Góc nhìn đa chiều về nông nghiệp: Khi dịch vụ công cần vươn tới những cánh đồng

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đối mặt với vô số biến động từ an ninh lương thực cho đến áp lực biến đổi khí hậu, câu chuyện đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp đang đặt ra nhiều trăn trở sâu sắc. Để biết rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi có cuộc trao đổi với PGS. TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam, xung quanh định hướng chiến lược và những góc nhìn đa chiều về việc phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Tầm nhìn từ nền tảng nghiên cứu cơ bản và vai trò bảo trợ của nhà nước

Khi nhìn ra bức tranh toàn cảnh thế giới, mô hình đầu tư cho khoa học nông nghiệp tại các quốc gia phát triển mang lại nhiều bài học đắt giá về tư duy chiến lược dài hạn. Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS Đào Thế Anh chia sẻ: "Tôi học thạc sĩ, tiến sĩ ở Pháp, thấy nhà nước họ đầu tư cho nghiên cứu cơ bản rất lớn. Nghiên cứu cơ bản nằm trong các viện do nhà nước đầu tư là chính và nằm trong các trường đại học phải tự chủ một phần thông qua việc thu học phí."

Sự đầu tư mạnh mẽ này không xuất phát từ tư duy tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn hay các chỉ số thương mại trước mắt. Theo PGS.TS Đào Thế Anh, sở dĩ nghiên cứu cơ bản nhà nước phải nuôi là bởi sản phẩm của nó chưa thể đưa vào sản xuất ngay mà phải thông qua những bước nghiên cứu ứng dụng, có sự hợp tác liên ngành để phổ biến. Tại các viện nghiên cứu của Pháp, quy trình hành chính được thiết kế tối giản nhằm tạo ra một không gian sáng tạo tối đa cho cộng đồng khoa học. Những giáo sư, trưởng phòng thí nghiệm mỗi năm tự đề xuất với nhà nước sẽ nghiên cứu vấn đề gì, cần khoảng bao nhiêu tiền. Khi được cấp tiền, trưởng phòng thí nghiệm có quyền tuyển nghiên cứu sinh, sau nghiên cứu sinh, cán bộ kỹ thuật và cuối năm sẽ trả kết quả. Họ không phải lo nghĩ nhiều về thủ tục tài chính.

2aoboqlsasspo5gnhvnjqqiztpr8eu3qfarwkzgc-1784605799.jpg

PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Bên cạnh đó, chiến lược tổ chức bộ máy nghiên cứu của Pháp cũng mang lại những gợi ý vô cùng giá trị cho tiến trình cải cách thể chế khoa học ở nhiều nước đang phát triển. Phân tích về cách làm này, PGS.TS Đào Thế Anh cho biết: "Pháp họ không sáp nhập các đơn vị nghiên cứu mà ưu tiên những nghiên cứu liên cơ quan theo từng nhóm chủ đề ưu tiên và nhà nước cấp tiền nghiên cứu theo các liên ngành nhóm và các nhà nghiên cứu phải tham gia." Cơ chế này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chuyên gia đến từ các lĩnh vực khác nhau, qua đó bảo đảm tính linh hoạt, chiều sâu và bám sát những chuyển động thực tiễn dài hạn của ngành nông nghiệp toàn cầu.

Giới hạn và hệ lụy từ cơ chế tự chủ tài chính cực đoan trong nghiên cứu

Nhìn sang khu vực Châu Á, hành trình phát triển của nông nghiệp Trung Quốc lại cung cấp một góc nhìn thực tiễn vô cùng sinh động về ranh giới mong manh giữa cơ chế thị trường và vai trò điều tiết, dẫn dắt của nhà nước. Nông nghiệp trước đây của Trung Quốc khi nông trường, hợp tác xã kiểu cũ tan rã cũng quay trở lại với sản xuất kiểu nông hộ nhỏ. Có giai đoạn sau thập niên 80, khi cải cách kinh tế, họ cũng bị thiếu nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp nên có chính sách tự chủ thực hiện được khoảng 10 năm.

Đi sâu vào cơ chế này, PGS.TS Đào Thế Anh phân tích rằng mỗi nhà khoa học hay đơn vị khoa học được phép thành lập một doanh nghiệp để thương mại sản phẩm nghiên cứu, lấy tiền tái đầu tư vào khoa học. Bản quyền của việc bán sản phẩm đó nhà khoa học được hưởng, nhà nước không thu về. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đã nhanh chóng phơi bày một nghịch lý sâu sắc: "Nhưng khách hàng của khoa học nông nghiệp Trung Quốc là những nông hộ nhỏ nên rất khó bán được sản phẩm khoa học công nghệ. Trong khi nhà nước lại cần thúc đẩy sản xuất ở các nông hộ để không chỉ đảm bảo đủ ăn cho gia đình họ mà còn đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho quốc gia nên vẫn phải đầu tư cho khoa học nông nghiệp."

