Làng nghề trên địa bàn Hà Nội

Những năm gần đây, làng nghề Hà Nội đã phục hồi và  phát triển với trên 1350 làng, chiếm 67% tổng số làng nghề trong cả nước. Nền kinh tế thành phố đã chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tạo nhiều việc làm và mở ra hướng đi mới đẻ hình thành các chuỗi cung ứng trong công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước.

Hà Nội hiện có 33 cụm làng nghề (CLN) với  47 trong số 52 nghề ở nông thôn, bao gồm những nghề tiêu biểu như gốm sứ, đỗ mỹ nghệ và mây tre đan,….Làng nghề Hà Nội đã góp phần tích cực vào xây dựng kinh tế xã hội (KTXH), song quá trình phát triển đã có nhiều hệ lụy, trong thực tế, sự phát triển hoặc biến mất của nhiều làng nghề chưa được quan tâm đúng mức nên gây khó khăn cho hoạt động quản lý và đông đảo người dân. Bài viết đề cập đến một số mặt cần nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp chính sách thích hợp trong khai thác lợi ích và khắc phục hạn chế để phát triển.

bn-1667813989.png
Làng nghề mây tre đan

1.Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề..

Thủ đô Hà Nội tiếp giáp với 8 tỉnh đồng bằng Sông Hồng; có 12 quận, 17 huyện và 1 thị xã; 584  xã, phường và thị trấn; trong đó có 382 xã. Tổng diện tích đất đai thành phố lên tới 3.345,0 km2 với 56,4% là đất nông nghiệp, đất trồng lúa chiếm 34,5%; đất lâm  nghiệp 7,2% và đất nuôi trồng thủy sản 3,2%.

  Mật độ dân số trung bình là 2.279 người/km2, nhưng phân bố không đều cùng với đô thị hóa tăng nhanh đã tác động bất lợi đến hoạt ngành nghề, tạo áp lực  về việc làm và gia tăng thu nhập. Hà Nội có lực lượng lao động dồi dào; năm2018, có 3,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên, khu vực đô thị chiếm 52,6% và ở nông thôn khoảng 47,37%.

Với vai trò đầu não chính trị quốc gia, là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và giao lưu quốc tế, sự phát triển của Thủ đô ảnh hưởng mạnh đến các tỉnh trong vùng và cả nước. Vào giai đoạn 2015-2018, bình quân tăng trưởng ở mức 10,7%/năm, cao hơn trung bình cả nước (6,2%); năm 2020, GRDP đầu người đạt 5420 USD, cao gấp1,8 lần bình quân chung cả nước. Với sự đóng góp của1350 làng nghề, thu nhập của cư dân nông thôn đạt 55 triệu đồng/người/năm. Nhờ mở mang phát triển kinh tế, Hà Nội đã dẫn đầu cả nước về giáo dục, đào tạo cả về qui mô, mạng lưới trường lớp và chất lượng giáo dục; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 53,14% năm 2015đã tăng lên 70,2% trong năm 2019 với số người có việc làm đạt trên 70%. Ở khu vực nông thôn, đặc biệt là những xã đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới (NTM), cơ sở hạ tầng được nâng cấp. Toàn Thành phố có 367 xã, chiếm 96,1%% tổng số xã và 7 huyện được công nhận đạt chuẩn NTM. 

Những kết quả thu nhận được cho thấy, Hà Nội có điều kiện cả về tự nhiên và KT-XH để mở mang, phát triển ngành nghề nông thôn, Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp, nông thôn Hà Nội còn chịu những thách thức không nhỏ về việc làm và sinh kế của người dân, đòi hỏi phải thúc đẩy nhanh nhịp độ phát triển các cụm làng nghề (CLN).

Làng nghề (LN) là khái niệm về cụm dân cư thôn, bản, làng, buôn, hoặc tương đương có hoạt động ngành nghề nông thôn với trên 20% tổng số hộ dân tham gia. Làng có nghề là nơi du nhập nghề mới hoặc lan tỏa từ các nghề truyền thống với số người tham gia từ 10% lao động trở lên. Cùng với khái niệm này, cụm công nghiệp làng nghề (CCNLN) là nơi phục vụ việc di dời, mở rộng SXKD của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất và cá nhân, gia đình trong những làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và phát triển ngành nghề phi nông.Theo quy định của Chính phủ, cụm làng nghề (CLN) là tập hợp những làng nghề cùng loại ở gần nhau trên một không gian địa lý,có qui mô không dưới  5 ha và không quá 75 ha (Chính phủ, 2017). Phát triển cụm làng nghề là sự phát triển tổng hòa cả về kinh tế, xã hội và môi trường với sự lồng ghép giữa phát triển SXKD với bảo tồn bản sắc văn hóa trong không gian địa lý của CLN. 

2. Thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội,

Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm phát triển làng nghề trong khu vực Đông Á và từ thực tiễn châu thổ sông Hồng, giới nghiên cứu nhận thấy, các quôc gia trên thế giới đều có hình thức xây dựng các cụm tương tự như các CLN. Việt Nam đã hình thành nhiều  CLN nhưng chưa được nghiên cứu tổng kết đầy đủ.

Từ thực tiễn trong, ngoài nước có thể rút ra những nội dung thiết thực đóng góp vào hát triển tổng hợp theo vùng và khai thác tối ưu nguồn lực tại chỗ để cải thiện và thực thi chính sách địa phương. Theo đó, cần coi làng nghề là một thực thể khách quan để hình thành, phát triển và chuyển hóa thành những dạng hiện đại hơn.

Đề hạn chế sự hình thành và phát triển tự phát,cần có quy hoạch phát triển CLN theo vùng và có những chính sách đồng bộ, đa ngành. Làng nghề Hà Nội được phân thành 11 nhóm nghề; trong đó, nhiều nghề cần phát triển mạnh như gốm sứ Bát Tràng, đồ gỗ Chàng Sơn và mây tre đan Phú Vinh… Sử dụng phương pháp tiếp cận phát triển theo không gian địa lý và hệ thống liên ngành, giới nghiên cứu nhận thấy, trong quá trình phát triển làng nghề Hà Nội có sự thăng trầm. Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa hội nhập, CLN đã phát triển nhanh, tập trung vào SXKD; thành phố hiện có 33 CLN, được phân bố ở 13 quận, huyện với 5 nhóm ngành. Tinh hình phân bổ được chỉ ra trong bảng 1

Bảng 1. Phân bố các cụm làng nghề theo đơn vị hành chính

SốTT

T.số

huyện có1 cụm

Có 2 cụm

có3

Có 4

có5

có6

Ghi chú

ToànTP

33

5

3

1

2

1

1

 

Huyện

13

Đan Phượng, Đông Anh, Mỹ Đức, Phúc Thọ, Quốc Oai

GiaLâm,Ứng Hòa ThạchThất

Thanh Oai

Hoài Đức, Chương Mỹ

Phú Xuyên

Thường Tín

 

Nguồn: Nguyễn Xuân Hoàn 2021

Kết quả phân tích đã chỉ ra, CLN gốm sứ và đồ gỗ đã mở rộng quan hệ trao đổi nguyên vật liệu, gia công và tiêu thụ sản phẩm với 61 tỉnh thành phố; cụm mây tre đan với trên 50 tỉnh thành phố trong cả nước.Do ảnh hưởng của đô thị hóa, đất đai dành cho sản xuất tiểu thủ công nghiêp đang chuyển dịch sang lĩnh vực có hiệu quả cao hơn và giá đất, tiền thuê đất trong các CLN tăng nhanh. 10 năm qua, tiền thuê mặt bằng SXKD trong CLN mây tre đan Phú Vinh tăng 70-80%; trong CLN đồ gỗ Chàng Sơn tăng trung bình 90-100%; còn ở gốm sứ Bát Tràng tăng từ 100  đến 120%.

Trong các CLN, 100% đường liên xã, liên thôn được rải nhựa hoặc bê tông hóa; 100 % số hộ SXKD sử dụng điện lưới; 100% cơ sở SXKD có điện thoại và 100% làng xã có kết nối internet; nhiều cơ sở SXKD đã sử dụng internet, facebook, website,... để giao dịch thương mại và quảng bá  sản phẩm. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng trong CLN vẫn chưa đồng bộ và  chưa đáp ứng được nhu cầu SXKD. Đường giao thông còn nhỏ, chưa phù hợp với mật độ xe chở hàng nhiều và tải trọng lớn; thiếu hệ thống cung cấp nước sạch và xử lý nước thải; hệ thống điện chưa đủ phục vụ sản xuất; thiếu kho bãi dự trữ nguyên vật liệu và sản phẩm chờ xuất kho; lao động trong CLN có qui mô nhỏ với việc đào tạo theo lối truyền nghề; lực lượng lao động có tay nghề cao như nghệ nhân, chuyên gia còn rất hạn chế.

