Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

PV
Trong giai đoạn hiện nay, việc định hình lại phương thức canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững, an toàn và thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế quốc gia. Nhằm đánh giá chặng đường phát triển và hoạch định những bước đi chiến lược cho tương lai, ngày 20/10/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam” với chủ đề “15 năm đồng hành – Thực tiễn, định hướng và giải pháp”.

Sự kiện nằm trong khuôn khổ Dự án KVP 1052 hợp tác giữa Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam và Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức Naturland, quy tụ sự tham gia của đông đảo lãnh đạo các cơ quan quản lý, Hội Nông dân Việt Nam, các viện nghiên cứu, trường đại học, đối tác quốc tế, cùng đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại hữu cơ trên cả nước để tập trung phân tích toàn diện thực trạng từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn chứng nhận, liên kết chuỗi giá trị đến các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thị trường.

Mối quan hệ tương hỗ và lộ trình chuyển đổi giữa nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Tham dự và phát biểu tại hội thảo, Phó giáo sư, tiến sĩ Đào Thế Anh – Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam (PHANO) đã trình bày tham luận quan trọng có tựa đề: “Nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam: thực trạng, tiềm năng, khó khăn, giải pháp và những khuyến nghị chính sách”. Trong bài tham luận, chuyên gia đã làm rõ bản chất mối quan hệ tương hỗ và lộ trình chuyển đổi tất yếu giữa nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp hữu cơ. Trước hết, nông nghiệp hữu cơ được đặt trong tiến trình chuyển đổi rộng lớn của hệ thống lương thực thực phẩm sinh thái, nơi nông nghiệp sinh thái cung cấp nền tảng nguyên lý bao trùm về sinh thái học cảnh quan, quản lý sức khỏe đất, bảo vệ nguồn nước, tuần hoàn dinh dưỡng và duy trì đa dạng sinh học, trong khi nông nghiệp hữu cơ chính là đỉnh cao thực hành và là mục tiêu tiêu chuẩn hóa rõ nét nhất của toàn bộ quá trình đó.

img-1268-1793757948.jpeg
PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. 

Bên cạnh đó, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi sự chuyển dịch tư duy từ canh tác cục bộ theo từng thửa ruộng sang quản lý toàn diện hệ thống cảnh quan và sinh thái vùng. Thực tiễn cho thấy, các giải pháp không thể áp dụng rập khuôn mà phải dựa trên lợi thế sinh thái và điều kiện văn hóa - kinh tế đặc thù của từng tiểu vùng, từ vùng ven đô đến miền núi cao, từ Đồng bằng sông Cửu Long đến miền núi phía Bắc. Hơn thế nữa, quá trình chuyển đổi này còn kiến tạo các giá trị đa tầng vượt ra ngoài các chứng nhận thương mại thông thường, giúp nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu, giảm sự phụ thuộc vào vật tư hóa học nhập khẩu đắt đỏ, bảo vệ sức khỏe trực tiếp cho nông hộ và tái lập sự cân bằng tự nhiên cho hệ sinh thái. Đối với đa số các hộ nông dân nhỏ, hệ thống cùng tham gia bảo đảm chất lượng đóng vai trò là chiếc cầu nối thiết thực, kết nối người sản xuất với người tiêu dùng qua đánh giá chéo và giám sát cộng đồng, giúp nông dân từng bước chuyển đổi từ canh tác sinh thái lên đạt chuẩn hữu cơ mà không bị gánh nặng chi phí chứng nhận chi phối.

Đánh giá toàn diện và định hướng giải pháp phát triển bền vững

Nhìn nhận một cách toàn diện, tiến trình phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái tại nước ta hiện nay đang bộc lộ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức rất đáng suy ngẫm. Về điểm mạnh, chúng ta đã sở hữu nền tảng pháp lý bước đầu, sự đồng hành của các tổ chức quốc tế uy tín, hệ thống mạng lưới chuyên gia giàu kinh nghiệm và sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng nông dân tiên phong. Về điểm yếu, hệ thống vẫn đối mặt với sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, nguồn nhân lực am hiểu chuyên sâu còn mỏng, chuỗi liên kết giá trị đôi chỗ còn đứt gãy và năng lực tiếp cận thị trường của các hợp tác xã quy mô nhỏ vẫn còn nhiều hạn chế. Về cơ hội, xu hướng tiêu dùng xanh và sự quan tâm sâu sắc của xã hội đối với an toàn thực phẩm mở ra dư địa lớn để mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cũng không hề nhỏ khi áp lực cạnh tranh về giá cả, rào cản kỹ thuật khắt khe và rủi ro từ biến đổi khí hậu vẫn đòi hỏi những giải pháp can thiệp căn cơ, đồng bộ và quyết liệt hơn từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

