I. Cơ sở lý luận hình thành quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường
1.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên - cơ sở lý luận để Việt Nam phát triển nền nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn và bền vững
C.Mác đã từng khẳng định rằng, tự nhiên đóng vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loài người: “ Giới tự nhiên cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên” [1]. Tư tưởng này của C.Mác về mối quan hệ con người và tự nhiên là vô cùng độc đáo, vì trong lịch sử nhân loại, ngoài C.Mác, chưa có ai coi giới tự nhiên là thân thể của con người. Với quan niệm này, C.Mác đã chỉ ra rằng: Về nguồn gốc, con người được sinh thành do sự tiến hoá lâu dài của tự nhiên chứ không phải là kết quả từ sự “ nhào nặn” của một lực lượng siêu nhiên nào đó theo quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Về mặt quan hệ với tự nhiên, con người chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên mà thôi. Về mặt sản xuất, C.Mác đã khẳng định: “ Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì hết, nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong đó và nhờ đó lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm”[2]. Điều đó cho thấy, đời sống của con người không những được duy trì nhờ dựa vào giới tự nhiên mà hơn thế nữa, giới tự nhiên còn là nguồn gốc của đời sống con người, là “ thân thể vô cơ” của con người, là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho quá trình sống, tồn tại và phát triển của con người. Nói cách khác, con người không bao giờ có thể sống, tồn tại và phát triển khi bị tách khỏi giới tự nhiên, khỏi môi trường sống của mình. Chừng nào mà con người còn tồn tại thì còn phải dựa vào giới tự nhiên, dựa vào môi trường.
Điều cần lưu ý nằm ở chỗ, đời sống của con người được duy trì và bảo đảm là nhờ dựa vào giới tự nhiên, khai thác những cái có sẵn trong môi trường tự nhiên để tồn tại, phát triển. C.Mác đã chỉ rõ: “ Ban đầu bản thân giới tự nhiên là cái kho chứa, mà trong đó con người – cũng là tiền đề với tính cách là sản phẩm của tự nhiên – kiếm được những sản phẩm có sẵn của tự nhiên để tiêu dùng, cũng như con người tìm được trong những khí quan của cơ thể bản thân mình những tư liệu sản xuất đầu tiên để chiếm hữu những sản phẩm đó” [3]. Sau đó, do con người ngày càng sinh sôi nảy nở và cùng với đó, nhu cầu cũng dần trở nên ngày càng cao khiến môi trường tự nhiên thuần túy không đáp ứng được. Vì vậy, để tồn tại, con người phải tiến hành lao động sản xuất. Trong quá trình này, con người đã tác động vào môi trường tự nhiên, bắt giới tự nhiên cung cấp những thứ thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của mình. Từ đây, con người dần tách mình ra khỏi thế giới động vật, và cùng với môi trường tự nhiên vốn có, con người còn tạo ra cho mình một môi trường sống mới - môi trường xã hội hay môi trường tự nhiên đã được “ người hóa” chỉ đặc trưng riêng cho loài người. Trong quá trình sản xuất xã hội, thông qua lao động, con người học được cách thuận theo và cải tạo môi trường tự nhiên trên cơ sở hiểu biết về giới tự nhiên. Do đó, con người ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào “ các thế lực không kiểm soát được” và ngày càng có vẻ như gia tăng quyền lực của mình trước môi trường tự nhiên. Nhờ vậy mà “ loài người đã đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn, có đủ khả năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng cao hơn” [4]. Từ việc có vẻ như nắm bắt được các quy luật tự nhiên cộng với sự phát triển các nhu cầu ngày càng cao của con người, đã kích thích họ có thêm những hoạt động có mục đích, nhằm chế ngự các thế lực, các hiện tượng trong môi trường tự nhiên, bắt chúng phục vụ cho mình. Vậy là, từ chỗ lợi dụng môi trường tự nhiên, dựa vào môi trường tự nhiên một cách thụ động, con người đã tiến đến chỗ có khả năng biến đổi, cải tạo nó một cách chủ động, có phương pháp nhờ sự phát triển của công cụ sản xuất cũng như sự trợ giúp của tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Nói cách khác, các công cụ sản xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã “ nối dài” cánh tay của con người, giúp họ có thể vươn tới đáy đại dương hay sâu thẳm trong lòng đất, làm gia tăng cường độ, quy mô tác động của con người vào tự nhiên, biến những điều dường như không thể trở thành có thể.