Nhìn chung,lao động chủ yếu là người dân ở địa phương với giá thuê tăng nhanh. Trong 10 năm qua, tiền thuê lao động làm hàng mây, tre đan tăng trung bình 8-10%/năm; lao động làm đồ gỗ tăng 10-12%/năm và làm đồ gốm sứ tăng trung bình 10-15%/năm. Phần lớn các cơ sở SXKD là hộ gia đình với nguồn vốn tự có khoảng 70% tổng đầu tư. Kết quả điều tra cũng đã chỉ ra, 90% số cơ sở SXKD có nhu cầu vay vốn nhưng tới 70% gặp trở ngại do không có tài sản thế chấp hoặc tài sản được định giá không đủ để có thể vay theo nhu cầu. 

Nguồn nguyên vật liệu mua từ trong nước chiếm đến 90%, lượng nhập khẩu từ nước ngoài dao động từ10 đến 40%. Khó khăn đang gặp là nguồn nguyên liệu tự nhiên dần cạn kiệt và giá nguyên liệu tăng nhanh, Thời gian gần đây, giá vật liệu làm hàng mây tre đan tăng trung bình 20%/năm; nguyên vật liệu làm đồ gỗ tăng 10%/năm và nguyên vật liệu làm đồ gốm sứ tăng tới 15%/năm (Nguyễn Xuân Hoàn 2021).

Mối quan hệ trong CLN đã tạo ra và phổ biến các sáng kiến, lưu chuyển thông tin. Niềm tin gia tăng và rủi ro kinh tế giảm dần tạo môi trường thuận lợi cho việc trao đổi và đầu tư. Mối quan hệ cụ thể trong CLN như liên kết đào tạo, cung ứng lao động; cung ứng vật tư, làm hàng gia công và tiêu thụ sản phẩm có sự phát triển mạnh theo thời gian. Đã có nhiều CLN đang CNH và HĐH với việc vận dụng tiến bộ KHCN và sử dụng trang thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, mối quan hệ và sự liên kết giữa người sử dụng và đơn vị nghiên cứu, sản xuất trang thiết bị, chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Cơ sở SXKD còn thiếu thông tin về công nghệ nội địa, có xu hướng mua công nghệ từ nước ngoài.

3. Sự phát triển  của các cụm làng nghề

Thị trường tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế xã hội mang lại là những biểu hiện cụ thể trong không gian địa lý phát triển của cụm làng nghề. Để làm rõ điều này, các chuyên gia đã tập trung vào nghiên cứu các mặt dưới đây

3.1.Về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 

Sản phẩm của các CLN nghề rất phong phú và đa dạng nhưng phần lớn là mặt hàng tiêu dùng trong nước. Sản phẩm bán ra thị trường nước ngoài thường là hàng thủ công mỹ nghệ như mây tre giang đan, đồ gỗ mỹ nghệ, gốm  sứ, sơn mài, dệt may….Trong tiêu thụ những sản phẩm này, doanh nghiệp tư nhân hoặc tư thường trực tiếp đến cơ sở SXKD đặt hàng, cung cấp nguyên vật liệu để gia công và thu mua lại sản phẩm. Họ là những đối tác tích cực tham gia các Hội chợ để tìm hiểu thị truờng. Đến nay, nhiều sản phẩm của CLN đã đáp ứng được điều kiện tiêu thụ tại những thị trường khó tính như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.

