời điểm thu hái khác nhau: nụ xanh, nụ trắng (có 10% hoa nở cánh), 100% hoa nở, tiến hành lựa chọn và phân loại hoa: sau đó làm khô ở cùng nhiệt độ (40oC) đến cùng độ ẩm thích hợp (≤ 12% ẩm). Thí nghiệm gồm 3 công thức, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên; Mỗi công thức thí nghiệm được nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 0,1kg dược liệu khô, sau đó bao gói bằng bao bì PE dày 0,01mm ở nhiệt độ phòng, Chỉ tiêu theo dõi: độ ẩm, tro toàn phần, chỉ tiêu cảm quan, tỷ lệ tươi khô.

2.3. Chỉ tiêu theo dõi

* Các chỉ tiêu theo dõi sinh trưởng

- Tỷ lệ sống (%): (Tổng số cây trồng/ Tổng số cây còn sống) x 100.

- Chiều cao cây (cm): Đo từ vị trí gốc thân tới vuốt lá ngọn. Sử dụng thước mét (thước thẳng hoặc thước dây).

- Đường kính thân (cm): Đo cách gốc 1 cm, sử dụng thước panme.

- Phương pháp lấy mẫu: theo Dược điển Việt Nam V (2017)

- Độ ẩm: Thử theo Dược điển Việt Nam V (2017).

- Tro toàn phần: Thử theo Dược điển Việt Nam V (2017).

- Chỉ tiêu cảm quan: trạng thái, màu sắc sản phẩm của dược liệu qua mô tả quan sát hiện trạng

- Tỷ lệ tươi/khô: được tính bằng lượng tươi/lượng hoa khô ngay sau thu hoạch

- Phân tích hoạt chất: định lượng loganin và acid clorogenic theo dược điển Việt Nam V, 2017.

2.4. Xử lý số liệu

         Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm Excel 2010 và IRRISTAT 5.0 (Phạm Chí Thành, 2002).

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón trồng đến sinh trưởng, năng suất và hàm lượng hoạt chất của Kim ngân.

3.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lót khác nhau đến năng suất Kim ngân.

a. Ảnh hưởng của các loại phân bón lót đến sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân

Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các loại phân bón lót đến sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân được ghi lại trong bảng 3.1.

Bảng 3.1. Ảnh hưởng của các loại phân bón lót đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân

Công thức

Tỷ lệ sống (%)

Chiều dài thân chính (cm)

Số cành cấp 1

(cành)

Thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày)

Thời gian từ trồng đến ra hoa rộ

(ngày)

Thời gian hoa tàn

(ngày)

CT1

91,6

151,3

12,8

135

178

213

CT2 (Đ/c)

92,5

162,8

14,7

135

179

214

CT3

92,6

175,4

15,3

132

175

210

LSD0,05

-

11,27

1,36

6,52

4,31

3,99

CV%

-

3,5

4,8

2,4

1,2

0,9

Ghi chú: CT1: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha

CT2: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha  + phân NPK 1 tấn/ha

CT3: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha + phân NPK 1 tấn/ha + phân vi sinh 1 tấn/ha

Tỷ lệ sống của cây kim ngân ở cả ba công thức đều đạt mức cao, dao động từ 91,6% đến 92,6%. Trong đó, công thức CT3 đạt tỷ lệ sống cao nhất (92,6%), nhỉnh hơn so với CT2 (92,5%) và CT1 (91,6%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Về chỉ tiêu chiều dài thân chính, CT3 thể hiện hiệu quả vượt trội khi đạt giá trị trung bình 175,4 cm, cao hơn rõ rệt so với CT2 (162,8 cm) và CT1 (151,3 cm). Sự khác biệt giữa CT3 với các công thức còn lại có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%. Điều này cho thấy việc bổ sung phân vi sinh kết hợp với phân NPK và phân chuồng hoai mục có tác dụng rõ rệt trong việc thúc đẩy sinh trưởng thân cây Kim ngân.

