KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY HTX VIỆT NAM (11/4/1946 - 11/4/2026)

Thư gửi điền chủ, nông gia của Bác Hồ: Bản “Tuyên ngôn” về kinh tế hợp tác (Bài 01)

Trong hệ thống di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, bức thư gửi điền chủ và nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946 chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng.

Đây không chỉ là một văn bản hành chính trong những ngày đầu kiến quốc, mà thực chất là một cương lĩnh kinh tế tập thể sơ khai nhưng hoàn chỉnh, mang tầm vóc của một bản "Tuyên ngôn" về sự liên kết. Giá trị xuyên thế kỷ này nằm ở hệ thống các mệnh đề, từ khóa chiến lược nối liền lịch sử với khát vọng phát triển nông nghiệp bền vững.

Hoàn cảnh lịch sử và tính cấp thiết của sự liên kết

Bức thư ra đời khi vận mệnh dân tộc đang ở thế "ngàn cân treo sợi tóc". Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền non trẻ phải đối mặt với thù trong giặc ngoài và hệ lụy khủng khiếp của nạn đói năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc". Trong bối cảnh đó, mệnh đề đầu tiên được đặt ra là sự trông mong của Chính phủ vào nông dân và nông nghiệp để xây dựng nước nhà.

img-8861-1774254165.jpeg
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954. Ảnh Tư liệu: Bảo tàng Hồ Chí Minh. 

Độc lập chính trị phải dựa trên nền tảng tự chủ về kinh tế. Việc xác định đối tượng là cả "điền chủ" và "nông gia" mang một thông điệp chính trị - kinh tế cực kỳ sắc sảo. Không tạo ra sự đối đầu giai cấp, tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương huy động mọi nguồn lực: người có đất, người có sức, người có kỹ thuật đều phải đứng chung một chiến tuyến. Đây chính là biểu hiện của tư duy kinh tế đa thành phần, lấy đại đoàn kết làm động lực tăng trưởng – một bài học vẫn còn nguyên giá trị đối với các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp trong những năm gần đây.

"Nông dân giàu thì nước giàu, nông nghiệp thịnh thì nước thịnh"

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập một mối quan hệ hữu cơ, biện chứng: "Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh". Mệnh đề này không chỉ đề cao vai trò của giai cấp nông dân mà còn khẳng định vị thế trụ cột của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Người chỉ rõ con đường để đạt được sự giàu có và thịnh vượng đó chính là Hợp tác xã.

Định nghĩa về Hợp tác xã được Người khái quát hóa một cách triệt diện: "Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều". Đây là một nguyên lý kinh tế mẫu mực. "Ích lợi nhiều" chính là mục tiêu của hiệu quả kinh tế quy mô. Khi liên kết, nông dân hình thành vị thế thương lượng tốt hơn với thị trường, có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật đồng bộ trên cánh đồng lớn. Cách ví von giản dị này đã biến khái niệm "tối ưu hóa nguồn lực" thành một hành động thực tiễn, tạo ra sự đồng thuận cao độ để chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại.

Hành trình dấn thân và những lời căn dặn từ thực tiễn đồng ruộng

Sức sống của bức thư ngày 11/4/1946 không chỉ nằm ở những dòng chữ trên mặt giấy mà được minh chứng bằng sự dấn thân không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thống kê lịch sử cho thấy, từ năm 1954 đến năm 1969, Bác Hồ đã có 923 lần đi thăm các địa phương, đơn vị, cơ sở sản xuất (Cụ thể vào các năm: Năm 1954: 4 lần; năm 1955: 40 lần; năm 1956: 67 lần; năm 1957: 120 lần: năm 1958: 134 lần; năm 1959: 106 lần; năm 1960: 96 lần; năm 1961: 73 lần; năm 1962: 72 lần; năm 1963: 67 lần; năm 1964: 57 lần; năm 1965: 29 lần; năm 1966: 30 lần; năm 1967: 10 lần; năm 1968: 9 lần; năm 1969: 9 lần). Trong đó có hàng trăm lần Người trực tiếp đến với các hợp tác xã nông nghiệp. Những chuyến thăm này không bao giờ mang tính hình thức; Người đến để lắng nghe, để tháo gỡ khó khăn và để tiếp thêm động lực cho xã viên.