3.2.Về Phát triển kinh tế 

Sự hình thành và phát triển của CLN đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, CNH và HĐH khu vực nông thôn. Làng nghề đã góp phần chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế, thúc đẩy đô thị hóa, đặc biệt là hình thành chuỗi giá trị hàng hóa-dịch vụ để từng bước đô thị hóa ngay tại làng, xã. Vào năm 2011, giá trị sản xuất làng nghề ở Hà nội đã đạt 400 triệu USD; thành phố có 100 làng nghề có doanh thu từ 10 đến 20 tỷ VNĐ, trên 70 làng đạt từ 20 đến 70 tỷ đồng. Trong đó, làng gốm sứ Bát Tràng vượt mốc 350 tỷ đồng/năm và làng nghề La Phù trên 800 tỷ đồng/năm (Đào Thu Vịnh 2012). Tại Hội nghi đánh giá, phân hạng sản phẩm làng nghề, tháng 11 năm 2020, Hội đồng thẩm ở Hà Nội đã công nhân 334 sản phẩm OCOP của 84 chủ thể từ 10 quận, huyện là các nông sản tiêu biểu như rau, hoa, thực phẩm, đồ uống, thảo dược và hàng thủ công mỹ nghệ (Quyết Tuấn 2020).

Nghiên cứu sự phát triển làng nghề Hà Nội những năm 2006-2018 cho thấy, đã có sự phát triển và chuyển đổi loại hình tổ chức sản xuất với số cơ sở có đăng ký kinh doanh tăng từ 34% lên 67%. Tỷ lệ hộ sử dụng đất nông nghiệp đã từ 70% giảm xuống còn 45% và tỷ lệ đất ngành nghề gia tăng từ 20% lên 35%.  Phát triển làng nghề đã thúc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với tỷ trọng thu nhập nông nghiệp giảm thấp và công nghiệp, dịch vụ tăng cao, Tại CLN Phú Vinh, năm 2017 tỷ trọng nông nghiệp còn 17%; công nghiệp tiểu thủ công nghiệp-xâydựng tăng lên 54,5% và dịch vụ chiếm 28,5%, Tương tự , cụm đồ gỗ Chàng Sơn lần lượt đạt 4,0%, 60,0%,36,0% và ở xã Bát Tràng là 0%, 70% ,30% (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống nông nghiệp  2006,2018)

3.3. Về phát triển theo không gian địa lý

Để thấy rõ sự phát triển này, cần xem xét một số khía cạnh về sự gia tăng về số lượng làng nghề và  xu hướng mở rộng không gian, Theo kết quả điều tra nhóm nghề gốm sứ, đồ gỗ và mây tre đan được thể hiện qua bảng 2 thì không gian phát triển ngày càng mở rộng,

Bảng 2 Xu hướng phát triển không gian của các cụm làng nghề chủ yếu

STT Chỉ tiêu CLN gốm sứ CLN đồ gỗ CLN mây tre đan

1 Không gian làng nghề năm 1954 Làng Bát Tràng Làng Chàng Sơn Làng Phú Vinh

2 Không gian CLN năm 2018 4 xã huyện Gia Lâm 8 xã huyênThạch Thất 6 xã huyệnChương Mỹ

3 Số làng nghề  trong xã có nghề năm 2018 2 6 7

4 Số làng nghề trong CLN năm 2018 5 30 26

Nguồn: UBND xã Bát Tràng, Chàng Sơn, Phú Nghĩa (2017)

Sự phát triển của các CLN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tạo chuỗi giá trị, thị trường hàng hóa và dịch vụ địa phương, dần hình thành khu vực có lối sống đô thị, từng bước đô thị hóa ngay tại các làng xã. 

3.4. Về sự phát triển xã hội

Sự phát triển của CLN tạo thêm việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành nghề phi nông, Phát triển CLN góp phần nâng cao thu nhập của người dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách so với thành thị, Qua đó, giải quyết tốt vấn đề văn hóa, giáo dục vàgiảm tệ nạn xã hội,…

Mặc dù có nhiều thành công, song cùng với ảnh hưởng tích cực; mở rộng phát triển làng nghề cũng tạo hệ lụy gây khó khăn, bất cập cho chính quyền và người dân địa phương như tạo áp lực lên hệ thống giao thông, đường điện, cung cấp và tiêu thoát nước; gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí; làm cạn kiệt nguồn tài nguyên; giá đất và tiền thuê đất gia tăng đã đặt ra nhiều vấn đề cần được các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương phải có giải pháp xử lý và tháo gỡ kịp thời trong giai đoạn tới.

4.Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề Hà Nội, vấn đề đặt ra

Phân tích nguyên nhân hạn chế phát trển làng nghề, gới nghiên cứu cho rằng có những ảnh hưởng cơ bản đến từ vị thế địa lý, yêu cầu thị trường và nhất là cơ chế chính sách và nguồn nhân lực.