Tương tự, số cành cấp 1 ở CT3 đạt cao nhất (15,3 cành), vượt trội so với CT2 (14,7 cành) và đặc biệt là CT1 (12,8 cành). Chênh lệch này cũng có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%, khẳng định hiệu quả tích cực của việc kết hợp phân NPK và phân vi sinh trong việc kích thích sự phát triển phân cành của cây Kim ngân.

Đối với thời gian ra hoa, CT3 cho kết quả rút ngắn hơn 3 ngày so với CT1 và CT2. Tuy nhiên, mức chênh lệch này nhỏ chưa đủ để khẳng định có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tương tự, thời gian hoa tàn ở các công thức không có sự khác biệt rõ rệt về mặt thống kê.

Như vậy, công thức CT3 (phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha + NPK 1 tấn/ha + phân vi sinh 1 tấn/ha) cho hiệu quả cao nhất về sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân, đặc biệt ở các chỉ tiêu chiều dài thân chính và số cành cấp 1. Việc bổ sung đồng thời phân NPK và phân vi sinh vào bón lót không những nâng cao năng suất sinh trưởng mà còn góp phần rút ngắn thời gian ra hoa, từ đó cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sản xuất thực tiễn.

b.  Ảnh hưởng của các loại phân bón lót đến năng suất Kim ngân

Bảng 3.2. Ảnh hưởng của các loại phân bón lót đến năng suất Kim ngân

Công thức

Năm đầu

 

Năm thứ 2

 

 

 

 

Năng suất thân lá tươi/ha (tấn/ha)

NS thân lá khô/ha (tấn/ha)

Năng suất thân lá tươi/ha (tấn/ha)

NS thân lá khô/ha (tấn/ha)

NS hoa tươi/ha (tấn/ha)

NS hoa khô/ha (tấn/ha)

CT1

18,7

3,46

22,6

4,27

2,32

0,43

CT2 (Đ/c)

19,8

3,72

24,2

4,59

2,76

0,51

CT3

20,1

3,8

25,7

4,85

2,91

0,54

LSD0,05

3,02

0,46

2,23

0,443

0,413

0,069

CV%

7,8

6,3

4,6

4,8

7,8

7,0

Ghi chú: CT1: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha

CT2: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha  + phân NPK 1 tấn/ha

CT3: Phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha + phân NPK 1 tấn/ha + phân vi sinh 1 tấn/ha

Các công thức bón phân lót khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất của cây Kim ngân, bao gồm cả năng suất thân lá và hoa, ở dạng tươi và khô. Nhìn chung, năng suất có xu hướng tăng dần theo mức độ bổ sung phân bón, trong đó công thức CT3 (phân chuồng hoai mục 15 tấn/ha + phân NPK 1 tấn/ha + phân vi sinh 1 tấn/ha) cho kết quả cao nhất ở tất cả các chỉ tiêu.

Năm đầu: Năng suất thân lá tươi dao động từ 18,7 tấn/ha (CT1) đến 20,1 tấn/ha (CT3). Mặc dù có xu hướng tăng theo mức độ bón phân, sự khác biệt về năng suất thân lá tươi không có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%. Năng suất thân lá khô có giá trị từ 3,46 tấn/ha (CT1) đến 3,80 tấn/ha (CT3). Sự gia tăng giữa các công thức là không đáng kể và cũng không có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.

Sang năm thứ hai, năng suất thân lá có sự khác biệt rõ ràng hơn, khi CT3 đạt năng suất thân lá tươi và khô cao nhất với 25,7 tấn/ha và 4,85 tấn/ha, vượt trội so với CT1 (22,6 tấn/ha và 4,27 tấn/ha). CT2 đứng giữa, với năng suất thân lá tươi 24,2 tấn/ha và thân lá khô 4,59 tấn/ha. Sự khác nhau về năng suất giữa CT1 và Ct3 có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%.

