Đoàn Triệu Nhạn sinh năm 1934 tại làng Mai Dịch, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội, nhưng lại lớn lên từ căn cứ địa Kháng chiến ATK (An toàn khu) ở Việt Bắc. Thân sinh ông, như bao nhiêu thanh niên trước Cách mạng tháng Tám, ly hương hướng tới một phương nào đó để lập thân rồi bặt vô âm tín vào năm 1937. Chính cái lý lịch “cha mất tích” này có lúc đã làm phiền toái ông không ít trên đường đời. Vắng cha từ tuổi lên 3, ông lớn lên trong tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của bà, của mẹ và em gái.

Kháng chiến bùng nổ, đêm 19/12/1946 ông theo mẹ gồng gánh đưa bà và em sang Diễn, từ đó qua Canh, giặc đuổi sau lưng, chạy lên Sơn Tây rồi lần hồi lên tản cư tại Phú Thọ. Đang tuổi ăn tuổi lớn từ thành phố lên rừng núi giờ cậu thiếu niên cao kều gầy đét phải đóng vai một “lực điền” không từ việc gì không làm, vì dù sao ông cũng là con trai cả trong nhà. Một buổi bất ngờ gặp lại thầy giáo cũ ở trường tiểu học Nguyễn Trãi, thầy chỉ dẫn cho ông theo học trường Trung học Kháng chiến Hùng Vương ở Cẩm Khê rồi Đào Giã.
Kết thúc bậc phổ thông 9 năm, năm 1952 ông được chọn đi học nước ngoài. Các học trò đi bộ từ khắp các vùng đến tập trung chỉnh huấn trong rừng Tuyên Quang, rồi lại luồn rừng lội suối vượt biên giới sang Trung Quốc, từ đó đi xe tải sang Bằng Tường để đến Quế Lâm học tiếng Trung. Ông được phân công về Hoa Nam Nông học viện đóng tại Quảng Châu. Đấy là vào năm 1953, Trung Quốc mới qua chiến tranh được 3 năm, Trường cũng vừa thành lập, nhóm của ông thuộc lứa sinh viên khóa đầu của Học viện.
Sau khi tốt nghiệp kỹ sư nông học về nước 1958 ông được phân công về Vụ Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp chỉ đạo công tác phục hồi nông nghiệp. Năm 1960 Vụ Quốc doanh nông nghiệp và Cục Nông binh được thành lập để rồi sau đó ra đời Bộ Nông trường Quốc doanh (1961-1971). Ông bước sang sự nghiệp nghiên cứu một cách tình cờ chỉ vì một tiêu chuẩn chọn người không giống ai của một bậc đàn anh: “Chủ nhật mà cậu ở lại cơ quan đọc sách chứ không đi chơi !”. Thế là ít ngày sau ông dời Thủ đô vào Phủ Quì tham gia thành lập Trạm Nghiên cứu Cây Nhiệt đới Tây Hiếu trên vùng đất đỏ bazan vốn là những đồn điền cà phê của người Pháp bỏ hoang sau 9 năm chiến tranh, người thưa vắng và rừng rậm rạp. Tại đây ông đã khởi xướng những nghiên cứu về đất đồi trồng cây lâu năm đặt cơ sở đầu tiên cho mảng nghiên cứu chuyên sâu về đất đồi núi Việt Nam sau này. Hoàn cảnh chiến tranh chưa cho phép làm nhiều nhưng tầm nhìn xa về các vấn đề cơ bản thổ nhưỡng nhiệt đới ẩm đã được phác thảo như bảo vệ đất, vật lý đất, chất hữu cơ và độ phì nhiêu đất, v.v.
Năm 1964 ông được trở lại Trung Quốc làm “tiến tu sinh” (nghiên cứu sinh) tại học viện cũ với đề tài “Sử dụng đất đỏ trên đá mẹ đệ tứ kỷ ở Quảng Đông” dưới sự hướng dẫn khoa học của GS Chu Tổ Tường. Đang cao trào của cái gọi là “Cách mạng Văn hóa” của Trung Quốc, các GS bị những phần tử “tạo phản” chụp mũ dài và đấu tố, không còn ai ký bằng Thạc sĩ cho ông. Dù tâm trạng ngổn ngang, ông đem kết quả khảo cứu trở về áp dụng vào đất đỏ bazan Phủ Quỳ, từ đây hướng nghiên cứu đất đồi và cây lâu năm đã định hình và rồi gắn bó với ông trong suốt cuộc đời. Cận ngày toàn thắng, năm 1975 ông được gọi học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, rồi nhận nhiệm vụ Phó viện trưởng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa. Ông đã góp phần xây dựng Viện từ một cơ sở nghèo nàn sau chiến tranh thành một trung tâm nghiên cứu đất và phân bón chuyên ngành của toàn quốc.