Về ảnh  hưởng của  không gian địa lý

Là trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSH và của cả nước; sự gần kề về địa lý với các địa phương tạo thuận lợi cho cung cấp nguyên liệu, lao động, chuyển giao tiến bộ KHCN; trao đổi thông tin; cung cấp dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác, tính đồng nhất về loại hình tổ chức, cách thức SXKD kết  hợp với mạng lưới quan hệ truyền thống của gia đình, dòng họ, láng giềng,... giúp tạo hiệu quả cao trong quản lý, sản xuất và giảm chi phí SXKD. Tuy nhiên, nhu cầu thị trường, cơ chế chính sách vận hành,nguồn lực phát triển và nhất là nguồn vốn xã hội vẫn là những nhân tố cần được quan tâm.

Về ảnh hưởng thị trường của cụm làng nghề

Giới nghiên cứu nhận thấy; từ thời kỳ phong kiến, làng nghề ở Hà Nội đã phát triển thông qua kết nối, giao thương giữa 36 phố phường với các làng nghề. Ngày nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề mở rộng đến các địa phương và xuất khẩu. Theo đó, thị trường đầu vào đã được hình thành và phát triển mạnh.Từ vị thế SXKD ngành nghề được mở rộng, nhiều làng nghề đã có sức lan tỏa rộng để hình thành các CLN. 

Đối với thể chế, chính sách nhà nước

Ảnh hưởng của chính sách nhà nước và Thành phố trong quản lý và vận hành các cụm làng nghề được thể hiện rõ qua những chính sách cụ thể về tín dụng; đất đai; quyền sở hữu về tài sản; nguyên liệu  phục vụ sản xuất; đào tạo nghề; thương mại và hội nhập quốc tế. 

bn1-1667813997.png
Làng nghề Thủ đô

 

Về con người và vốn xã hội

Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra, trong các CLN, nghệ nhân, thợ có tay nghề cao với tình yêu nghề đã luôn đổi mới và sáng tạo trong truyền nghề, tạo nguồn lao động dồi dào đồng thời với gia tăng tầng lớp doanh nhân có óc kinh doanh, dám  chịu rủi ro và làm những việc chưa ai làm để thúc đẩy nhanh sự phát triển các CLN. 

Vốn xã hội trong CLN thể hiện thông qua các mối quan hệ; những  hiểu biết xã hội; phong tục, tập quán về văn hóa, xã hội. Mặt khác, thể chế pháp lý cộng đồng và danh tiếng làng nghề cũng là những khía cạnh được các tác nhân trong CLN khai thác tối đa, giúp hoạt động trong CLN trở nên linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả. Trong các CLN, cơ sở SXKD luôn áp dụng và kế thừa kỹ thuật, công nghệ truyền thống, bí quyết và giữ nghề. Việc áp dụng công nghệ mới, hiện đại hóa trang thiết bị đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả SXKD. 

Những làng nghề có nhiều di tích văn hóa, lịch sử và di sản quốc gia là nơi du khách thập phương tìm đến. Từ đó, thông tin về sản phẩm và các yếu tố đầu vào phục vụ SXKD của làng nghề được lan truyền đến nhiều địa phương. Ngoài ra, nguồn lực địa phương còn được thể hiện ở điều kiện đất đai, lao động, nguyên nhiên liệu, cơ sở hạ tầng, các chuỗi cung ứng và thị trường với các dịch vụ cần thiết.  

Đất nước mở cửa,toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa xã hội và cách mạng KHCN đã thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin, tác động sâu sắc đến phát triển KTXH. Thông qua hội nhập quốc  tế, các CLN có cơ hội để phát triển bằng việc mở rộng, phát triển đồng bộ các loại thị trường, trao đổi thương mại, công nghệ và dịch vụ,... Tuy nhiên, nhiều cơ sở trong CLN cũng đứng trước thách thức cạnh tranh ngày càng cao với các  doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia vào thi trường quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu.