Tuy nhiên, mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Như C.Mác đã khẳng định: “ Trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả. Hiện tượng này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại” [5]. Vì lẽ đó, trong quá trình lao động sản xuất, con người tác động vào môi trường tự nhiên, làm thay đổi các yếu tố cấu thành môi trường, đáp ứng nhu cầu trước mắt của mình, thì sớm hay muộn sẽ ảnh hưởng tới môi trường sống. Do vậy, phát triển kinh tế luôn phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường. Thay vì coi tự nhiên là nguồn của cải vô tận và chỉ biết khai thác từ đó những gì có lợi cho mình như trước đây, con người ngày nay đã nhận ra rằng, tự nhiên là một thể thống nhất và sức chịu đựng của nó trước những tác động của con người không phải là vô hạn; rằng, bên cạnh việc sử dụng, khai thác tự nhiên, con người còn phải bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, phải “ chung sống hài hòa” với tự nhiên.
Cũng như C.Mác, dựa trên phép biện chứng duy vật Ph.Ăngghen đã luận giải sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên. Ông coi con người và tự nhiên, lịch sử con người và lịch sử tự nhiên là một thể thống nhất hữu cơ, không thể tách rời: "Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó...". Theo đó, con người không đối lập với giới tự nhiên, mà là một bộ phận hữu cơ của giới tự nhiên. Nói cách khác, con người và giới tự nhiên thống nhất ở tính vật chất của chúng. Mọi hành vi xâm hại tự nhiên, phá vỡ sự hài hòa trong quan hệ giữa con người - tự nhiên đều đồng nghĩa với sự hủy hoại cuộc sống chính con người. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Con người không những càng cảm thấy, mà lại càng hiểu biết thêm rằng mình với giới tự nhiên chỉ là một”[6].
Từ chỗ coi tự nhiên, xã hội và con người là những tiểu hệ thống trong hệ thống thế giới vật chất, khẳng định giữa con người và tự nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, Ph.Ăngghen đi đến một kết luận quan trọng rằng, trong thế giới không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; trái lại, hiện tượng này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại. Điều đó có nghĩa là, giữa các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ phổ biến, chằng chịt và đan xen; những tác động của con người đến giới tự nhiên không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến giới tự nhiên, mà còn ảnh hưởng đến con người với tư cách một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên. Tự nhiên đóng vai trò là cái nôi, môi trường sống, là nguồn cung cấp năng lượng… cho sự tồn tại và phát triển của con người, khi tự nhiên phải oằn mình chịu những tác động vượt quá giới hạn cân bằng, tức bị tổn thương thì nó không thể không ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của con người. Đó là một quy luật tất yếu khách quan.
Thông qua lao động, con người tác động vào tự nhiên, sáng tạo nên những sản phẩm vật chất và tinh thần mới, không có sẵn trong tự nhiên để thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình. Trong quá trình con người tác động vào tự nhiên, chẳng những giới tự nhiên có sự biến đổi mà bản thân con người cũng có sự biến đổi. Thước đo đánh giá trình độ chinh phục tự nhiên của con người chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhờ sự phát triển của công cụ lao động, của lực lượng sản xuất, năng lực cải biến và chinh phục tự nhiên của con người cũng ngày càng gia tăng qua từng giai đoạn, từng thời đại. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại đã nhân lên gấp bội khả năng và sức mạnh cải biến tự nhiên của con người, giúp con người biến những điều dường như không thể trở thành cái có thể để phục vụ nhu cầu của mình. Con người đã in dấu ấn của mình lên tự nhiên, khám phá và giải mã biết bao điều bí ẩn của tự nhiên.