Hậu quả tất yếu của một giai đoạn dài vận hành theo cơ chế tự chủ cực đoan là nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu bị thu hẹp trầm trọng, khiến khoa học nông nghiệp Trung Quốc đối mặt với nguy cơ tụt hậu rõ rệt so với tiêu chuẩn thế giới. Nhận thức rõ mối đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực toàn cục và sự phát triển bền vững của nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng quay trở lại vai trò chủ đạo, trích một phần nguồn thu thuế đáng kể từ công nghiệp và dịch vụ để bảo đảm đời sống vững chắc cho đội ngũ nhà khoa học, đồng thời kiến tạo những bước đột phá mạnh mẽ trong hạ tầng nghiên cứu và thu hút nhân tài toàn cầu.

Chiến lược đột phá trong phát triển hạ tầng và thu hút nhân tài khoa học

Sự chuyển dịch mang tính chiến lược của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc khôi phục nguồn vốn ngân sách mà còn thể hiện tầm nhìn vượt trội trong việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng nghiên cứu hiện đại và chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đánh giá về sự thay đổi này, PGS.TS Đào Thế Anh chia sẻ rằng khi đến thăm nhiều viện nghiên cứu nông nghiệp của Trung Quốc, ông thấy nhà công vụ rất đầy đủ để cán bộ trẻ ở, điều kiện nghiên cứu cũng được cải thiện rất nhiều, đặc biệt là những phòng thí nghiệm rất hiện đại. Nhà nước còn có chính sách phong giáo sư nghiên cứu cho cán bộ của các viện nếu tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh và xuất bản khoa học.

Để giải quyết bài toán cốt lõi là sự thiếu hụt các nhà nghiên cứu đầu tàu mang tầm vóc chiến lược, Trung Quốc đã triển khai những chính sách đặc biệt. PGS.TS Đào Thế Anh cho biết: "Trước Trung Quốc thiếu những nhà nghiên cứu đầu tàu, mang tính dẫn dắt nên họ ra chính sách thu hút 1.000 giáo sư tài năng của thế giới, trả lương thậm chí còn cao hơn cả Mỹ, Pháp." Đội ngũ chuyên gia quốc tế này không chỉ trực tiếp chủ trì các chương trình nghiên cứu mũi nhọn mà còn gánh vác sứ mệnh đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ nội địa, giúp rút ngắn khoảng cách công nghệ với các nước tiên tiến trong thời gian ngắn nhất.

Song song với đó, hệ thống xuất bản và truyền thông khoa học cũng được cải tổ toàn diện. PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh rằng có một giai đoạn Trung Quốc khuyến khích các nhà khoa học của mình viết bài trên các tạp chí quốc tế. Nhưng gần đây, khi đội ngũ nhà khoa học đã mạnh lên, họ không nhất thiết phải viết bài trên các tạp chí quốc tế mà tập trung vào xuất bản trên các tạp chí của Trung Quốc, có cả phiên bản tiếng Anh, nhờ đó một số tạp chí khoa học của Trung Quốc đã được nâng tầm trên thế giới.

Giá trị cốt lõi và hệ sinh thái dịch vụ công trong thực tiễn Việt Nam

Quay trở lại với thực tiễn phát triển của Việt Nam, những thành tựu rực rỡ từ công cuộc đổi mới nông nghiệp gắn liền với chủ trương giao đất ổn định cho nông hộ và các cơ chế khoán sản xuất đã đưa đất nước vươn lên vị thế cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Chia sẻ về sức hút của mô hình Việt Nam trên trường quốc tế, PGS.TS Đào Thế Anh cho biết khi đi một số nước Châu Phi, ông nhận thấy họ rất muốn học tập Việt Nam từ một nước sau chiến tranh đã không chỉ đảm bảo được an ninh lương thực mà còn xuất khẩu nông sản cỡ tốp đầu thế giới. Họ cũng cải cách ruộng đất bằng cách giao nó cho nông dân.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra dưới góc độ phản biện là vì sao nhiều quốc gia dù sở hữu các viện nghiên cứu quốc tế lớn trên lãnh thổ, như trường hợp Philippines với Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế, vẫn rơi vào cảnh thiếu hụt lương thực và phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu? Lý giải điều này, PGS.TS Đào Thế Anh chỉ rõ những thứ mà nông dân Việt Nam có như dịch vụ nghiên cứu về giống mới, về kỹ thuật canh tác, về khuyến nông, thủy lợi, phân bón... thì họ đều không có nên vẫn không tự đảm bảo được an ninh lương thực. Nhiều quốc gia ước mơ có được bộ giống lúa như của Việt Nam, phù hợp với tất cả các vùng miền, phù hợp với tất cả các điều kiện khó khăn, nhưng nếu thiếu hụt nguồn đầu tư đúng mức từ nhà nước cho khoa học nông nghiệp thì vẫn không thể tự chủ.