5  Giải pháp phát triển từ góc nhìn nghiên cứu

Do nhiều nguyên nhân, các làng nhề Hà Nội gặp không ít khó khăn trong tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm. Thành phố đã xác định rõ quan điểm thị trường, coi đây là tín hiệu dẫn dắt sản xuất. Từ đó, định rõ sản phẩm truyền thống phải gắn với thị trường tiêu thụ và nhiệm vụ trọng tâm của chương trình OCOP là đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm tạo ra (Nguyễn Văn Chí 2020).

Căn cứ vào các Chủ trương, đường lối, chính sách phát triển KTXH Hà Nội đến năm 2030 và định hướng đến 2050, trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội; môi trường kinh doanh; hội nhập; sự phát triển KHCN, thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành  nghề; dựa vào kết quả nghiên cứu, đánh giá và những phát hiện từ thực trạng phát triển,các nhà phân tích đã có những đề xuất về giải pháp phát triển CLN . Theo dó cần  Nghiên cứu và phát triển thị trường; tăng cường đầu tư cho phát triển; đổi mới tổ chức sản xuất;nâng cao năng lực quản lý nhà nước, năng lực của cán bộ quản lý và  chủ cơ sở sản xuất kinh doanh.

5.1.Về nghiên cứu và phát triển thị trường

 Dưới góc nhìn nghiên cứu, đối với thị trường trong nước, việc gắn kết các làng nghề với hệ thống siêu thị, chợ, trung tâm thương mại, khu du lịch, các tập đoàn phân phối và bán lẻ là một trọng tâm. Xây dựng chiến lược, chương trình  kế hoạch quảng bá, tiếp thị, thương mai hóa sản phẩm là việc làm cần thiết .

Đối với thị trường xuất khẩu, cần tổ chức nghiên cứu thị trường và cung cấp thông tin, kết nối giao thương, tham quan khảo sát thị trường ngoài nước cho các doanh nghiệp. Để thực hiện công việc này, cần phối hợp với các Trung tâm Xúc tiến thương mại, thương vụ và các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam tại nước ngoài và các tổ chức thương mại nước ngoài ở Việt Nam nhằm quảng bá sản phẩm của các CLN theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Theo hướng này, cần chú ý tới thị trường nguyên liệu, thiết bị và khoa học công nghệ; tăng cường công tác nghiên cứu và cung cấp thông tin cho doanh nghiệp; phát triển chuỗi cung ứng và vùng nguyên liệu của những ngành nghề có nhu cầu nguyên liệu lớn

5,2.Tăng cường đầu tư nguồn lực cho phát triển cụm làng nghề

a. Về tài chính, tín dụng

Nhằm tạo nguồn vốn phát triển làng nghề, cần đa dạng hóa các hình thức tín dụng, nghiên cứu và điều chỉnh định mức, thời gian và lãi suất tiền vay sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội  và tình hình thực tế của các cơ sở SXKD trong các CLN. Thực hiện ưu đãi, miễn giảm thuế và cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ SXKD; các doanh nghiệp đầu tư ứng dụng KHCN mới và doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm của CLN với số lượng lớn. 

b. Về đất đai 

Là tư liệu cần được quy hoạch và sử dụng gắn với Quy hoạch kiến trúc cảnh quan, nhà ở khu vực nông thôn.Trong xác định quỹ đất cho CLN cần bảo đảm đất cho phát triển theo quy hoạch, tăng diện tích đất để xây dựng hạ tầng, nhà xưởng và logistic,...

 c. Đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 

Quy hoạch, đầu tư phát triển đồng bộ và hợp lý về hệ thống cơ sở hạ tầng trong  CLN bao gồm cả hệ thống giao thông, viễn thông, điện, nước, logistic…cùng với hệ thống dịch vụ đi kèm, Huy động các nguồn  lực và thực hiện xã hội hóa để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển gắn với xây dựng NTM Thủ đô.

d. Về nguồn nhân lực 

Phát triển theo hướng kết hợp giữa cơ sở đào tạo, nghiên cứu trên địa bàn với các nghệ nhân, thợ giỏi trong các CLN để đào tạo nguồn nhân lực cho các CLN. Theo đó,cần mở rộng các Trung tâm đào tạo nghề kết hợp với nâng cao trình độ văn hóa, bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp xã, làng, bản và đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn; tổ chức giao lưu học hỏi kinh nghiệm trong nước và  quốc tế.