Song, cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng, quyền năng và sự thống trị của con người đối với tự nhiên không phải là vô hạn và tuyệt đối; rằng, chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên; đồng thời, ông cảnh báo con người không nên quá tự hào về thắng lợi của mình đối với giới tự nhiên. Bởi vì, mỗi kết quả mà con người tự cho là một kỳ tích chinh phục tự nhiên, tới một lúc nào đó, có thể gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả trước đó[7]. Đặc biệt, ông cảnh báo một cách nghiêm khắc rằng, “nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy”[8]. Chính sự liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành thế giới vật chất đã quy định tính chất phản ứng dây chuyền của các vấn đề môi trường (tự nhiên và xã hội) diễn ra khi sự tác động vào một yếu tố nào đó trong hệ thống lớn hơn giới hạn chịu đựng vốn có của nó. Tính chất phản ứng dây chuyền này khiến cho những vấn đề môi trường nảy sinh do tác động của con người càng trở nên phức tạp hơn và có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn. Trên thực tế, một vấn đề môi trường này có thể là kết quả nảy sinh từ một vấn đề môi trường liên quan khác; đồng thời, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của một vấn đề môi trường mới. Trong khi đó, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, tất cả các phương thức sản xuất đã có từ trước đến nay chỉ nhằm đạt được những hiệu quả có ích gần nhất và trực tiếp nhất của lao động, nhưng lại không chú ý đến những hậu quả xa xôi - không chỉ là những hậu quả tự nhiên, mà cả những hậu quả xã hội, sau này mới xuất hiện. Kết luận khoa học và sâu sắc trên của Ph.Ăngghen được đúc rút từ hoạt động thực tiễn của con người, phản ánh lôgíc và quy luật của hiện thực khách quan. Với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử xã hội chỉ là sự tiếp tục lịch sử tự nhiên, con người cũng chỉ là một bộ phận của tự nhiên; do đó, con người không thể đối xử với tự nhiên bằng thái độ và hành động của kẻ đứng ngoài tự nhiên, không tính đến hoặc bất chấp các quy luật của tự nhiên.
Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, con người cải biến tự nhiên trên cơ sở nhận thức và hành động theo quy luật khách quan. Một trong những ưu thế làm nên sức mạnh và cũng là điểm khác biệt quan trọng của con người so với các loài động vật khác là ở chỗ, con người có ý thức, biết tư duy, có thể nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên và do đó, có hành động ngày càng phù hợp với các quy luật ấy. Với quan điểm biện chứng và khoa học, Ph.Ăngghen khẳng định: "Sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác”[9]. Luận điểm đó của Ph.Ăngghen đã làm rõ tính quy định lẫn nhau giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử con người, qua đó khẳng định sự phát triển hài hòa giữa con người và tự nhiên. Nhờ có năng lực nhận thức và nắm được được những quy luật của giới tự nhiên, con người có thể tiên liệu được những hậu quả tự nhiên và xã hội để chủ động có sự định hướng đúng đắn và điều chỉnh một cách phù hợp những hành động của mình nhằm duy trì và bảo đảm sự hài hòa trong quan hệ với tự nhiên.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên – cơ sở lý luận để Việt Nam phát triển nền nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn và bền vững
Dựa trên thế giới quan mácxít và tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh sớm thấy một trong những cơ sở quan trọng nhất cho sự tồn tại, phát triển bền vững của con người và xã hội loài người chính là tự nhiên. Thực vậy, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ và mang tính cộng sinh, cùng tồn tại. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, người cộng sản còn cần phải hiểu biết tự nhiên để sử dụng tự nhiên phục vụ hạnh phúc của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra tác hại không thể lường do những hoạt động mang tính “tước đoạt, bóc lột” tự nhiên của con người; đồng thời, nghiêm khắc phê phán tình trạng khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, coi đó là hành vi “đem vàng đổ xuống biển” và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước.
Xuất phát từ những nhận thức trên về vai trò của tự nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc giữ gìn, bảo vệ và chăm sóc tự nhiên; coi đó là kế lâu dài để duy trì sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người trong hiện tại cũng như trong tương lai. Một mặt, Người nhắc nhở nhân dân tích cực sản xuất, cần cù lao động nhưng phải thực hành tiết kiệm; không chỉ tiết kiệm về thời gian, sức lực, mà tiết kiệm cả trong tiêu dùng của cải. Bản thân Người đã nêu một tấm gương mẫu mực về lối sống giản dị, tiết kiệm: ngôi nhà sàn đơn sơ, bữa cơm thanh đạm, giường mây, chiếu cói... Tiết kiệm ở đây hoàn toàn không phải như một sự “ép xác”, mà chính là để xây dựng nước nhà. Có thể nói, tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, nhất là trong điều kiện ngày nay, khi mà con người hiện đang phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và yêu cầu sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hiện trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của chiến lược phát triển bền vững mà nhân loại đang hướng đến. Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả mọi người, mọi ngành phải tích cực tham gia gìn giữ tự nhiên, bảo vệ môi trường sống: đối với nông nghiệp, phải làm tốt công tác thuỷ lợi, coi đó là biện pháp quan trọng hàng đầu; đối với ngư nghiệp, ngoài việc đánh cá, phải chú ý nuôi cá; đối với lâm nghiệp, phải coi trọng việc trồng cây gây rừng... Đặc biệt, năm 1959, 13 năm trước khi Hội nghị quốc tế về môi trường lần đầu tiên được tổ chức tại Helsinki (Phần Lan), Hồ Chí Minh đã đề xuất Tết trồng cây - một “sáng kiến vĩ đại” đem lại những nguồn lợi to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần cho đất nước và nhân dân. Xét từ góc độ sinh thái học hiện đại cũng như quan điểm phát triển bền vững, phong trào Tết trồng cây là một biểu hiện độc đáo và sinh động trong thực tế của hệ giá trị văn hoá sinh thái nhân văn của dân tộc Việt Nam.