Năm 1980, nhận nhiệm vụ tại Công ty Cà phê Ca cao, ông không làm việc tại thành phố biển Nha Trang mà dời ngay lên Buôn Ma Thuột, đóng trụ sở trên đất đỏ, sống với người trồng cà phê và từ đây dưới sự lãnh đạo của ông Công ty đã phát triển thành Liên hiệp các Xí nghiệp Cà phê rồi Tổng công ty Cà phê Việt Nam sau này. Ngành cà phê nước ta từ vài nghìn ha èo ọt những cuối năm 1970, năng suất mục tiêu chỉ chung quanh 1 tấn nhân/ha mà cũng không đạt; đến nay đã thành một thương phẩm chủ lực với năng suất cao bậc nhất thế giới và kim ngạch xuất khẩu đã đứng hàng đầu Việt Nam. Từng bước phát triển của ngành đều có thể thấy dấu ấn đóng góp của ông. Ký giả Maja Walengren gọi Đoàn Triệu Nhạn là “Ông Cà phê”, gắn cái tên ấy với tiếng tăm cà phê nước ta, trên tạp chí Tea and Cofee Trade Journal tháng 4/2013 bà viết “Đoàn Triệu Nhạn, Mr Coffee người đã định hình thương hiệu cà phê Việt Nam”.
Là nhà khoa học, ông coi trọng việc đầu tư cho khoa học công nghệ. Ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ làm cà phê, khi được đề đạt nguyện vọng, ông chỉ xin một điều là được nhận Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm nghiệp Eakmat về để thành lập Viện Nghên cứu Cà phê Việt Nam (nay là Viện Nghiên cứu Nông lâm nghiệp Tây Nguyên). Những kết quả của Viện này cùng với việc tiếp nhận các thành tựu cà phê thế giới và kinh nghiệm từ những nước sản xuất cà phê lâu đời như Braxin, Colombia, Peru, Ấn Độ, Kenia, Côte d’Ivoire, …đã nâng tầm cà phê Việt Nam lên thứ hạng hiện thời. Tuy bận công tác quản lý nhưng ông luôn theo sát các nghiên cứu về đất và phân bón, bảo vệ thực vật, di truyền, chọn giống, chế biến, xây dựng tiêu chuẩn cà phê, xây dựng quy trình kỹ thuật cho ngành cà phê.
Những ngày đầu vô vàn khó khăn, thiếu gạo, thiếu điện, thiếu xăng dầu, bất an xã hội, yếu kém hạ tầng, thông tin chỉ có đánh mooc; Fulro còn lẩn khuất trong rừng khộp, … Ở vị trí thủ lĩnh ngành, Đoàn Triệu Nhạn cùng cộng sự của mình đã đồng cam cộng khổ với công nhân các dân tộc, với những người lính từ các sư đoàn 331, 333, 359 chưa biết cây cà phê là gì, kiên trì hướng dẫn họ để đưa Tây Nguyên trở thành thủ phủ cà phê như ngày nay. Trong 20 năm ấy, khó mà kể hết biết bao thử thách đã phải đối đầu, biết bao khó khăn đã phải tháo gỡ. Khóa học quản lý kinh tế ở Liên Xô (1989) không giúp gì nhiều vì kinh tế Liên Xô cũng đang bờ vực sụp đổ. Tư duy khoa học lại giúp ông rất hữu hiệu trong quản lý kinh tế, thoát hiểm khi mô hình kế hoạch hóa tập trung suýt đưa các nông trường quen ăn bao cấp xuống vực phá sản. Ông đã đề xướng nhiều chủ trương đổi mới kịp thời: năm 1983-1984, chủ trương chia đất cho người lao động trồng cà phê; năm 1986 mở Hội nghị Cà phê nhân dân tại Đà Lạt để bàn về các chính sách giúp nhân dân vay vốn trồng cà phê nông hộ, chủ trương kết hợp trồng cà phê với công tác định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và cả những người nghèo tay không ở miền Bắc vào, những người thất nghiệp từ thành phố bồng bế nhau lên.