Nếu thiếu đi sự bảo trợ và đầu tư dài hạn từ ngân sách nhà nước, xem nông nghiệp như một dịch vụ công phục vụ an sinh xã hội, mọi nỗ lực phát triển sẽ thiếu đi phần gốc rễ vững chắc. Đây chính là thông điệp mang tính nền tảng giúp ngành nông nghiệp tiếp tục vượt qua những thử thách trong giai đoạn hiện nay, bảo đảm vững chắc sự ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững cho cộng đồng.

Bảy giải pháp chiến lược định hình tương lai nông nghiệp bền vững

Từ những phân tích thực tiễn toàn diện và đúc kết kinh nghiệm quốc tế sâu sắc, hệ thống giải pháp căn cơ sau đây được đề xuất nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ cho ngành nông nghiệp:

1. Định vị nông nghiệp là dịch vụ công thiết yếu: Thống nhất nhận thức và thể chế hóa quan điểm xem khoa học công nghệ nông nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là dịch vụ công cộng ích, tương tự như y tế và giáo dục, đòi hỏi nguồn lực đầu tư trọng điểm từ ngân sách nhà nước thay vì phó mặc hoàn toàn cho cơ chế thị trường.

2. Bảo đảm nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu cơ bản: Thiết lập cơ chế tài chính ổn định và dài hạn từ nhà nước dành riêng cho các viện nghiên cứu cơ bản, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để các nhà khoa học tập trung toàn lực vào sáng tạo tri thức mà không bị chi phối bởi áp lực thương mại hóa ngắn hạn.

3. Cải cách thủ tục hành chính và trao quyền tự chủ chuyên môn: Tối giản hóa các quy trình phê duyệt tài chính, trao quyền chủ động tuyệt đối cho các trưởng phòng thí nghiệm và nhà khoa học trong việc phân bổ kinh phí, tuyển dụng nhân sự và triển khai đề tài theo mục tiêu chất lượng.

4. Phát triển hệ sinh thái dịch vụ công đồng bộ: Tập trung nguồn lực xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất bao gồm hệ thống chọn tạo giống thích ứng biến đổi khí hậu, mạng lưới khuyến nông bám sát cơ sở, hệ thống thủy lợi nội đồng và các dịch vụ kỹ thuật canh tác tiên tiến.

5. Đổi mới phương thức tài trợ theo nhóm liên ngành: Chấm dứt tình trạng sáp nhập cơ học các tổ chức khoa học; thay vào đó, triển khai phương thức cấp kinh phí theo các nhóm chủ đề ưu tiên và liên cơ quan, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều lĩnh vực nhằm bảo đảm tính linh hoạt trước các biến đổi thực tiễn.

6. Xây dựng chính sách đột phá thu hút nhân tài: Kiến tạo môi trường làm việc lý tưởng với hệ thống cơ sở vật chất, nhà công vụ hiện đại, kết hợp với các cơ chế đãi ngộ vượt trội nhằm thu hút đội ngũ chuyên gia, giáo sư đầu tàu quốc tế và giữ chân nhân lực chất lượng cao trong nước.

7. Nâng tầm hệ sinh thái xuất bản và tri thức: Đầu tư phát triển hệ thống tạp chí khoa học trong nước đạt chuẩn quốc tế, khuyến khích công bố các công trình nghiên cứu gắn liền với thực tiễn sản xuất bản địa, qua đó lan tỏa uy tín và khẳng định vị thế học thuật của ngành nông nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhìn nhận một cách toàn diện và khách quan, việc định hình nông nghiệp là một dịch vụ công thiết yếu không phải là sự phủ nhận các quy luật thị trường, mà là sự khẳng định trách nhiệm chiến lược của Nhà nước đối với nền tảng an ninh lương thực và sự ổn định xã hội. Những bài học đắt giá từ thực tiễn quốc tế tại Pháp hay Trung Quốc đều chung một điểm chạm mang tính quy luật: khoa học công nghệ nông nghiệp và đời sống của người làm nghiên cứu không thể thả nổi hoàn toàn theo các quy luật thương mại ngắn hạn.

Về nội dung này, PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh: "Tư chủ trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt linh vực Nông nghiệp, có lẽ cần được hiểu đúng hơn không phải là tự túc kinh phí nghiên cứu mà là tự chủ về quá trình ra quyết định trong nghiên cứu và quản lý các sản phẩm của nghiên cứu khoa học. Nhà nước cần đầu tư đủ để đảm bảo nông nghiệp trở thành một dịch vụ công phục vụ an ninh lương thưc thực phẩm. Khi những người gieo mầm tri thức và các nông hộ nhỏ được bảo đảm đầy đủ về nguồn lực, hạ tầng nghiên cứu và hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, sức mạnh nội sinh của ngành nông nghiệp mới được khơi thông trọn vẹn, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển thịnh vượng và bền vững trong giai đoạn hiện nay"./.