Đồng bằng Sông Cửu Long phát triển nông nghiệp “thuận thiên” trước thách thức biến đổi khí hậu

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước – đang chịu tác động trực tiếp và ngày càng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu (BĐKH).

Với gần 4 triệu ha diện tích tự nhiên, trong đó có hơn 2,4 triệu ha đất canh tác và khoảng 700.000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, khu vực này đóng vai trò quyết định đối với an ninh lương thực, xuất khẩu nông sản và sinh kế của hơn 17 triệu dân. Tuy nhiên, BĐKH đang làm thay đổi căn bản cấu trúc sản xuất, đặt ra yêu cầu cấp bách về chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

dt1aluagao-4571-1763362184.jpg

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao được triển khai tại 12 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Internet. 

 

Thách thức gia tăng - Khung chính sách cho chuyển đổi bền vững

Các hiện tượng cực đoan như hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn sâu, sạt lở bờ sông – bờ biển và sụt lún mặt đất xuất hiện với tần suất dày đặc hơn trong những năm gần đây. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến cơ cấu mùa vụ, mà còn buộc các địa phương điều chỉnh quy hoạch vùng sản xuất, kỹ thuật tưới tiêu, biện pháp phòng trừ sâu bệnh và tổ chức mùa vụ.

Nghiêm trọng nhất là xâm nhập mặn tại các tỉnh ven biển. Khi ranh mặn tiến sâu vào nội đồng, diện tích đất sản xuất lúa và hoa màu bị thu hẹp; một số vùng trước đây canh tác ổn định nay rơi vào tình trạng thiếu nước ngọt kéo dài. Sự thay đổi bất thường về thủy văn cũng làm giảm năng suất lúa, cây ăn trái và thủy sản; đồng thời gia tăng rủi ro đối với sinh kế nông thôn.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu chuyển đổi mô hình sản xuất gắn với thích ứng BĐKH không còn là lựa chọn mà đã trở thành đòi hỏi mang tính sống còn đối với toàn vùng.

Nhằm chủ động ứng phó và định hướng phát triển dài hạn cho ĐBSCL, loạt chính sách quan trọng đã được ban hành trong những năm qua. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2030 đặt mục tiêu điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp phù hợp từng vùng sinh thái, thúc đẩy các dự án ứng phó nước biển dâng, hạn mặn; đồng thời xây dựng chiến lược sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông.

Cột mốc đáng chú ý nhất là Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017, với quan điểm phát triển “thuận thiên”, coi quy luật tự nhiên là nền tảng cho quy hoạch, thay vì chống lại thiên nhiên. Trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) triển khai Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững, gắn với Chiến lược nông nghiệp và nông thôn bền vững đến năm 2050.

Tiếp nối tinh thần này, Chỉ thị 08/CT-TTg năm 2022 về phát triển nông nghiệp – nông thôn bền vững ĐBSCL xác định mục tiêu phát triển “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp; phát triển sản phẩm hàng hóa quy mô lớn; gắn sản xuất với dịch vụ logistics, công nghiệp chế biến và du lịch sinh thái; đồng thời bảo đảm an ninh quốc phòng và ổn định xã hội.

Những định hướng này phù hợp với tinh thần Đại hội XIII của Đảng, coi nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững là trụ cột trong bối cảnh BĐKH tác động ngày càng rõ rệt.

Chuyển biến tích cực từ nền tảng cơ sở

Nhờ chính sách đồng bộ, nhận thức của người dân và chính quyền các địa phương trong vùng đã thay đổi rõ rệt. Nhiều mô hình thích ứng từng vùng sinh thái được triển khai, trong đó nổi bật nhất là mô hình lúa – tôm. Ở những khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của mặn – lợ, nông dân cho thấy khả năng thích ứng linh hoạt: mùa khô nuôi tôm sú, mùa mưa trồng lúa. Nguồn rơm rạ trở thành thức ăn tự nhiên cho tôm; chất thải tôm lại là phân hữu cơ cho lúa. Cả hai sản phẩm đều đạt tiêu chuẩn sạch, giá bán ổn định và mang lại thu nhập vượt trội so với độc canh lúa.

Đây là minh chứng tiêu biểu cho tư duy “coi nước mặn, nước lợ là tài nguyên”, biến bất lợi thành lợi thế cạnh tranh.