Đối với năng suất hoa tươi, CT1 đạt 2,32 tấn/ha, CT2 là 2,76 tấn/ha, và CT3 đạt cao nhất với 2,91 tấn/ha. Chênh lệch giữa CT3 và CT1 có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%. Điều này chứng minh rằng việc kết hợp phân NPK và phân vi sinh trong công thức CT3 có hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao năng suất hoa tươi.

Tương tự, năng suất hoa khô cũng tăng theo xu hướng bón phân, với CT1 đạt 0,43 tấn/ha và CT3 đạt 0,54 tấn/ha. Mức chênh lệch giữa các công thức có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.

Có thể nhận thấy việc bổ sung phân NPK và phân vi sinh cùng với phân chuồng hoai mục (CT3) làm tăng năng suất thân lá và hoa của cây Kim ngân đáng kể so với chỉ dùng phân chuồng (CT1) hoặc phân chuồng kết hợp phân NPK (CT2). Điều này cho thấy sự phối hợp các loại phân bón lót hữu cơ và vô cơ giúp cải thiện điều kiện dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân. Do đó, khuyến cáo sử dụng kết hợp phân chuồng hoai mục, phân NPK và phân vi sinh trong kỹ thuật bón lót để nâng cao năng suất Kim ngân trong điều kiện tương tự khảo nghiệm.

3.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất cây Kim ngân

a. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân

Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và phát triển của cây Kim ngân

Công thức

Tỷ lệ sống (%)

Chiều dài thân chính (cm)

Số cành cấp 1

(cành)

Thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày)

Thời gian từ trồng đến ra hoa rộ

(ngày)

Thời gian hoa tàn

(ngày)

CT1

92,3

161,3

15,1

132

175

210

CT2 (Đ/c)

91,9

166,9

15,8

132

175

210

CT3

92,1

170,4

15,1

132

175

210

LSD0,05

-

9,15

1,25

3,82

4,89

5,20

CV%

-

2,8

4,1

1,5

1,4

1,2

Ghi chú: CT1:15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 200 kg NPK (12:3:5)

CT2: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 300 kg NPK (12:3:5)

CT3: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 400 kg NPK (12:3:5)

Việc điều chỉnh liều lượng phân bón, cụ thể là tăng lượng phân NPK từ 200 kg/ha lên 400 kg/ha trong khi giữ nguyên lượng phân chuồng (15 tấn/ha) và phân vi sinh (5 tấn/ha), có ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng của cây Kim ngân, song không tác động rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh học khác như tỷ lệ sống, thời gian ra hoa và thời gian hoa tàn.

Chiều dài thân chính có xu hướng tăng tương ứng với mức phân NPK được bổ sung, lần lượt đạt 161,3 cm (CT1), 166,9 cm (CT2) và 170,4 cm (CT3), mức tăng này là không đáng kể về mặt thống kê, cho thấy ảnh hưởng của việc tăng liều lượng NPK đến chiều dài thân chính là không rõ rệt.

Số cành cấp 1 dao động từ 15,1 cành (CT1 và CT3) đến 15,8 cành (CT2). Dù CT2 đạt giá trị cao nhất, nhưng sự chênh lệch giữa các công thức không có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%. Như vậy, việc tăng lượng phân NPK trong phạm vi khảo sát không cải thiện rõ rệt khả năng phân cành cấp 1.

Các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng sinh thực, bao gồm thời gian từ trồng đến ra hoa (132 ngày), ra hoa rộ (175 ngày) và thời gian hoa tàn (210 ngày), đều giữ nguyên ở cả ba công thức. Điều này cho thấy liều lượng NPK trong khoảng khảo sát không ảnh hưởng đến quá trình chuyển sang giai đoạn sinh sản của cây Kim ngân.