Tóm lại, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan hệ giữa con người với tự nhiên là quan hệ hài hoà, đồng tiến hoá... Có thể khẳng định rằng, Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng, một sự mẫu mực trong việc nhận thức đúng đắn, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam. Quán triệt nguyên tắc đó luôn là điểm xuất phát cả trong tư tưởng lẫn hành động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã có những đóng góp to lớn trong việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, đặc biệt là tư tưởng về mối quan hệ hài hòa, đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên. Tư tưởng đó của Người đã xác lập cơ sở lý luận cho đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững.
1.3. Một số lý thuyết hiện đại về phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn
Nông nghiệp sinh thái là hệ thống thống sản xuất mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên, nhằm tối ưu hóa tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các lý thuyết nền tảng về phát triển nông nghiệp sinh thái bao gồm lý thuyết hệ thống, lý thuyết sinh thái nông nghiệp, lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết chuyển đổi xanh và thích ứng. Cụ thể:
Lý thuyết hệ thống (Systems Theory) xác định nông trại hoặc vùng nông nghiệp là một hệ thống mở gồm các yếu tố cấu thành (cây trồng, vật nuôi, đất, nước, con người, kinh tế) có mối quan hệ tương tác qua lại mật thiết với nhau và do đó, cần phải thực hiện phương thức quản lý toàn diện thay vì chỉ tập trung vào một loại cây hay con vật đơn lẻ; tối ưu hóa chu trình khép kín trong nông trại (ví dụ: phụ phẩm trồng trọt làm thức ăn chăn nuôi, chất thải chăn nuôi ủ phân bón cho cây… theo mô hình VAC đã được áp dụng ở Việt Nam thời gian qua).
Lý thuyết sinh thái nông nghiệp (Agroecology) chủ trương áp dụng các nguyên lý sinh thái học vào tổ chức và quản lý hệ thống nông nghiệp bền vững với các nguyên tắc cơ bản: bảo đảm và tăng cường tính đa dạng sinh học (trồng xen canh, luân canh, kết hợp nuôi trồng theo các mô hình lúa – cá, lúa – tôm…); thúc đẩy các cơ chế tự nhiên như sử dụng côn trùng có ích trị sâu bệnh, các chế phẩm sinh học thay thế cho việc dùng hóa chất nhân tạo độc hại.
Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable Development Theory) đưa ra quan niệm tích cực về phát triển, đó là sự phát triển phải đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Theo đó, sự phát triển dựa trên các trụ cột cơ bản: về kinh tế, đó là nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng và sinh kế cho nông dân; về xã hội, phải bảo đảm an toàn thực phẩm, công bằng xã hội và gìn giữ văn hóa nông thôn; về môi trường: chủ trương giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ nguồn đất, nước và đa dạng sinh học.
Lý thuyết chuyển đổi xanh và thích ứng (Transition & Adaptation Theories) hướng tới sự tập trung vào khả năng chống chịu và thích ứng của hệ thống nông nghiệp trước biến đổi khí hậu và các cú sốc kinh tế thị trường; chủ trương thực hiện biện pháp có tính cách mạng trong sản xuất nông nghiệp, đó là chuyển đổi quá trình sản xuất từ canh tác thâm dụng hóa chất sang nông nghiệp phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn và tái sinh các nguồn lực tự nhiên.
II. Thực tiễn và yêu cầu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường và phát triển nông thôn bền vững
2.1. Nền nông nghiệp thâm canh giai đoạn cách mạng xanh trước đây dẫn đến tình trạng suy giảm chất lượng tài nguyên đất, nước và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Nền nông nghiệp thâm canh giai đoạn cách mạng xanh trước đây ở nước ta từ những năm 60-80 của thế kỷ trước đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về suy giảm tài nguyên đất, nước và ô nhiễm môi trường.
