Nông nghiệp Việt Nam hiện nay đang đứng trước bước ngoặt chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, dịch chuyển từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn kết chặt chẽ với chuỗi giá trị. Quá trình này không chỉ đòi hỏi việc nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho nông sản mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số.
Vị thế và vai trò chủ thể của hợp tác xã nông nghiệp trong kiến tạo chuỗi giá trị
Trong bức tranh chuyển đổi toàn diện đó, các hợp tác xã nông nghiệp giữ một vị trí và vai trò chủ thể đặc biệt quan trọng. Với lợi thế gắn bó trực tiếp với các hộ thành viên, hợp tác xã chính là hạt nhân cốt lõi để tổ chức lại sản xuất, khắc phục triệt để tình trạng manh mún thông qua việc tập hợp nông dân, thống nhất kế hoạch mùa vụ, chuẩn hóa quy trình canh tác và kiểm soát chất lượng từ khâu gốc. Hợp tác xã không chỉ đơn thuần cung ứng dịch vụ đầu vào hay đứng tên hình thức trong các hợp đồng liên kết mà còn từng bước vươn lên thành chủ thể trung gian kinh tế có năng lực điều phối, quản trị vùng nguyên liệu tập trung và kiến tạo chuỗi giá trị.
Bằng việc chủ động nắm bắt tín hiệu thị trường, hợp tác xã đóng vai trò là cầu nối vững chắc đưa sản phẩm của nông dân đến với các doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối lớn và thị trường xuất khẩu, qua đó nâng cao vị thế thương lượng, tối ưu hóa chi phí giao dịch và bảo đảm lợi ích kinh tế thiết thực cho thành viên. Bên cạnh đó, hợp tác xã còn là lực lượng tiên phong trong việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ số và nhật ký điện tử để minh bạch hóa nguồn gốc nông sản. Việc phát huy tốt vai trò này sẽ tạo ra bệ phóng vững chắc để nâng cao thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế tập thể theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Chính phủ.
Phân tích toàn diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
Thực tiễn triển khai chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP cho thấy cả nước đã có 2.938 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt với sự tham gia của 2.412 hợp tác xã, 1.305 doanh nghiệp và trên 211 nghìn hộ nông dân. Cùng với đó, kết quả thí điểm phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2022-2025 tại 11 tỉnh đã hình thành khoảng 169.800 ha vùng nguyên liệu, trong đó gần 121.000 ha liên kết với doanh nghiệp, đạt tỷ lệ 71,2%. Đến tháng 6/2026, cả nước có 23.389 hợp tác xã nông nghiệp, 102 liên hiệp hợp tác xã và khoảng 36.000 tổ hợp tác với 4,15 triệu thành viên, doanh thu bình quân đạt khoảng 2,7 tỷ đồng và lợi nhuận bình quân khoảng 450 triệu đồng/hợp tác xã/năm. Những con số này minh chứng cho điểm mạnh về nền tảng số lượng tổ chức, sự gia tăng về quy mô và năng lực cung ứng dịch vụ của khu vực kinh tế tập thể.
Tuy nhiên, khu vực này vẫn bộc lộ nhiều điểm yếu đáng kể. Quy mô sản xuất của phần lớn hợp tác xã còn nhỏ lẻ, phân tán; năng lực tổ chức vùng nguyên liệu và quản trị nội tại chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nhiều hợp tác xã còn hạn chế về năng lực tài chính, kỹ năng lập phương án kinh doanh, đàm phán hợp đồng cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Mối quan hệ liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và thành viên chưa thực sự bền vững, dễ bị đứt gãy khi thị trường biến động do thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro minh bạch. Hạ tầng vùng nguyên liệu, cơ sở vật chất phục vụ sơ chế, bảo quản, vận chuyển logistics và hệ thống chuyển đổi số còn thiếu, chưa đồng bộ. Về phía mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai từ tháng 7/2025, năng lực thực thi và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở nhìn chung vẫn chưa đồng đều, gây ra những lúng túng nhất định trong việc hướng dẫn và hỗ trợ hợp tác xã.
Bên cạnh các điểm yếu và thách thức, bối cảnh hiện nay đang mở ra những cơ hội lớn. Các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể, cùng với Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030 theo Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT-KTHT ngày 24/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tạo hành lang pháp lý và nguồn lực vững chắc để tái cơ cấu ngành. Thêm vào đó, xu hướng tiêu dùng toàn cầu đòi hỏi khắt khe về nông sản sạch, minh bạch nguồn gốc và giảm phát thải chính là động lực thúc đẩy hợp tác xã đổi mới phương thức sản xuất.