Tóm lại, việc tăng liều lượng phân NPK từ 200 kg/ha lên 400 kg/ha, trong điều kiện phối hợp với lượng phân chuồng và phân vi sinh không đổi, chỉ cải thiện nhẹ chiều dài thân chính và không làm thay đổi đáng kể các chỉ tiêu sinh học khác như số cành cấp 1, thời gian ra hoa hay hoa tàn. Do đó, mức bón 300 kg NPK/ha (CT2) được xem là lựa chọn hợp lý, giúp tối ưu hiệu quả sinh trưởng trong khi vẫn đảm bảo sử dụng phân bón tiết kiệm và kinh tế hơn so với mức 400 kg/ha.

b.  Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất Kim ngân

Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất Kim ngân

Công thức

Năm đầu

 

Năm thứ 2

 

 

 

 

Năng suất thân lá tươi/ha (tấn/ha)

NS thân lá khô/ha (tấn/ha)

Năng suất thân lá tươi/ha (tấn/ha)

NS thân lá khô/ha (tấn/ha)

NS hoa tươi/ha (tấn/ha)

NS hoa khô/ha (tấn/ha)

CT1

17,7

3,24

21,4

4,07

2,52

0,46

CT2 (Đ/c)

18,2

3,36

22,2

5,21

2,76

0,5

CT3

19,8

3,69

24,4

4,62

2,81

0,52

LSD0,05

1,74

0,320

2,46

0,547

0,211

0,040

CV%

4,7

4,7

5,4

5,9

3,9

4,1

Ghi chú: CT1:15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 200 kg NPK (12:3:5)

CT2: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 300 kg NPK (12:3:5)

CT3: 15 tấn phân chuồng: 5 tấn phân vi sinh: 400 kg NPK (12:3:5)

Liều lượng phân bón có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất thân lá và hoa của cây Kim ngân, cả ở dạng tươi và khô.

Năm đầu, năng suất thân lá tươi tăng dần theo mức độ bổ sung phân NPK, với các giá trị lần lượt là 17,7 tấn/ha (CT1), 18,2 tấn/ha (CT2) và 19,8 tấn/ha (CT3). Sự tăng này ở CT3 so với CT1 có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%.

Năng suất thân lá khô cũng có xu hướng tương tự, tăng từ 3,24 tấn/ha (CT1) lên 3,69 tấn/ha (CT3). Sự khác biệt giữa CT3 có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%.

Năm thứ 2, sự khác biệt rõ ràng hơn khi CT3 tiếp tục vượt trội với năng suất thân lá tươi 24,4 tấn/ha và khô 4,62 tấn/ha.CT2 đạt 22,2 tấn/ha (tươi) và 4,21 tấn/ha (khô), còn CT1 thấp hơn đáng kể (21,4 tấn/ha và 4,07 tấn/ha). Mức tăng năng suất thân lá của CT3 so với CT1 trong năm thứ hai có ý nghĩa thống kế cho thấy liều lượng phân bón NPK 400 kg/ha có tác động rõ rệt đến sinh trưởng sinh khối cây Kim ngân.

Năng suất hoa tươi ghi nhận sự gia tăng từ 2,52 tấn/ha (CT1) đến 2,81 tấn/ha (CT3). Năng suất hoa khô cũng phản ánh xu hướng tương tự, tăng từ 0,46 tấn/ha (CT1) lên 0,52 tấn/ha (CT3).

Kết quả thí nghiệm cho thấy, việc tăng liều lượng phân NPK từ 200 kg lên 400 kg/ha (trên nền 15 tấn phân chuồng và 5 tấn phân vi sinh) giúp nâng cao rõ rệt năng suất thân lá và hoa của cây Kim ngân, đặc biệt trong năm thứ hai sau trồng. Công thức CT3 (400 kg NPK/ha) cho kết quả vượt trội về cả năng suất sinh khối và hoa, và sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê. Do đó, công thức phối hợp phân bón này được xem là phù hợp và hiệu quả nhất trong điều kiện thí nghiệm và có thể được khuyến nghị áp dụng trong sản xuất thực tế.