Tại Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mẫu đầu tiên của miền Bắc – HTX Đại Phong (Quảng Bình) năm 1961, Người đã viết bài đăng báo Nhân dân với tiêu đề "Gió Đại Phong", cổ vũ phong trào thi đua trong nông nghiệp. Người căn dặn: "Hợp tác xã phải thực sự dân chủ, cán bộ phải công bằng, xã viên phải đồng lòng". Hay khi thăm cánh đồng HTX Hiệp Hòa (Hà Đông cũ), Bác đã trực tiếp xuống ruộng đạp guồng nước cùng bà con chống hạn. Người nhắc nhở xã viên: "Làm hợp tác xã phải chú ý đến thủy lợi, vì nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Những lời dạy ấy không chỉ là kiến thức kỹ thuật mà là tư duy quản trị tài nguyên thiên nhiên gắn với sức mạnh cộng đồng.

Trong một lần thăm HTX Hùng Sơn (Phú Thọ), Bác đã ngồi bên bờ ruộng trò chuyện cùng bà con. Người nói: "Hợp tác xã như một cái nhà lớn, xã viên là người trong một gia đình. Muốn nhà vững thì mọi người phải chăm lo, không được tư lợi, không được lười biếng". Câu nói giản đơn ấy đã giải mã một lớp nghĩa sâu sắc về trách nhiệm cá nhân trong kinh tế tập thể. Người còn đặc biệt quan tâm đến việc tri thức hóa nông dân khi khẳng định: "Muốn nông nghiệp thịnh, xã viên phải học văn hóa, học kỹ thuật". Tầm nhìn của Người vượt thời đại ở chỗ đã nhận ra sức mạnh tri thức chính là "chìa khóa" để giải phóng sức lao động, nâng cao vị thế cho nông gia.

Phân tích chiều sâu sức mạnh vật chất trong sự liên kết

Mệnh đề "Nhóm lại thì sức mạnh sẽ lớn" được cụ thể hóa bằng sức mạnh vật chất. Trong sản xuất nông nghiệp, sức mạnh vật chất không chỉ dừng lại ở công cụ lao động hay diện tích canh tác, mà là sự tích tụ và tập trung các nguồn lực để tạo ra giá trị thặng dư cao hơn. Khi điền chủ và nông gia hợp lực, họ tạo ra một thực thể kinh tế có khả năng huy động vốn và tư liệu sản xuất hiệu quả hơn bất kỳ hộ cá thể nào.

Sức mạnh vật chất trong tư tưởng của Người còn nằm ở việc giải quyết những bài toán hạ tầng quy mô lớn như hệ thống thủy lợi, đê điều và kho bãi bảo quản – những yếu tố mà "nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao". Trong bối cảnh hiện nay, sức mạnh vật chất này chính là tiền đề để hiện thực hóa các vùng nguyên liệu tập trung, cho phép ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ và công nghệ cao, từ đó giảm giá thành và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trên trường quốc tế.

Sự lan tỏa kinh nghiệm và tri thức hóa nông dân

Lớp nghĩa thứ hai, mang tính bền vững và chiều sâu, chính là sức mạnh tri thức được khơi dậy từ sự hợp tác. Kiến thức của một cá nhân là hữu hạn, nhưng tri thức của cộng đồng là vô biên. Trong sự liên kết giữa điền chủ và nông gia, một sự giao thoa tri thức đặc biệt đã diễn ra.

Hợp tác xã nông nghiệp là "cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất", nơi người lao động đào tạo lẫn nhau, chia sẻ bí quyết về thời vụ và kỹ thuật. Sức mạnh tri thức này giúp giảm thiểu rủi ro sản xuất dựa trên trí tuệ tập thể. Trong những năm gần đây, sức mạnh tri thức đã phát triển thành sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nông, nhà khoa học và nhà quản lý. Đây là động lực để chuyển đổi từ kinh nghiệm truyền thống sang nông nghiệp thông minh. Mỗi thông tin về thị trường hay quy trình chuẩn hóa (như các tiêu chuẩn nông nghiệp tốt) được lan tỏa nhanh chóng trong mạng lưới, tạo nên một cộng đồng sản xuất có trình độ và tư duy đổi mới sáng tạo.

Khẳng định sức mạnh vị thế trong cấu trúc kinh tế hiện đại

Sức mạnh vị thế là lớp nghĩa thứ ba, thể hiện tầm nhìn quản trị thị trường sắc sảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một nông gia lẻ loi luôn ở vị thế yếu khi đối diện với biến động thị trường và sự ép giá của trung gian. Khi "nhóm lại", họ tạo ra một vị thế đối trọng, một quyền lực thương lượng mạnh mẽ hơn. Vị thế này giúp Hợp tác xã có tiếng nói trọng lượng trong việc quyết định giá cả đầu vào và đầu ra, đồng thời là cơ sở pháp lý để bước vào các thị trường khó tính đòi hỏi tính minh bạch và trách nhiệm cộng đồng.

