Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với nông nghiệp Việt Nam đã có sự thay đổi căn bản. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là nâng cao sản lượng, bảo đảm lương thực và tăng trưởng nông nghiệp, thì hiện nay yêu cầu đặt ra là phải đồng thời đạt được nhiều mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập của nông dân, bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và xây dựng nông thôn hiện đại, văn minh, đáng sống. Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã định hướng: Việt Nam cần phải “Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu,… chuyển đổi số, chuyển đổi xanh”[1].
Từ những định hướng trên, có thể thấy phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững không phải là một lĩnh vực riêng biệt của ngành nông nghiệp, mà là một bộ phận quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển lực lượng sản xuất mới, xây dựng nền kinh tế xanh và thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Vậy, định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam để phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững cần được nhận thức trên những phương diện nào? Có thể định vị qua những nội dung sau:
1. Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững là định hướng xuyên suốt trong phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững không phải là nhận thức bất chợt mà là định hướng có tính chiến lược trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn là lĩnh vực có vị trí chiến lược; đồng thời xác định muốn phát triển nông nghiệp bền vững thì phải phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Định hướng này được khẳng định mang tính tổng thể trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã xác định: “Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu”[2]
Đặc biệt, đến Đại hội XIII của Đảng đã xác định yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Đồng thời, Đảng ta nhấn mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ mới, nâng cao giá trị gia tăng. Đúng như Nghị quyết Đại Đảng lần thứ XIII đã chỉ ra: “Nông nghiệp có bước chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế; kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển”[3]
Điểm quan trọng trong định hướng này là sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển: từ mục tiêu chủ yếu là tăng sản lượng sang chú trọng đồng thời các yếu tố hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng, sức khỏe con người và chất lượng môi trường sinh thái. Nông nghiệp không còn được nhìn nhận đơn thuần là hoạt động khai thác đất đai, nước và các nguồn tài nguyên để tạo ra sản phẩm, mà phải trở thành một hệ thống kinh tế - sinh thái có khả năng tái tạo nguồn lực và duy trì cân bằng tự nhiên.
Tiếp tục khẳng định và hoàn thiện quan điểm phát triển này, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định nông dân là chủ thể, nông nghiệp là nền tảng, nông thôn là địa bàn, đồng thời hướng tới xây dựng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Theo tinh thần đó, “Nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế”[4]; phát triển nông nghiệp phải hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị, bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường sinh thái và khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định về những kết quả đạt được của hướng này khi chỉ ra “quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu có bước chuyển biến tích cực”[5]
Như vậy, nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững cần được nhận thức không phải là những mô hình sản xuất riêng lẻ mà là một định hướng chuyển đổi phương thức phát triển của toàn ngành nông nghiệp.
2. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái
Một nội dung xuyên suốt trong quan điểm của Đảng là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn và nông dân với bảo vệ môi trường. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, bền vững tài nguyên; bảo vệ môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; đồng thời phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường. Theo đó, cần “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh,... nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu,…Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;… xây dựng nông thôn mới nâng cao, xây dựng đời sống văn hoá, nông thôn mới kiểu mẫu và bảo vệ môi trường sinh thái”[6].
Đối với nông nghiệp, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt bởi sản xuất nông nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào đất, nước, khí hậu và các hệ sinh thái tự nhiên. Việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, khai thác quá mức nguồn nước, xử lý chưa tốt chất thải chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và phụ phẩm nông nghiệp có thể gây suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước, phát sinh khí nhà kính và làm suy giảm đa dạng sinh học. Do đó, định hướng phát triển nông nghiệp xanh đòi hỏi phải chuyển từ mô hình sản xuất dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang mô hình sử dụng tiết kiệm tài nguyên và tái tạo nguồn lực. Đồng thời, phải triển khai hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp: giảm đầu vào tài nguyên, giảm chất thải, kéo dài vòng đời vật chất và biến chất thải của quá trình sản xuất này thành đầu vào của quá trình sản xuất khác. Nghị quyết số 19-NQ/TW đã chỉ ra hướng phát triển này khi nhấn mạnh, phải quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh; đồng thời tăng cường bảo vệ môi trường nông thôn và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu[7].