Tóm lại: Phối hợp bón phân chuồng hoai mục với phân NPK và phân vi sinh là giải pháp bón lót hiệu quả, giúp cây Kim ngân phát triển tốt, nâng cao năng suất thân lá và đặc biệt là năng suất hoa có giá trị cao. Việc điều chỉnh liều lượng phân NPK cần cân nhắc để đạt hiệu quả tối ưu về mặt sinh trưởng và kinh tế, với mức bón khoảng 300 kg NPK/ha là phù hợp. Đồng thời, các chế độ bón phân này không làm tăng nguy cơ sâu bệnh, đảm bảo tính bền vững trong sản xuất cây Kim ngân.

3.5. Nghiên cứu một số biện pháp sơ chế biến và bảo quản dược liệu Kim ngân

3.5.1. Nghiên cứu ảnh hưởng thu hoạch, sơ chế đến dược liệu Kim ngân cuộng

a. Nghiên cứu xác định thời điểm thu hái ảnh hưởng đến chất lượng của dược liệu Kim ngân cuộng

Theo một số tài liệu của Viện Dược liệu 2013, 2016 công bố, Kim ngân cuộng được thu hoạch khi cây nở hết hoa, thí nghiệm Kim ngân cuộng được bố trí tại thời điểm cây Kim ngân được trồng và thu hái thời điểm khác nhau: 210 ngày (CT1.1), 240 ngày (CT1.2), 270 ngày (CT1.3) sau khi trồng, tiến hành lựa chọn và phân loại tiến hành rửa sạch, sau đó tiến hành làm khô ở cùng nhiệt độ (40oC) đến cùng độ ẩm thích hợp (≤ 13% ẩm), các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên.

Bảng 3.5. Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng Kim ngân cuộng

Thời gian

TN

Công thức

Hàm lượng Acid clorogenic (%)

Hàm lượng Loganin (%)

Độ ẩm (%)

Tro toàn phần (%)

Cảm quan

Tỷ lệ tươi/ khô

Sau thu hoạch

CT1.1

3,44

2,07

45,7

8,6

Xanh nhạt, lẫn hoa

5,3

 

CT1.2

3,39

2,11

44,6

8,6

Xanh sẫm đặc trưng

5,1

 

CT1.3

3,40

2,10

44,7

8,7

Xanh sẫm đặc trưng

5,0

Ghi chú:            CT1.1: thu hoạch sau 210 ngày sau khi trồng (đ/c)

CT1.2: thu hoạch sau 240 ngày sau khi trồng

CT1.3: thu hoạch sau 270 ngày sau khi trồng

Hàm lượng acid chlorogenic dao động không nhiều giữa các công thức: từ 3,39-3,44%. CT1.1 (210 ngày) đạt giá trị cao nhất (3,44%), tuy nhiên chênh lệch so với CT1.2 (3,39%) và CT1.3 (3,40%) là không đáng kể, cho thấy thời gian thu hái có ít ảnh hưởng đến hàm lượng acid chlorogenic.

  Hàm lượng loganin cao nhất ở CT1.2 (2,11%) và CT1.3 (2,10%), cao hơn CT1.1 (2,07%). Mặc dù sự khác biệt là nhỏ, nhưng kết quả này cho thấy thu hoạch muộn hơn (sau 240-270 ngày) có xu hướng giúp tích lũy loganin tốt hơn.

Độ ẩm giảm nhẹ theo thời gian thu hái: từ 45,7% ở CT1.1 xuống 44,6% và 44,7% ở CT1.2 và CT1.3. Dù mức thay đổi không lớn, song cho thấy thu hoạch muộn hơn giúp giảm độ ẩm nguyên liệu, có lợi cho bảo quản sau thu hoạch.

Hàm lượng tro toàn phần gần như không thay đổi giữa các công thức, dao động rất nhẹ từ 8,6-8,7%, chứng tỏ yếu tố thời điểm thu hái ít ảnh hưởng đến chỉ tiêu khoáng chất tổng thể của Kim ngân cuộng.

