

Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội luôn là những nhiệm vụ quan trọng trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia. Cùng với các nhiệm vụ đó, quá trình hội nhập quốc tế và phát triển khoa học - công nghệ đang đặt ra những yêu cầu bảo vệ mới đối với các hoạt động kinh tế, thông tin, dữ liệu và hệ thống hạ tầng thiết yếu.
Các yếu tố như thương mại, tài chính, công nghệ và thông tin kết nối các nền kinh tế qua mạng lưới xuyên biên giới, mở rộng cơ hội phát triển nhưng cũng khiến biến động bên ngoài lan nhanh vào trong nước. Sự phụ thuộc lẫn nhau vì thế vừa là lợi thế hội nhập, vừa là nguồn rủi ro cần được nhận diện.
Với Việt Nam, yêu cầu bảo đảm an ninh không dừng ở bảo vệ lãnh thổ mà còn phải tính đến sự gián đoạn chuỗi cung ứng, thị trường và các hệ thống kết nối quốc tế. Mở rộng phạm vi nhận diện nguy cơ không đồng nghĩa làm mờ ranh giới chủ quyền; đó là cách bảo vệ lợi ích quốc gia trong điều kiện các hoạt động kinh tế vượt qua biên giới.
Đại dịch COVID-19 - trường hợp cho thấy tác động xuyên biên giới của các thách thức an ninh phi truyền thống. Từ một vấn đề y tế, dịch bệnh đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại, giáo dục, việc làm và đời sống xã hội tại nhiều quốc gia. Việc gián đoạn chuỗi cung ứng và các hoạt động kinh tế trong thời gian dịch bệnh đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực dự phòng, ứng phó và duy trì hoạt động của những lĩnh vực thiết yếu.
Từ thực tiễn đó có thể thấy, một nguy cơ không xuất phát từ xung đột quân sự hoặc hành vi xâm phạm lãnh thổ vẫn có khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế - xã hội. Đối với các quốc gia có mức độ hội nhập cao, việc đánh giá nguy cơ an ninh cần tính đến cả những yếu tố nằm ngoài phạm vi quản lý trực tiếp nhưng có liên quan đến lợi ích và hoạt động phát triển trong nước.
Biên giới quốc gia vẫn là giới hạn pháp lý của chủ quyền, song không còn là giới hạn của mọi rủi ro. Không gian mạng, dữ liệu, tài chính và hạ tầng kết nối quốc tế trở thành những địa bàn cần được bảo vệ bằng phương thức phù hợp.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ngày 7/2/2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh những điểm mới mang tính đột phá trong tư duy, nhận thức của Đảng về an ninh. Trong đó, an ninh được đặt trong tổng thể quá trình phát triển đất nước, gắn với yêu cầu xây dựng nền an ninh toàn diện (1).
Trong nội dung chuyên đề, Đại tướng Lương Tam Quang đề cập những yêu cầu mới về bảo đảm an ninh, trong đó cần chú trọng các lĩnh vực như an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường và an ninh con người.
Các lĩnh vực ấy không tồn tại biệt lập: sự cố năng lượng có thể đình trệ sản xuất; mất an toàn thông tin làm gián đoạn dịch vụ; dịch bệnh và môi trường tác động đến sinh kế. Điều quan trọng không chỉ là xác định từng nguy cơ, mà còn là nhận diện đường lan truyền của nó giữa các lĩnh vực.
Từ đó, yêu cầu phối hợp liên ngành trở nên thiết yếu: chia sẻ thông tin, đánh giá mức độ rủi ro và phân định trách nhiệm ứng phó trước khi sự cố lan rộng. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ vẫn là nhiệm vụ xuyên suốt; đồng thời, an ninh quốc gia phải bao quát những không gian hoạt động mới hình thành từ hội nhập và phát triển.

Thời gian qua, chuyển đổi số đang được triển khai rộng rãi trong quản lý nhà nước và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Cùng với những thuận lợi về quản lý và khai thác thông tin, quá trình này đặt ra yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu và khả năng vận hành ổn định của các hệ thống công nghệ.
Dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng trong hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ. Các hệ thống thông tin chứa dữ liệu dân cư, tài chính, y tế, doanh nghiệp và thông tin liên quan đến hoạt động của cơ quan nhà nước. Việc bảo vệ dữ liệu vì vậy không chỉ nhằm phòng ngừa thiệt hại kinh tế mà còn gắn với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan, đơn vị.
Môi trường số kết nối nhiều hệ thống và địa bàn, khiến sự cố ở một mắt xích có thể lan sang những đơn vị phụ thuộc. Lợi ích từ kết nối vì vậy đi cùng yêu cầu kiểm soát rủi ro hệ thống. Đối với những hệ thống thông tin quan trọng, sự cố kỹ thuật hoặc tấn công mạng có thể ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ. Việc dữ liệu bị đánh cắp, sửa đổi hoặc khai thác trái phép cũng có thể gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có liên quan. Mức độ tác động phụ thuộc vào tính chất của hệ thống, loại dữ liệu bị ảnh hưởng và khả năng phát hiện, xử lý sự cố.
Sự cố công nghệ gây ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu ngày 19/7/2024 là một ví dụ điển hình. Theo thông tin do Microsoft công bố, bản cập nhật phần mềm bảo mật của CrowdStrike đã ảnh hưởng đến khoảng 8,5 triệu thiết bị Windows (chưa đến 1% tổng số thiết bị sử dụng hệ điều hành này trên toàn cầu), nhưng đã gây gián đoạn hoạt động của nhiều tổ chức trong các lĩnh vực hàng không, ngân hàng và y tế (2). Đáng chú ý, sự cố không xuất phát từ tấn công mạng mà từ lỗi kỹ thuật trong quá trình cập nhật sản phẩm. CrowdStrike cũng xác nhận nguyên nhân là lỗi kỹ thuật (3).
Bài học từ sự cố không chỉ nằm ở nguy cơ tấn công mạng. Sự phụ thuộc công nghệ còn đòi hỏi quy trình kiểm soát cập nhật, dự phòng, khôi phục và phối hợp ứng cứu để bảo đảm tính liên tục của dịch vụ.
Với Việt Nam, an ninh mạng phải được tính từ khâu thiết kế hệ thống, thay vì chỉ xử lý sự cố sau khi vận hành. Bảo vệ dữ liệu, phân quyền truy cập, dự phòng kỹ thuật và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ cần trở thành những yêu cầu gắn với quá trình chuyển đổi số.

Vì lẽ đó, yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được thực hiện gắn liền với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin. Việc bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu và khả năng hoạt động ổn định của các hệ thống thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với chức năng quản lý nhà nước cũng như duy trì các hoạt động kinh tế - xã hội. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ các nhiệm vụ bảo đảm an ninh số, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xây dựng môi trường số an toàn cho phát triển (4).
Các thách thức an ninh phi truyền thống thường có mối liên hệ với nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Một vấn đề về môi trường, dịch bệnh, nguồn nước hoặc công nghệ có thể ảnh hưởng đến sản xuất, việc làm, đời sống dân cư và hoạt động quản lý. Vì vậy, việc đánh giá nguy cơ cần xem xét cả những tác động trực tiếp và tác động phát sinh đối với các lĩnh vực có liên quan.
Tính chất liên ngành của các thách thức này thể hiện rõ trong những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và an ninh nguồn nước. Thời tiết cực đoan, nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn và biến động nguồn nước có thể ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất nông nghiệp, nguồn cung thực phẩm và sinh kế của người dân.
Ở vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, biến động môi trường còn tác động đến nguồn cung thực phẩm và khả năng ổn định sinh kế. Đồng bằng sông Cửu Long là một trường hợp cần được chú ý. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản quan trọng của cả nước, đóng góp lớn vào nguồn cung lương thực, thực phẩm và xuất khẩu. Theo số liệu được công bố trên Cổng thông tin của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2024, toàn vùng sản xuất 24,2 triệu tấn lúa, chiếm 55,4% sản lượng lúa cả nước; sản lượng trái cây đạt 4,3 triệu tấn, chiếm 60%; sản lượng thủy sản khoảng 4,79 triệu tấn, chiếm 55,7% cả nước (5). Các con số trên phản ánh rõ nét vai trò của Đồng bằng sông Cửu Long đối với nguồn cung lương thực, thực phẩm quốc gia. Mặt khác minh chứng vấn đề an ninh nguồn nước và khả năng thích ứng môi trường tại đây có tác động mạnh mẽ đến tính liên ngành, liên vùng.
Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với xâm nhập mặn, sụt lún, biến đổi khí hậu và biến động nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến canh tác và sinh kế. Hạn hán, xâm nhập mặn có thể làm thay đổi lịch thời vụ, năng suất và cơ cấu cây trồng, buộc địa phương và người dân điều chỉnh phương thức sản xuất, sử dụng nước. Từ đây làm rõ mối liên hệ giữa an ninh môi trường, nguồn nước và lương thực: bảo đảm nước cho sản xuất cũng là bảo vệ năng lực duy trì sinh kế và nguồn cung thiết yếu.
Tuy nhiên, mức độ tác động đối với an ninh lương thực hoặc ổn định xã hội cần được đánh giá dựa trên số liệu và điều kiện cụ thể, tránh đồng nhất mọi biến động môi trường với một nguy cơ an ninh quốc gia đã hiện hữu. Ứng phó vì vậy cần phối hợp giữa quản lý tài nguyên, nông nghiệp, hạ tầng và an sinh xã hội, trên cơ sở dự báo và đặc điểm từng địa bàn.
Từ góc nhìn nghiên cứu về an ninh phi truyền thống, tại buổi tọa đàm “Nhiệm vụ bảo vệ an ninh và an ninh phi truyền thống trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, do Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 3/2/2026 tại Hà Nội, Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, nguyên Giám đốc Học viện An ninh nhân dân, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy bảo vệ an ninh quốc gia trước những thách thức ngày càng đan xen, tác động lẫn nhau. Các nguy cơ về an ninh mạng, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, nguồn nước, kinh tế và an ninh con người không tồn tại biệt lập mà có thể cộng hưởng, tạo thành những thách thức phức hợp đối với sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia (6).
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy xử lý từng nguy cơ riêng lẻ sang xây dựng năng lực nhận diện tổng thể, dự báo chiến lược và quản trị rủi ro trên phạm vi rộng hơn. Trong điều kiện mới, năng lực bảo vệ an ninh quốc gia được quyết định bởi khả năng nhận diện đúng các mối liên hệ giữa những nguy cơ khác nhau, đánh giá tác động đa chiều và huy động các nguồn lực phù hợp để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước.

Yêu cầu chủ động nhận diện, phòng ngừa và ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống được đặt ra trong các định hướng về quốc phòng, an ninh tại Đại hội XIV của Đảng. Nội dung này nhấn mạnh vai trò của công tác dự báo tình hình, chuẩn bị phương án và phối hợp xử lý các tình huống có thể phát sinh.
Từ dịch bệnh, sự cố công nghệ đến biến động nguồn nước, điểm chung là tác động dây chuyền vượt khỏi lĩnh vực khởi phát. Công tác bảo đảm an ninh vì thế phải đánh giá không chỉ nguyên nhân trực tiếp mà cả hệ quả đối với những hệ thống liên quan.
Nhìn từ những mặt trận mới ấy, bảo đảm an ninh quốc gia không chỉ là ngăn chặn một mối đe dọa riêng lẻ, mà còn là giữ vững khả năng vận hành của các điều kiện thiết yếu cho phát triển. Năng lực dự báo, phối hợp và ứng phó liên ngành chính là thước đo quan trọng của thế chủ động trong môi trường an ninh xuyên biên giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Bộ Công an (7/2/2026), Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, toàn văn chuyên đề do Đại tướng Lương Tam Quang trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
(2) Microsoft (20/7/2024), Helping our customers through the CrowdStrike outage. Microsoft Official Blog. Số liệu khoảng 8,5 triệu thiết bị Windows bị ảnh hưởng.
(3) CrowdStrike (2024), To Our Customers and Partners, thông tin về sự cố cập nhật phần mềm ngày 19/7/2024.
(4) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hệ thống Tư liệu – Văn kiện Đảng.
(5) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (3/1/2025), Các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội cả nước. Số liệu sản xuất lúa, trái cây và thủy sản năm 2024.
(6) Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (3/2/2026), Tọa đàm: Nhiệm vụ bảo vệ an ninh và an ninh phi truyền thống trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.