Đau tinh hoàn suốt một năm, người đàn ông sốc khi biết nguyên nhân

Người đàn ông 50 tuổi, quốc tịch Campuchia, đến Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Tây Ninh sau gần một năm chịu đựng tình trạng đau âm ỉ hai bên tinh hoàn, kèm tiểu buốt.

Trước đó, ông P.T. từng đi khám nhưng cho rằng bệnh nhẹ nên tự ý ngưng điều trị. Thời gian sau, vùng bìu sưng to dần, bệnh nhân sờ thấy khối cứng, việc đi lại và sinh hoạt trở nên khó khăn. Khi triệu chứng ngày càng rõ, ông quyết định đến bệnh viện kiểm tra lại.

Qua thăm khám, các bác sĩ khoa Ngoại Tiết niệu phát hiện nhiều khối u ở cả hai bên mào tinh hoàn. Bên trái có ba khối nhỏ kích thước khoảng 0,5–1 cm; bên phải có hai khối, trong đó một khối lớn khoảng 2 x 3 cm.

Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật. Trong quá trình bóc tách, ê-kíp ghi nhận bên trong các khối u có chất dạng bã đậu màu vàng nhạt – dấu hiệu gợi ý tổn thương đặc hiệu. Kết quả giải phẫu bệnh sau đó xác định bệnh nhân mắc lao mào tinh hoàn, một bệnh lý hiếm gặp, dễ bị bỏ sót nếu chỉ dựa vào triệu chứng ban đầu.

dau-tinh-hoan-suot-mot-nam-nguoi-dan-ong-soc-khi-biet-nguyen-nhan-1-1774341235.jpg
Ê kíp phẫu thuật bóc tách khối u cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC)

Sau phẫu thuật, người bệnh được điều trị kết hợp thuốc kháng lao theo phác đồ tấn công. Sau 7 ngày theo dõi, tình trạng ổn định, bệnh nhân được xuất viện và hẹn tái khám.

BS.CKI Lê Nguyễn Phú, khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Tây Ninh, cho biết lao sinh dục nam không phổ biến nhưng không phải hiếm, thường gặp ở nam giới trong độ tuổi lao động.

“Mào tinh hoàn là vị trí dễ bị ảnh hưởng nhất. Bệnh có thể xuất phát từ ổ lao tiềm ẩn hoặc lây lan qua đường máu, bạch huyết, thậm chí lan ngược dòng từ đường tiết niệu”, bác sĩ nói.

Theo bác sĩ, biểu hiện bệnh thường không rầm rộ. Người bệnh có thể chỉ sưng bìu, đau nhẹ kéo dài, đôi khi kèm tràn dịch hoặc dày da bìu. Vì vậy, nhiều trường hợp dễ nhầm với viêm thông thường và điều trị không dứt điểm.

Nếu không điều trị kịp thời, các u hạt tại mào tinh hoàn có thể gây viêm mạn tính, dẫn đến xơ hẹp và tắc ống dẫn tinh. Khi bệnh tiến triển, tổn thương hoại tử bã đậu khiến mào tinh hoàn sần sùi, có thể dính vào da, gây loét bìu. Khoảng 50% trường hợp xuất hiện đường rò ra da.

dau-tinh-hoan-suot-mot-nam-nguoi-dan-ong-soc-khi-biet-nguyen-nhan-1774341236.png
Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC)

Ngoài ra, bệnh có thể lan vào tinh hoàn, gây xơ hóa ống sinh tinh và mô liên kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sinh sản.

Điều trị lao mào tinh hoàn bao gồm nội khoa và phẫu thuật. Trong đó, thuốc kháng lao được sử dụng theo phác đồ 6 tháng (2 tháng tấn công, 4 tháng duy trì). Phẫu thuật được chỉ định trong các trường hợp cần chẩn đoán xác định hoặc hỗ trợ điều trị khi bệnh nặng, không đáp ứng nội khoa.

Bác sĩ khuyến cáo, nếu viêm tinh hoàn – mào tinh hoàn tái phát nhiều lần, dùng kháng sinh không hiệu quả, cần nghĩ đến các nguyên nhân ít gặp như lao hoặc u tân sinh. Phát hiện sớm và điều trị đúng giúp hạn chế biến chứng, đặc biệt là nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Lao niệu – sinh dục là một thể lao ngoài phổi có thể điều trị được. Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng phác đồ tối ưu, bệnh vẫn có nguy cơ tái phát tương tự các bệnh nhiễm trùng khác. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC, 2003), tỷ lệ tái phát ở bệnh nhân lao phổi dao động từ 2% đến 6%, đặc biệt trong năm đầu sau điều trị.

Đối với lao niệu – sinh dục, tỷ lệ này cao hơn, từ 6,3% đến 22% ngay cả sau 12 tháng điều trị (Figueiredo và Lucon, 2008).

Vì vậy, với tất cả trường hợp tái phát, cần nỗ lực phân lập vi khuẩn để thực hiện xét nghiệm độ nhạy cảm với thuốc, nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị.

Thông thường, bệnh nhân lao phổi được theo dõi trong 2 năm sau khi hoàn tất điều trị. Riêng lao niệu – sinh dục, một số nghiên cứu khuyến nghị thời gian theo dõi kéo dài đến 10 năm, do thời gian tái phát trung bình khoảng 5,3 năm (Gokce và cộng sự, 2002).