Cảm quan có sự khác biệt rõ nét giữa các thời điểm. CT1.1 (thu sớm nhất) cho màu xanh nhạt và lẫn hoa, trong khi CT1.2 và CT1.3 có màu xanh sẫm đặc trưng, không lẫn hoa. Điều này cho thấy thu hoạch muộn giúp cải thiện đặc điểm cảm quan, làm nguyên liệu đồng nhất hơn và giàu màu sắc dược liệu đặc trưng.

Tỷ lệ tươi/khô có xu hướng giảm theo thời gian thu hoạch: từ 5,3 (CT1.1) xuống 5,1 (CT1.2) và 5,0 (CT1.3). Điều này phù hợp với xu hướng giảm độ ẩm, cho thấy nguyên liệu thu muộn giàu chất khô hơn, từ đó giảm chi phí sấy và vận chuyển.

Như vậy, thời điểm thu hái có ảnh hưởng nhất định đến một số chỉ tiêu chất lượng của Kim ngân cuộng. Trong khi hàm lượng acid chlorogenic và loganin chỉ biến động nhẹ, thì thu hoạch muộn hơn (sau 240-270 ngày) lại giúp cải thiện rõ rệt các yếu tố cảm quan, giảm độ ẩm và tăng tỷ lệ chất khô. Do đó, có thể khuyến nghị thu hoạch Kim ngân cuộng sau khoảng 240 ngày sau trồng là phù hợp để đạt được chất lượng nguyên liệu tối ưu trong điều kiện nghiên cứu.

b. Nghiên cứu ảnh hưởng biện pháp sơ chế đến chất lượng của dược liệu Kim ngân cuộng

Kim ngân cuộng và Kim ngân hoa được thu hoạch theo đúng thời điểm thu hái, rửa sạch (áp dụng với Kim ngân cuộng), tiến hành sấy ở các nhiệt độ khác nhau đến khi đạt độ ẩm ≤ 13% (cuộng), sau đó bảo quản kín trong bao bì PE dày 0,01mm, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên

CT1.4: Phơi khô (đ/c) (Kim ngân cuộng)

CT1.5: Sấy bơm nhiệt ở nhiệt độ 40oC (Kim ngân cuộng)

CT1.6: Sấy nhiệt máy menmert ở nhiệt độ 50oC (Kim ngân cuộng)

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của cách làm khô đến chất lượng của Kim ngân cuộng

Thời gian TN

Công thức

Độ ẩm (%)

Tro toàn phần(%)

Cảm quan

Sau khi làm khô

CT1.4

12,45

8,4

Xanh sẫm thâm, nhiều lá vàng nâu sẫm

 

CT1.5

12,55

8,4

Xanh sẫm, không thâm

 

CT1.6

12,36

8,5

Xanh sẫm, không thâm

6 tháng

CT1.4

12,67

8,6

Lá sẫm thâm

 

CT1.5

12,67a

8,7

Xanh sẫm, không thâm

 

CT1.6

12,33

8,6

Xanh sẫm, không thâm

Qua bảng trên cho thấy Kim ngân cuộng thu hoạch làm khô bằng các cách khác nhau cho cảm quan khác nhau: phơi nắng Kim ngân cuộng thời gian làm khô dài mất từ 3-5 ngày tùy thuộc vào thời tiết nhiệt độ giao động từ 30-350C, màu xanh của lá bị thâm, nhiều lá vàng xuất hiện. Kim ngân cuộng thu sau đó làm khô sấy bằng máy sấy nhiệt duy trì nhiệt độ sấy 50oC thời gian sấy khoảng 10h, thường xuyên cào đảo (2-3h/lần) cho chất lượng dược liệu Kim ngân cuộng tốt: giữ nguyên màu xanh của lá. Tuy nhiên sử dụng máy sấy bơm nhiệt ở nhiệt độ sấy thấp 40oC thời gian làm khô dài hơn 13h và cho chất lượng Kim ngân cuộng xanh đẹp sau khi làm khô, sau 6 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng chất lượng cảm quan Kim ngân cuộng đảm bảo chất lượng, đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V.