Đại hội XIV khẳng định rõ hơn về hướng phát triển này khi nhấn mạnh “Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao,.... Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật, thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống người dân”. “... Quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được tăng cường; thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu được nâng lên”[8].
3. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực của nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đã chỉ rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”[9]. Bởi vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững không thể không dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Văn kiện Đại hội XIV một lần nữa khẳng định: “… khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời nhấn mạnh phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn”[10].
Như vậy, định hướng quan trọng ở đây chính là đưa khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành nền tảng thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp. Nông nghiệp xanh và tuần hoàn đòi hỏi những phương thức sản xuất mới dựa trên tri thức, công nghệ và quản trị hiện đại. Công nghệ cảm biến, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, công nghệ tưới tiết kiệm, công nghệ xử lý chất thải và công nghệ bảo quản, chế biến có thể giúp giảm đáng kể lượng tài nguyên sử dụng trong quá trình sản xuất. Chuyển đổi số còn cho phép hình thành hệ thống quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản, giám sát điều kiện sản xuất, kiểm soát chất lượng và kết nối cung - cầu. Qua đó, người sản xuất có thể chuyển từ phương thức “sản xuất những gì mình có” sang sản xuất theo tín hiệu thị trường, đồng thời đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường.
Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh định hướng này khi đánh giá nông nghiệp Việt Nam đã từng bước phát triển theo hướng “sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao”[11]; đồng thời xác định nhiệm vụ “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp”[12]
Đi liền với đó, Đại hội XIV yêu cầu “hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường và phát triển thị trường tín chỉ carbon”; … “Xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường”[13].
4. Phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn chính là phát triển nông nghiệp sinh thái; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nông dân
Theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, phát triển nông nghiệp phải chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Điều đó có nghĩa là một sản phẩm nông nghiệp không chỉ được đánh giá bằng sản lượng mà còn bằng khả năng tạo ra nhiều giá trị khác nhau: giá trị của sản phẩm chính, giá trị từ phụ phẩm, giá trị môi trường, giá trị cảnh quan, giá trị văn hóa và giá trị du lịch. Đây là cơ sở để phát triển các mô hình như nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp kết hợp du lịch, nông - lâm kết hợp, nông nghiệp tuần hoàn và các mô hình sản xuất phát thải thấp.
Định hướng của Đảng nhấn mạnh đến phát triển nông nghiệp sinh thái. Nông nghiệp sinh thái là phương thức phát triển nông nghiệp dựa trên nguyên tắc hài hòa giữa phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và nâng cao đời sống của người nông dân. Khác với mô hình sản xuất nông nghiệp thiên về khai thác tối đa đất đai, nước và vật tư đầu vào, nông nghiệp sinh thái coi hệ sinh thái nông nghiệp là một chỉnh thể, trong đó đất, nước, cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và con người có mối quan hệ tương tác chặt chẽ. Mục tiêu không chỉ là tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn, chất lượng mà còn duy trì khả năng tái tạo của tự nhiên và bảo đảm sự phát triển lâu dài. Về lâu dài, nông nghiệp sinh thái không chỉ là một phương thức sản xuất mà còn là một trụ cột phát triển nông nghiệp bền vững, hướng tới nền nông nghiệp có năng suất và giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp xanh, sinh thái và tuần hoàn”, qua đó tạo nền tảng cho phát triển nông thôn bền vững trong giai đoạn mới.
Nông nghiệp sinh thái cũng có ý nghĩa đặc biệt trong việc thích ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các phương thức canh tác bảo vệ đất, sử dụng tiết kiệm nước, phục hồi hệ sinh thái, tăng cường cây xanh và nâng cao hàm lượng chất hữu cơ trong đất có thể góp phần giảm phát thải khí nhà kính, tăng khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của sản xuất trước hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đối với Việt Nam, đây là hướng đi có ý nghĩa quan trọng, nhất là tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các vùng chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, Kết luận số 219-KL/TW nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thời tiết, sự cố, thảm họa để chủ động thích ứng và giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất và đời sống người dân[14].
Định hướng của Đảng không đặt vấn đề bảo vệ môi trường tách rời mục tiêu nâng cao đời sống người dân. Nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn phải tạo ra giá trị kinh tế mới, sinh kế mới và việc làm mới cho nông dân. Hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số.