Thứ nhất, tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường đất: đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp bị suy giảm độ phì nhiêu tự nhiên. Việc tăng vụ, canh tác quay vòng liên tục để bảo đảm lương thực thực phẩm đã khiến đất đai không có thời gian “nghỉ”, bị khai thác triệt để dẫn đến tình trạng cạn kiệt chất dinh dưỡng tự nhiên, làm cho đất bị bạc màu, biến đổi tính chất hóa học. Việc lạm dụng phân bón hóa học, đặc biệt là phân đạm và lân, thuốc trừ sâu… gây ra hiện tượng axit hóa đất (đất bị chua), làm thay đổi cấu trúc và phá hủy hệ sinh thái vi sinh vật có ích trong đất. Việc sử dụng máy móc cơ khí làm cho nền đất bị nén chặt, suy giảm độ tơi xốp, cản trở sự phát triển của cây trồng.
Thứ hai, tình trạng ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng do chất hóa học bị rửa trôi. Lượng phân hóa học dư thừa không được cây cối hấp thụ bị nước mưa rửa trôi vào các vùng nước mặt (ao hồ, kênh mương) và mạch nước ngầm; đồng thời, gây ra tình trạng phú dưỡng (dư thừa dinh dưỡng trong nước) gây hiện tượng bùng nổ tảo, làm cạn kiệt oxy trong nước và tiêu diệt các loài thủy sinh.
Thứ ba, suy giảm đa dạng sinh học. Cuộc cách mạng xanh tập trung vào việc tạo và sản xuất các loại gống cây trồng, vật nuôi cao sản, thời gian sinh trưởng ngắn để tăng vụ… dẫn đến tình trạng nhiều loại giống bản địa bị mất đi. Bên cạnh đó, tác động của thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, diệt cỏ…) tiêu diệt cả sinh vật có hại lẫn sinh vật có ích (côn trùng thụ phấn, chim chóc, vi sinh vật trong đất) làm nghèo nàn chuỗi thức ăn tự nhiên.
Thứ tư, tình trạng mất cân bằng sinh thái nông nghiệp và sự bùng nổ của dịch bệnh. Việc trồng các diện tích lớn cây trồng theo phương thức độc canh tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh thích nghi và bùng phát thành dịch bệnh dữ dội hơn, đòi hỏi phải tăng lượng thuốc trừ sâu.
Thứ năm, sự gia tăng khí phát thải nhà kính. Việc sản xuất phân bón hóa học tiêu thụ lượng lớn nhiên liệu hóa thạch, trong khi quy trình canh tác lúa nước thâm canh và phân bón quá mức làm tăng phát thải khí metan và nitơ oxít vào khí quyển
2.2. Phát triển nông nghiệp sinh thái là yêu cầu tất yếu khách quan
Phát triển nông nghiệp sinh thái là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các đòi hỏi ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng của các tổ chức quốc tế và các quốc gia, đồng thời đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế bền vững. Nền nông nghiệp sinh thái đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường. Người tiêu dùng ngày càng lựa chọn sử dụng nông sản sạch, an toàn và thân thiện với môi trường.
Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Mô hình nông nghiệp sinh thái giúp giảm chi phí đầu vào, tối ưu hóa tài nguyên và tăng chất lượng, giá bán cho nông sản hàng hóa
Thích ứng với biến đổi khí hậu. Nền nông nghiệp theo phương thức canh tác sinh thái giúp phục hồi hệ sinh thái đất, bảo vệ nguồn nước và giảm phát thải khí nhà kính.
2.3. Chuyển đổi tư duy từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, gắn sản xuất với bảo vệ hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững.
Đó là sự dịch chuyển trọng tâm từ chạy theo số lượng, năng suất thuần túy sang tối ưu hóa giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích và đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tập trung vào gia tăng chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng cao. Lấy thị trường làm căn cứ đế xây dựng kế hoạch canh tác, nuôi trồng. Đặc biệt là phát triển chuỗi giá trị và liên kết, gắn kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà khoa học, nhà phân phối, đưa nông sản tham gia sâu vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế. Tích hợp đa giá trị và tuần hoàn, cụ thể là khai thác kinh tế tuần hoàn (tận dụng các phụ phẩm), kết hợp nông nghiệp với du lịch sinh thái, văn hóa bản địa để nâng cao tổng thu nhập. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ số, đưa công nghệ cao, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số vào toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh.
Trên đây là một số nội dung cơ bản liên quan đến cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường và phát triển nông thôn bền vững./.