Kim ngân cuộng cần được thu hoạch ở độ tuổi thích hợp sau 240 ngày trồng và tiến hành sấy bơm nhiệt duy trì chất lượng tốt nhất sau sấy.

Kết quả thí nghiệm tương tự như kết luận của Trần Thị Lan và cộng sự, 2022 Kim ngân cuộng tại Hải Dương và Trần Thị Lan và cộng sự, 2024  tại Đắc lắk thích hợp làm khô bằng phương pháp sấy lạnh cho chất lượng dược liệu tốt.

3.5.2. Nghiên cứu ảnh hưởng thu hoạch, sơ chế đến dược liệu Kim ngân hoa

Đối với Kim ngân hoa thu hái tại Gia Lai được tiến hành tương tự như sau, đánh giá ảnh hưởng của độ tuổi hoa tiến hành thu hoạch ở các độ già thu hái khác nhau: nụ xanh (CT1.7); nụ trắng (có 10% hoa nở cánh) (CT1.8); 100% hoa nở (CT1.9), sau đó các độ già thu hái được làm khô bằng máy sấy bơm nhiệt ở cùng nhiệt độ (40oC) đến cùng độ ẩm thích hợp (≤ 12% ẩm), các thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên.

Bảng 3.7. Ảnh hưởng của độ già thu hái đến chất lượng của Kim ngân hoa

Thời gian

TN

Công thức

Hàm lượng acid clorogenic (%)

Độ ẩm (%)

Tro toàn phần(%)

Cảm quan

Tỷ lệ tươi/khô

Sau thu hoạch

CT1.7

3,04

51,9

4,6

Xanh nhạt, không mùi

5,6

 

CT1.8

3,05

50,2

4,5

Trắng nhạt, vàng nhạt mùi thơm nhẹ

5,4

 

CT1.9

3,00

50,4

4,4

Vàng và vàng nâu, thơm ngát

5,4

 

Hàm lượng acid chlorogenic dao động trong khoảng 3,00-3,05%, cao nhất ở CT1.8 (3,05%) và thấp nhất ở CT1.9 (3,00%). Sự khác biệt giữa các công thức là không đáng kể. Điều này cho thấy mức độ già của hoa không ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng hoạt chất acid chlorogenic, một hợp chất đặc trưng góp phần vào hoạt tính dược lý của Kim ngân hoa.

Độ ẩm giảm dần theo mức độ trưởng thành của hoa, từ 51,9% ở CT1.7 xuống 50,2-50,4% ở CT1.8 và CT1.9. Tỷ lệ tươi/khô cũng phản ánh tương ứng với độ ẩm, khi CT1.7 có tỷ lệ 5,6, trong khi CT1.8 và CT1.9 đều ở mức 5,4. Như vậy, hoa thu hái ở giai đoạn muộn hơn (CT1.8 và CT1.9) có độ ẩm thấp hơn, thuận lợi hơn cho quá trình sấy và bảo quản. Giá trị tro toàn phần dao động từ 4,4-4,6%, cao nhất ở CT1.7 và thấp nhất ở CT1.9.

Kết quả bảng 3.7 cho thấy Kim ngân hoa thu hoạch ở các độ tuổi thu hái khác nhau cho cảm quan khác nhau. CT1.7 có đặc điểm màu xanh nhạt, không mùi, cho thấy hoa còn non, chưa phát triển hoàn toàn về chất lượng dược liệu. CT1.8 chuyển sang trắng nhạt đến vàng nhạt, bắt đầu có mùi thơm nhẹ, phù hợp với tiêu chuẩn cảm quan cho dược liệu Kim ngân hoa. CT1.9 có màu vàng đến vàng nâu, mùi thơm ngát, thể hiện giai đoạn già nhất, tuy nhiên quá già có thể làm thay đổi đặc điểm dược liệu và giảm độ đồng nhất.