Cùng với đó, người nông dân phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi. Nông dân không chỉ là người trực tiếp sản xuất mà còn là chủ thể tham gia bảo vệ tài nguyên, môi trường và xây dựng nông thôn xanh. Vì thế, Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu người nông dân có trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật và bảo vệ môi trường[15].
5. Phát triển nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được những yêu cầu chiến lược trong giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến 2045
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định mục tiêu chiến lược đến năm 2030 xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững; nông thôn phát triển toàn diện; nâng cao thu nhập người dân và bảo đảm môi trường sinh thái; đồng thời đặt ra mục tiêu chiến lược đến năm 2045 hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong nước và quốc tế; nông thôn hiện đại, có môi trường sống xanh, sạch, đẹp.
Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 85/NQ-CP của Chính phủ ngày 04/04/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, trong đó xác định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, năng suất và chất lượng cao, phát triển bền vững; chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng tài nguyên hợp lý và hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Điểm nhấn trong Nghị quyết số 85/NQ-CP là đã yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh, gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi; thúc đẩy chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững[16].
Theo tinh thần đó, phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến 2045 phải đáp ứng được những yêu cầu chiến lược là: chuyển đổi tư duy phát triển: từ sản lượng sang giá trị; từ sản xuất sang kinh tế nông nghiệp; từ khai thác tài nguyên sang sử dụng hiệu quả tài nguyên; từ tăng trưởng đơn thuần sang tăng trưởng xanh; chuyển đổi phương thức sản xuất: từ sản xuất phân tán sang liên kết chuỗi; từ sử dụng nhiều đầu vào sang sử dụng hiệu quả đầu vào; từ tuyến tính sang tuần hoàn; từ thủ công sang số hóa và tự động hóa; chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất: tăng cường hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp - nông dân, phát triển vùng nguyên liệu và các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh quốc tế; chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đồng thời: không tách biệt chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Dữ liệu số giúp đo lường phát thải, quản lý tài nguyên, truy xuất nguồn gốc và tối ưu hóa sản xuất; chuyển từ thích ứng bị động sang chủ động thích ứng: biến đổi khí hậu phải được tính đến ngay từ khâu quy hoạch, lựa chọn cây trồng, vật nuôi, xây dựng hạ tầng và tổ chức thị trường.
6. Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn phải phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Văn kiện Đại hội XIV xác định kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là những trọng tâm của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực chính. Như vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn không nằm ngoài quá trình phát triển đất nước mà chính là một bộ phận của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển lực lượng sản xuất mới. Từ đây, việc phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn đã mang lại ý nghĩa rộng lớn cho mô hình phát triển đất nước. Một là, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng: thay vì tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, nền nông nghiệp mới dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng. Hai là, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam: trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng coi trọng tiêu chuẩn môi trường, phát thải và truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh trở thành điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường. Ba là, góp phần bảo đảm an ninh lương thực: an ninh lương thực trong điều kiện mới không chỉ là đủ lương thực mà còn phải bảo đảm hệ thống sản xuất có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và các cú sốc thị trường. Bốn là, góp phần bảo vệ tài nguyên và hệ sinh thái: nông nghiệp xanh và tuần hoàn giúp giảm áp lực lên đất, nước và hệ sinh thái. Năm là, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nông dân: khi giá trị gia tăng của sản phẩm tăng, chuỗi giá trị được tổ chức tốt và thị trường ổn định, thu nhập của người dân có điều kiện được cải thiện. Sáu là, góp phần xây dựng nông thôn đáng sống: nông thôn bền vững không chỉ có thu nhập mà còn có môi trường tốt, văn hóa phong phú, hạ tầng hiện đại và dịch vụ xã hội chất lượng. Bảy là, góp phần thực hiện mô hình tăng trưởng mới: mà theo đó “…phát triển các mô hình kinh tế mới … như: Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn” … “để xác lập mô hình tăng trưởng mới”[17]