Hệ thống giải pháp trọng tâm phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong giai đoạn 2026-2030
Để khắc phục những điểm nghẽn, vượt qua thách thức và phát huy tối đa vai trò chủ thể của hợp tác xã, hệ thống giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026-2030 cần được triển khai đồng bộ và quyết liệt trên nhiều mặt.
Thứ nhất, cần tập trung nâng cao năng lực nội tại và chất lượng quản trị cho các hợp tác xã thông qua việc rà soát, phân nhóm theo quy mô, ngành hàng và năng lực hoạt động để xây dựng phương án củng cố phù hợp, tránh hỗ trợ dàn trải. Tăng cường đào tạo, tư vấn thực hành cho đội ngũ quản trị về kỹ năng xây dựng phương án kinh doanh, quản trị tài chính, đàm phán hợp đồng và minh bạch hóa thu nhập.
Thứ hai, phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với nhu cầu thị trường và doanh nghiệp. Cần rà soát, xác định vùng nguyên liệu dựa trên lợi thế sinh thái của từng địa phương, chuẩn hóa mã số vùng trồng, mã số cơ sở nuôi, nhật ký sản xuất điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Gắn kết chặt chẽ quy hoạch vùng với việc đầu tư hạ tầng thiết yếu như giao thông nội đồng, thủy lợi, kho bảo quản và cơ sở sơ chế tại chỗ.
Thứ ba, củng cố và đổi mới mô hình liên kết chuỗi giá trị theo hướng ổn định, có trách nhiệm và cùng chia sẻ lợi ích. Chuyển dịch từ quan hệ mua bán ngắn hạn sang hợp tác chiến lược dài hạn giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân. Xây dựng các điều khoản hợp đồng minh bạch về tiêu chuẩn chất lượng, sản lượng, phương thức định giá, thanh toán và thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý khi thị trường biến động hoặc thiên tai, dịch bệnh xảy ra.
Thứ tư, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn. Hỗ trợ hợp tác xã ứng dụng các phần mềm quản lý thành viên, nhật ký điện tử, công nghệ bảo quản tiên tiến và các quy trình canh tác giảm phát thải khí nhà kính. Việc chuyển đổi xanh phải được gắn liền với hiệu quả kinh tế thực tế, giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo thêm nguồn thu từ việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Thứ năm, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, kết hợp giữa ngân sách nhà nước, vốn tự có của hợp tác xã, nguồn lực từ thành viên và thu hút đầu tư tư nhân, tín dụng thông qua các cơ chế hợp tác công tư. Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các hạng mục hạ tầng nền tảng và hỗ trợ các dự án liên kết chuỗi có tính lan tỏa cao.
Thứ sáu, đổi mới phương thức quản lý nhà nước phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và chính quyền cấp xã, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số tập trung, liên thông để giảm gánh nặng báo cáo và nâng cao hiệu quả điều hành.
Thứ bảy, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện và đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả. Phát huy vai trò của Liên minh hợp tác xã, các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức tín dụng trong việc đồng hành, tư vấn kỹ thuật, pháp lý và xúc tiến thương mại. Công tác đánh giá, nghiệm thu chính sách cần chuyển dịch từ việc chạy theo số lượng dự án sang đo lường hiệu quả thực chất dựa trên tỷ lệ sản lượng tiêu thụ ổn định theo hợp đồng, năng lực tự chủ của hợp tác xã và mức độ cải thiện thu nhập thực tế của người nông dân.
Phát huy vai trò chủ thể của hợp tác xã nông nghiệp là điều kiện tiên quyết để tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng liên kết và tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong giai đoạn 2026–2030. Với phương châm lấy vùng nguyên liệu làm nền tảng, hợp tác xã làm hạt nhân tổ chức sản xuất, doanh nghiệp là động lực đầu tư, thành viên là trung tâm hưởng lợi, khoa học công nghệ và chuyển đổi số là công cụ quản trị, chuyển đổi xanh là phương thức tạo giá trị mới cùng sự kiến tạo thể chế đồng bộ của Nhà nước, mục tiêu xây dựng các hợp tác xã hoạt động thực chất, hiệu quả và bền vững sẽ từng bước được hiện thực hóa, góp phần đưa nền nông nghiệp nước nhà vươn lên tầm cao mới.