e. Về khoa học, công nghệ và khuyến công 

Đầu tư nghiên cứu và cung cấp thông tin về thị trường KHCN, thiết bị để các cơ  sở SXKD tiếp cận, áp dụng kỹ thuật hiện đại, công nghệ mới. Tăng cường cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ; thực hiện ưu đãi  tín dụng và hỗ trợ vốn đối với những ngành nghề và cơ sở SXKD áp dụng công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản  phẩm; phát triển hoạt động thông tin tư vấn, chuyển giao công nghệ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong các CLN

5.3. Đổi mới tổ chức sản xuất

Thúc đẩy chuyển đổi các hộ SXKD sang loại hình DNNVV; tăng cường liên doanh, liên kết và hình thành các công ty cổ phần  hoặc tập đoàn sản xuất đồng thời với thành lập các Hội, Hiệp hội ngành hàng và hỗ trợ ngành nghề trong SXKD theo hướng phát triển CLN trọng tâm để trở thành “Trung tâm đổi mới, sáng tạo ngành nghề nông thôn” nhằm hỗ trợ khởi nghiệp; và kết nối giao thương. Trong các hình thức liên kết, hợp tác phát triển sản xuất, tiêu  thụ sản phẩm cần hướng theo ngành, chuỗi giá trị và giữa các làng nghề; liên kết  giữa người sản xuất với nhà khoa học, quản lý và ngân hàng, Theo đó, Nhà nước cần đầu tư vào phát triển các dịch vụ công mà tư nhân khó làm hoặc thực hiện không hiệu quả.

5.4. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước và nâng cao năng lực của cán bộ quản lý,  chủ cơ sở sản xuất kinh doanh trong cụm làng nghề 

Theo các nhà nghiên cứu, để thực hiện nhiệm vụ này, Thành phố nên thành lập cơ quan quản lý các CLN với thành viên gồm đại diện các sở, ban, ngành và chính quyền có liên quan do  UBND thành phố hoặc Văn phòng điều phối NTM chủ trì, nhằm tăng cường phối hợp giữa tổ chức quản lý với các CLN và các Hội, Hiệp hội ngành nghề trong quản lý, hỗ trợ hoạt động hợp tác liên vùng; tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý, hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn. Cần bố trí cán bộ có  kinh nghiệm chuyên môn và tư duy hệ thống làm công tác quy hoạch, kế hoạch và tham mưu xây dựng chính sách phát triển ngành nghề nông thôn và CLN.. 

5.6. Về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển

Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra, rất cần rà soát, điều chỉnh các chính sách, quy hoạch không còn phù hợp và ban hành bổ sung các chính sách mới phù hợp hơn để khuyến khích, hỗ trợ phát triển NNNT và CLN. Những cơ chế, chính sách cụ thể cần hướng vào  quy hoạch và kế  hoạch sử dụng đất; cơ sở hạ tầng; tài chính-tín dụng; đào tạo và phát triển nguồn  nhân lực; ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHCN; đổi mới tổ chức SXKD; quản lý và bảo vệ môi trường; xây dựng thương hiệu và thương mại hóa sản phẩm của các CLN.

Thay lời kết luận

Việc hình thành và phát triển các cụm làng nghề trên địa bàn Hà Nội đã góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện còn gặp nhiều vướng mắc, đòi hỏi phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ

Hà Nội đang tiếp tục nghiên cứu quy hoạch phát triển làng nghề, các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và xúc tiến thương mại. Lãnh đạo Thủ đô đánh giá cao vai trò của làng nghề trong xu thế đô thị hoá. Tuy nhiên, một số làng nghề bị mai một là điều khó tránh, nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi cần thay đổi để thích ứng với yêu cầu của thị trường, cả về chất lượng lẫn mẫu mã sản phẩm.

Để nâng cấp làng nghề, giải pháp cần quan tâm là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động sản xuất; bảo tồn và phát huy được giá trị văn hóa của các làng nghề, đặc biệt là nghề truyền thống, gắn làng nghề với phát triển sản phẩm OCOP .

Thời gian tới, Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai các Quyết định của Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành giảm T.Ư về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Hy vọng những đề xuất tâm huyết của các nhà nghiên cứu sẽ dược các nhà hoạch định chính sách quan tâm, nghiên cứu để vận dụng trong điều kiện của Thủ đô ./,

Thành Lê

File Làng nghề Hà Nội 11.2022