7. Định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên số, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững cần được đặt trong tổng thể quá trình xây dựng nền kinh tế xanh và phát triển bền vững của Việt Nam. Theo tinh thần chỉ đạo và triển khai nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong các văn kiện: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 04/04/2026 của Chính phủ, Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/1/2026 của Chính phủ, Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ có thể rút ra một số định hướng lớn cần tập trung thực hiện trong phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững để đáp ứng kỷ nguyên số là: Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nghĩa là, phải chuyển từ tư duy "tăng sản lượng" chuyển sang "tăng giá trị"; từ "khai thác tài nguyên" sang "tái tạo tài nguyên"; từ "sản xuất đơn ngành" sang "tích hợp đa giá trị"; từ "ứng phó" sang "chủ động thích ứng". Thứ hai, lấy hệ sinh thái làm nền tảng của phát triển, theo đó, mọi quy hoạch và dự án nông nghiệp phải tính đến sức chịu tải của đất, nước, hệ sinh thái và biến đổi khí hậu. Thứ ba, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính mà ở đó, công nghệ sinh học, công nghệ số, AI, tự động hóa, công nghệ xử lý chất thải và công nghệ năng lượng cần trở thành những động lực quan trọng của nông nghiệp xanh. Thứ tư, lấy nông dân làm chủ thể: cần phải định vị và quán triệt mọi chính sách chuyển đổi xanh phải tạo ra lợi ích thực tế cho nông dân, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Thứ năm, lấy doanh nghiệp và hợp tác xã làm lực lượng tổ chức sản xuất: phải nhận thức rõ doanh nghiệp và hợp tác xã cần đóng vai trò kết nối nông dân với khoa học, công nghệ và thị trường. Thứ sáu, lấy thị trường làm tiêu chí để đánh giá: phát triển kinh tế nông nghiệp sinh thái, xanh, bền vững chính là khẳng định rõ nét: sản phẩm xanh phải được định giá và thương mại hóa tương xứng với giá trị môi trường. Thứ bảy, lấy chuyển đổi số làm công cụ hỗ trợ quản trị: việc hình thành, xây dựng và sử dụng dữ liệu về đất đai, nước, khí hậu, sản xuất, phát thải và thị trường cần được kết nối để hình thành hệ thống quản trị nông nghiệp thông minh.
KẾT LUẬN
Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững là định hướng có tính chiến lược trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Từ Nghị quyết số 19-NQ/TW đến Kết luận số 219-KL/TW, từ Quyết định số 150/QĐ-TTg đến Nghị quyết số 85/NQ-CP và đặc biệt là Văn kiện Đại hội XIV, nhận thức và định hướng chính sách đối với nông nghiệp ngày càng được hoàn thiện theo hướng tích hợp giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, ứng dụng khoa học - công nghệ và phát triển xã hội nông thôn.
Có thể thấy, định hướng của Đảng về phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường là sự phát triển nhất quán của tư duy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ mới. Đây là hướng đi nhằm đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu: bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản, cải thiện thu nhập của nông dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là một phương thức quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng, hình thành các động lực phát triển mới và xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) - Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
2. Bộ Chính trị - Nghị quyết Số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
3. Bộ Chính trị (2025) - Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương ảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045,
4. Chính phủ. (2023). Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19- NQ/TW.
5. Chính phủ. (2026). Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 04/04/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW.
6. Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
7. Chính phủ. (2026). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/1/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
11. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 của Chính phủ phê duyệt về “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050”.
12. Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
13. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/1/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
14. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.
15. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 18/6/2022 về một số nhiệm vụ thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu.
16. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 888/QĐ-TTg ngày 25/7/2022 về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị COP26.
17. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
[1]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.108
[2]Xem: Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 của Chính phủ phê duyệt về “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050”.
[3]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2021, tr.61
[4]Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) - Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-19-nq-tw-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-thon-119220626164012907.htm, 26/06/2022
[5]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.46
[6]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2021, tr.124-125
[7]Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) - Nghị quyết số 19-NQ/TW, Tlđd
[8]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.47,48, 49
[9]Bộ Chính trị - Nghị quyết Số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Nghi-quyet-57-NQ-TW-2024-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-637245.aspx
[10]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.90-91,93
[11]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.47
[12]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.93
[13]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.111
[14]Bộ Chính trị - Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-219-kl-tw-ngay-26-11-2025-cua-bo-chinh-tri-ve-tiep-tuc-thuc-hien-nghi-quyet-so-19-nq-tw-ngay-16-6-2022-cua-b.html
[15]Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) - Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Tlđd
[16]Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 04/04/2026 của Chính phủ: Về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
[17]ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB CTQG ST, HN 2026, tr.88