Xác lập sức mạnh vị thế chính là cách nông dân tự bảo vệ mình trước những "cơn bão" thị trường, khẳng định vai trò chủ thể. Như tư duy quản trị hiện nay nhấn mạnh: "Người nông dân phải là chủ thể, là trung tâm. Mọi hoạt động phải xoay quanh người nông dân". Tư tưởng của Người từ năm 1946 đã đặt nền móng cho việc xác lập vị thế trung tâm này, để người dân không chỉ là người sản xuất mà còn là người thụ hưởng thực sự từ giá trị gia tăng của nông sản.

Nguyên tắc "Tự nguyện" – Hằng số của sự trường tồn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc lập nên Hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi là để "ích quốc lại lợi dân". Người không dùng mệnh lệnh hành chính để ép buộc, thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối quyền tự quyết. Mệnh đề "ích quốc lợi dân" cho thấy sự hài hòa lợi ích: Hợp tác xã không phải tổ chức từ thiện, mà là thực thể kinh tế nơi lợi ích tập thể gia tăng lợi ích từng cá nhân thành viên.

Khi lợi ích được đảm bảo minh bạch, tính "tự nguyện" sẽ trở thành bền vững và tự giác. Bài học này đã được Đảng ta kế thừa, khẳng định rằng chỉ có sự tự nguyện dựa trên lợi ích thực chất mới có thể xây dựng được những Hợp tác xã kiểu mới mạnh mẽ. Đây chính là hằng số cho mọi chính sách phát triển kinh tế tập thể, tránh được các vết xe đổ của sự gượng ép hành chính trong quá khứ.

Vai trò kiến tạo và lời hứa đồng hành của Chính phủ

Mệnh đề "Chính phủ sẽ ra sức giúp đỡ kế hoạch và cán bộ" là một lời cam kết mang tính định hướng quản trị quốc gia xuyên suốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập vai trò của Nhà nước là chủ thể kiến tạo và hỗ trợ, không để Hợp tác xã tự bơi. Từ khóa "Kế hoạch" ở đây mang hàm ý cung cấp thông tin chiến lược, quy hoạch vùng sản xuất và định hướng thị trường.

img-8859-1774254888.jpeg

Trong khi đó, từ khóa "Cán bộ" giải quyết đúng điểm nghẽn về năng lực quản trị. Người hiểu rằng nông dân có tâm huyết nhưng thường thiếu kỹ năng quản lý hiện đại, do đó Nhà nước phải hỗ trợ đào tạo nhân tố con người để dẫn dắt. Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của Bộ Nông nghiệp và Môi  chính là cụ thể hóa lời hứa này thông qua các chính sách tín dụng xanh, bảo hiểm nông thôn và đào tạo đội ngũ quản trị có tư duy đổi mới, giúp khu vực kinh tế tập thể không chỉ tồn tại mà còn bứt phá mạnh mẽ.

Ý nghĩa gợi mở và hành trình hướng tới tương lai

Phân tích các lớp nghĩa của sức mạnh vật chất, tri thức và vị thế trong bức thư ngày 11/4/1946 cho thấy một tư duy giải pháp vô cùng trọn vẹn. Tư tưởng của Người không chỉ giải quyết bài toán của năm 1946 mà còn mở đường cho sự phát triển của nông nghiệp minh bạch và trách nhiệm hôm nay. Việc "nhóm lại" giờ đây đã nâng tầm thành liên kết chuỗi giá trị bền vững, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và lợi ích xã hội.

Sức sống của bức thư nằm ở chỗ nó luôn hướng về con người, lấy sự tiến bộ của nông gia làm thước đo cho sự thành công. Chỉ khi thấu triệt được đầy đủ các mệnh đề và từ khóa chiến lược này, chúng ta mới có thể xây dựng được một hệ sinh thái kinh tế nông thôn vững mạnh, đủ sức đưa nông sản Việt Nam vươn xa, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hiện nay.

Kết luận

Bức thư ngày 11/4/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là một văn kiện kinh tế - chính trị đặc biệt, bản chỉ dẫn thiên tài cho con đường phát triển kinh tế tập thể tại Việt Nam. Xuyên suốt văn bản là tinh thần tôn trọng quy luật khách quan, đề cao tính tự nguyện và gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với văn hóa, giữa lợi ích cá nhân với vận mệnh quốc gia. Việc lấy ngày 11/4 hàng năm làm Ngày Hợp tác xã Việt Nam là sự tri ân sâu sắc, đồng thời là lời nhắc nhở về trách nhiệm kế thừa những giá trị tư tưởng cao quý của Người. Tư tưởng ấy chính là phương pháp luận để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh và nông dân giàu có, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam thịnh vượng và nhân văn.