Chính sách dựa trên bằng chứng và kết nối từ địa phương đến khu vực trong tiến trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái tại Đồng bằng sông Hồng

Việt Nam đã từng bước kiến tạo những nền tảng pháp lý và chính sách quan trọng cho tiến trình chuyển đổi chiến lược, nổi bật là các chủ trương của Đảng về nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh; Chương trình mục tiêu quốc gia; các quyết định phát triển hệ thống khuyến nông; Quyết định số 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, có trách nhiệm và bền vững; Luật Hợp tác xã cùng chủ trương phát triển kinh tế tập thể, liên kết chuỗi giá trị; Luật Bảo vệ môi trường; cùng các đề án chuyên sâu về sức khỏe đất và trồng trọt giảm phát thải. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong giai đoạn hiện nay không nằm ở việc thiếu các chủ trương, mà là làm thế nào để kết nối đồng bộ những chính sách này thành một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, thay vì tiếp tục triển khai như những chương trình riêng rẽ, chia cắt.

img-8783-1790004874.jpeg

Để khắc phục điểm nghẽn đó, hệ thống chính sách vĩ mô cần ngày càng dựa nhiều hơn vào bằng chứng thực tiễn, thông qua việc đánh giá khách quan hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình canh tác cụ thể. Từ những minh chứng thực tế tại cơ sở, các cơ quan quản lý nhà nước có thể đúc rút bài học kinh nghiệm để hoàn thiện khung thể chế, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chuẩn hóa và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc nhân rộng trên diện rộng. Quá trình hoạch định chính sách phải xem người nông dân, hợp tác xã và cộng đồng địa phương là trung tâm, bảo đảm mọi quy định đưa ra đều sát với thực tiễn sản xuất và giải quyết đúng những khó khăn, vướng mắc đang tồn tại ở cơ sở.

Trong tiến trình này, vai trò của khoa học và đối thoại chính sách phải được đặt ở vị trí trung tâm, đóng vai trò cầu nối xuyên suốt giữa thực tiễn sản xuất và các quyết định phát triển chiến lược. Những đóng góp thực chất của các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực nông nghiệp sinh thái, kinh tế tập thể, phát triển chuỗi giá trị và xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng đã minh chứng tầm quan trọng của việc gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn đồng ruộng, đồng thời tiếp nhận nghiêm túc phản hồi từ quá trình thực thi chính sách tại các địa phương trong vùng.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và củng cố các cơ chế giám sát, đánh giá độc lập đối với các chương trình hành động sẽ giúp đo lường chính xác mức độ tác động của chính sách đối với sinh kế người dân và chất lượng môi trường sinh thái. Điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp quản lý mà còn tạo ra sự đồng thuận xã hội sâu rộng trong suốt quá trình thực thi chuyển đổi xanh.

Thông qua các tổ chức địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp, kinh nghiệm và bằng chứng thực tiễn từ Việt Nam còn được kết nối sâu rộng với các mạng lưới nghiên cứu, cộng đồng nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các đối tác chính sách ở cấp khu vực cũng như toàn cầu. Đây chính là cơ chế mở quan trọng để các tác nhân vừa có thể chủ động học hỏi kinh nghiệm tiên tiến từ quốc tế, vừa tự hào chia sẻ những sáng kiến, bằng chứng và mô hình thực tiễn của mình. Sự kết nối hài hòa này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và hệ thống lương thực thực phẩm, đưa nền kinh tế nông nghiệp vùng tiến nhanh và vững chắc tới mục tiêu xanh, tuần hoàn và phát triển thịnh vượng.