Kết quả cho thấy, độ già của hoa tại thời điểm thu hái có ảnh hưởng rõ rệt đến một số yếu tố chất lượng, đặc biệt là cảm quan và độ ẩm, trong khi hàm lượng acid chlorogenic và tro toàn phần không biến động đáng kể. Hoa thu hoạch ở giai đoạn trắng nhạt - vàng nhạt (CT1.8) được đánh giá là phù hợp nhất với yêu cầu chất lượng của dược liệu: hàm lượng hoạt chất cao nhất, độ ẩm thấp hơn so với hoa non, cảm quan đẹp, có mùi thơm nhẹ đặc trưng. Do đó, thời điểm thu hoạch sau khi nụ hoa chuyển từ xanh sang trắng nhạt - vàng nhạt được xem là tối ưu để đảm bảo chất lượng Kim ngân hoa, đồng thời thuận lợi cho sơ chế và bảo quản. Kết quả thí nghiệm phù hợp với kết luận của Trần Thị Lan và cộng sự, 2022 thời điểm thu hái thích hợp Kim ngân hoa tại Hải Dương là khi hoa còn nụ cho chất lượng tốt nhất và Trần Thị Lan và cộng sự, 2024 tại Đắk lắk cho kết quả tương đồng.

IV. KẾT LUẬN

Bón lót 15 tấn phân chuồng hoai mục + 1 tấn NPK + 1 tấn phân vi sinh/ha cho hiệu quả cao trong việc tăng năng suất hoa và thân lá. Sự phối hợp giữa phân chuồng, NPK và vi sinh không chỉ thúc đẩy sinh trưởng, nâng cao năng suất, đặc biệt là hoa - phần có giá trị kinh tế cao - mà còn đảm bảo tính bền vững, không làm gia tăng nguy cơ sâu bệnh khi sử dụng NPK ở mức 300 kg/ha bón bổ sung hàng năm.

 Kim ngân cuộng thích hợp để thu hoạch sau 240 ngày trồng. Kim ngân cuộng được thu hoạch, làm khô bằng máy sấy bơm nhiệt nhiệt độ khoảng 40oC, sấy đến độ ẩm an toàn không lớn hơn 13% và bảo quản trong bao bì PE dày 0,01mm và hộp carton.

Thời điểm thu hái dược liệu Kim ngân hoa thích hợp là khi hoa nụ trắng và có tỷ lệ hoa nở <10%.

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được thực hiện từ sự tài trợ kinh phí của Bộ Quốc phòng để thực hiện đề tài: Nghiên cứu phát triển vùng trồng và khai thác nguồn dược liệu Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) theo tiêu chuẩn GACP - WHO tại tỉnh Gia Lai. Mã số: KCB-CT.16. Các tác giả xin chân thành cảm ơn Bộ Quốc phòng, Cục Khoa học Quân sự, Viện Y học cổ truyền Quân đội và người dân địa phương đã tạo điều kiện và hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện các nghiên cứu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Trần Thị Lan, 2022. Xây dựng mô hình sản xuất cây dược liệu Kim ngân hoa (Lonicera japonica Thunb.) theo hướng GACP-WHO trên địa bàn tỉnh Hải Dương” Báo cáo tổng kết đề tài cấp Tỉnh Hải Dương.

2.     Trần Thị Lan, 2024. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen Hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burk) và Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại tỉnh Đắk Lắk. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh Đắk Lắk.

3.     Phạm Chí Thành, 2002.  Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

4.     Viện Y học cổ truyền quân đội, 2016. Khai thác và phát triển các nguồn gen dược liệu Kim ngân hoa, Huyền sâm. Đề tài cấp Bộ Quốc phòng.

5.     Viện Dược liệu, 2016. Danh lục cây thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. tr 493.           

Đoàn Xuân Đinh, Nguyễn Hùng Sơn, Lê Đức Hùng - Viện Y học cổ truyền Quân đội

Nguyễn Xuân Trường, Trần Thị Liên, Hoàng Thị Như Nụ - Viện Dược liệu