img-1267-1793758117.jpeg
Toàn cảnh Hội thảo. 

Từ những đánh giá thực trạng trên, bài viết đúc rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc về sự gắn kết giữa khoa học thực tiễn và chính sách vĩ mô, đồng thời đề xuất năm nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo ra những điểm chạm thực tiễn cho tiến trình phát triển bền vững như sau:

Một là, hoàn thiện và đồng bộ hóa khung chính sách hỗ trợ toàn bộ quá trình chuyển đổi nông nghiệp, trong đó nhà nước cần có cơ chế tài chính dài hạn để giúp nông dân yên tâm cải tạo đất, học hỏi kỹ thuật mới và hoàn thiện hồ sơ pháp lý trong giai đoạn đầu. Việc xây dựng hành lang pháp lý minh bạch và các gói tín dụng ưu đãi sẽ là động lực cốt lõi để thu hút nguồn lực xã hội hóa, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển toàn diện theo hướng tuần hoàn và carbon thấp.

Hai là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp, sớm xây dựng bản đồ số các vùng có tiềm năng sản xuất hữu cơ và sinh thái nhằm minh bạch hóa nguồn gốc, kết nối cung cầu và phục vụ công tác quy hoạch vùng sản xuất tập trung. Việc số hóa cơ sở dữ liệu nông nghiệp không chỉ giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng mà còn tạo dựng niềm tin vững chắc cho người tiêu dùng thông qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử chính xác.

Ba là, tăng cường các chương trình đào tạo, tập huấn kỹ thuật và phát triển các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, qua đó nâng cao năng lực quản lý cho các hợp tác xã và trang trại trong việc áp dụng các tiêu chuẩn canh tác tiên tiến. Công tác nâng cao năng lực này cần được thực hiện thường xuyên, bám sát nhu cầu thực tế của sản xuất để đội ngũ nông dân chủ động làm chủ công nghệ sinh học và quản trị kinh doanh nông nghiệp hiệu quả.

Bốn là, phát triển các mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, chế biến đến phân phối, qua đó tiết giảm chi phí trung gian, nâng cao giá trị gia tăng và bảo đảm lợi ích hài hòa cho người nông dân trực tiếp sản xuất. Việc hình thành các liên kết bền vững giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp phân phối sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng được mùa mất giá, đồng thời tạo ra hệ sinh thái kinh doanh nông nghiệp nhân văn và ổn định.

Năm là, củng cố và mở rộng mạng lưới hợp tác đa bên, phát huy tối đa vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức xã hội trong việc phản biện chính sách, chia sẻ tri thức thực hành và thúc đẩy văn hóa tiêu dùng xanh trong cộng đồng. Sự chung tay của toàn xã hội sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, lan tỏa mạnh mẽ các giá trị nhân văn và tinh thần trách nhiệm với môi trường sống cho các thế hệ tương lai.

img-1269-1793758153.jpeg
Đại biểu dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm. 

Chủ tịch PHANO – Phó giáo sư, tiến sĩ Đào Thế Anh đã nhấn mạnh rằng sự thành công của năm 2026 rất cần phải có được sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan đa ngành, qua đó khẳng định sự đồng lòng và cam kết mạnh mẽ của các bên trong việc thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ngày càng minh bạch, nhân văn và hiệu quả. Những nỗ lực không mệt mỏi này sẽ tiếp tục lan tỏa sâu rộng, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng một nền nông nghiệp tuần hoàn, phát triển bền vững và gắn kết hài hòa với thiên nhiên trong tương lai.