Cùng với đó, quá trình ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất được thúc đẩy mạnh mẽ: tưới tiêu thông minh, tự động hóa thu hoạch, số hóa quản lý mùa vụ, giám sát dịch bệnh bằng thiết bị cảm biến. Một số vùng đã bắt đầu hình thành các vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ cao, góp phần hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Dấu mốc quan trọng

Một trong những chương trình tạo được dấu ấn rõ rệt nhất là Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai 11 mô hình tại 5 tỉnh ĐBSCL trong vụ Hè – Thu 2025 nhằm thử nghiệm quy trình canh tác giảm phát thải và chuẩn hóa quy trình MRV (đo lường – báo cáo – thẩm định).

Kết quả ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực:

Giảm 50–65% lượng giống gieo sạ;

Giảm trung bình 31,3% lượng phân bón;

Giảm 1–3 lần thuốc bảo vệ thực vật;

100% mô hình thu gom rơm rạ;

Nhiều mô hình thực hiện rút nước đúng quy trình giảm phát thải khí nhà kính.

Tỉnh An Giang là điểm sáng khi mô hình thí điểm mang lại lợi nhuận tăng thêm 5–8 triệu đồng/ha, giảm chi phí hơn 4 triệu đồng/ha, năng suất tăng 0,78 tấn/ha và giảm phát thải từ 7,56 đến 8,11 tấn CO₂ tương đương/ha.

Tính đến nay, quy mô thực hiện đề án đạt 354.839 ha, vượt 197% kế hoạch. Về tổ chức sản xuất, 100% nông dân tham gia đều hoạt động trong hợp tác xã; hơn 200.000 hộ áp dụng ít nhất một tiêu chí của quy trình canh tác bền vững. Đến thời điểm báo cáo, khu vực đã có 5.269 ha được chứng nhận Gạo Việt xanh phát thải thấp, tương đương 19.200 tấn gạo.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đánh giá đề án là “thành công rõ rệt”, đặc biệt ở khía cạnh thay đổi tư duy sản xuất và áp dụng cơ giới hóa trong toàn bộ chuỗi canh tác.

Những kết quả ban đầu cho thấy hướng tiếp cận “thuận thiên” cùng quá trình đổi mới phương thức sản xuất đang tạo ra chuyển biến mang tính nền tảng cho ĐBSCL. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu phát triển bền vững, vùng vẫn đối mặt nhiều thách thức:

Thứ nhất, BĐKH diễn biến nhanh và khó dự báo hơn. Việc kiểm soát nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông phụ thuộc vào hợp tác quốc tế, trong khi nhu cầu nước của các quốc gia thượng lưu ngày càng tăng.

Thứ hai, hạ tầng phục vụ sản xuất quy mô lớn – từ đê bao, cống kiểm soát mặn đến logistics – vẫn còn hạn chế. Việc kết nối sản xuất với chế biến và thị trường quốc tế chưa đồng đều giữa các địa phương.

Thứ ba, trình độ sản xuất của một bộ phận nông dân còn chênh lệch, gây khó khăn trong việc đồng bộ hóa quy trình canh tác xanh và kỹ thuật giảm phát thải.

Dù vậy, triển vọng phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL vẫn rất sáng khi chính sách đang đi đúng hướng, doanh nghiệp ngày càng gắn kết chặt chẽ với nông dân, và thị trường toàn cầu có nhu cầu lớn đối với sản phẩm xanh, sạch, phát thải thấp. Sự thay đổi tư duy sản xuất chính là yếu tố quyết định để ĐBSCL từng bước hình thành nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng cao.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn là nhiệm vụ chiến lược đảm bảo sinh kế và ổn định xã hội cho cả vùng. Trước những thách thức ngày càng phức tạp của BĐKH, việc chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi giá trị là con đường tất yếu.

Những thành quả bước đầu từ mô hình lúa – tôm, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao cho thấy khả năng thích ứng mạnh mẽ của địa phương và người dân. Nếu tiếp tục phát huy các chính sách đã ban hành, củng cố hạ tầng và tăng cường liên kết vùng, ĐBSCL hoàn toàn có thể xây dựng một nền nông nghiệp xanh, hiện đại và đủ sức chống chịu trước các biến động khí hậu – đóng góp lâu dài cho phát triển bền vững của đất nước.

V.X.B - N.T.D