Thế rồi, các doanh trại quân đội dần trở thành những vùng quê trù phú, kinh tế hộ từ những vườn cà phê đã trở thành những mái ấm gia đình an cư lạc nghiệp trên vùng đất đỏ bazan, đây là điểm tựa bền vững về mặt xã hội gắn với phát triển cà phê. Theo dấu chân người trồng cà phê, mọc lên những vùng cư dân trù phú trải rộng khắp các tỉnh Đak Lak, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng. Ngày nay du khách qua đèo Phượng Hoàng sẽ khó hình dung thị trấn Ea Knốp xưa từng là bản doanh dã chiến của binh đoàn 719 anh hùng với các tướng tá và binh sĩ can trường vừa tiễu phỉ vừa góp phần tạo dựng cơ ngơi ngành cà phê bất chấp đói rét bệnh tật. Để rồi Tây Nguyên không chỉ “có cái nắng, có cái gió, có cái đó”, mà còn có “Ly cà phê Ban Mê” lưu luyến “đến Tây Nguyên người ở đừng về”…
Nỗ lực của ông được ghi nhận với các danh hiệu Anh hùng lao động, đại biểu Quốc hội và nhiều huân chương, huy chương, khen thưởng khác. Liệu có gì ẩn sau những vinh dự ấy ?. Có đấy. Những đồn đãi, những hiểu lầm, những toan tính quanh ông,… Là người nhạy cảm ông biết, nhưng lòng sắt son với sự nghiệp suốt đời giúp ông coi chuyện đo như những bóng mây qua…., dấu ấn để lại ở ông chỉ là một người lạc quan cách mạng mà người đương thời sẽ ngày càng hiếm gặp.
Có lẽ, đi theo sự nghiệp phát triển cà phê Việt Nam, hòa mình trong giới khoa học, sát cánh với những người lính và chia sẻ với những người công nhân, những trí thức trẻ khởi nghiệp từ đói rách đã tạo cho ông sự bền bỉ, dẻo dai về sức khỏe và năng lực trí tuệ. Ở tuổi trên 80 ông vẫn đi xe máy, vẫn làm người phụ việc cho bà nhà bán tạp hóa, rồi lại online giao lưu với các nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh cà phê hàng đầu thế giới. Trong giới khoa học-quản lý nông nghiệp ở cái tuổi này ít ai theo sát được những vấn đề nông học đương đại như ông.
Trên 60 năm học tập và làm việc theo nghề nông, cái chất văn hóa của một người Hà Nội, cái cách tư duy và làm việc rất nghệ sĩ của ông không phai nhạt. Vừa mới ở lô cà phê về đã có thể râm ran chuyện đời với “ông Hoàng thơ tình” Xuân Diệu, đãi thi sĩ bằng ngô nướng với cháo thịt vẹt. Các văn nghệ sĩ thích trò chuyện với ông để hiểu thực tế và có người còn lấy ông làm nguyên mẫu nhân vật tiểu thuyết, có lẽ họ muốn phác thảo một chân dung khá điển hình của một thiếu niên Hà Nội đã nhập cuộc như thế nào vào hai cuộc chiến tranh ái quốc và chuyển mình như thế nào để hòa vào cuộc sống như một trí thức đương đại.
Người anh hùng, đại biểu của dân, nhà khoa học, nhà quản lý, một nhân vật lãng mạn cách mạng,… hòa vào nhau, trong một cái tên “Đoàn Triệu Nhạn” đủ ghi dấu ấn trong tâm thức của bất cứ ai một lần gặp ông./.
Tài liệu tham khảo
1. Bản tin cà phê Việt Nam, tháng 6/2004.
2. Tin tức cuối tuần, Thông tấn xã Việt Nam, số 10 (7-13/3/2013).
3. Cơ sở khoa học của việc phân vùng cà phê Arabica ở Việt Nam, Thạc sĩ Đoàn Triệu Nhạn, Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội, 2004.
4. Tea & coffee, Trade Journal, April/2013, P.68-71.
Hà Nội, Xuân Ất Mùi, 2015
Nguyễn Tử Siêm