

Xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, cạnh tranh công nghệ và biến động năng lượng đang thử thách năng lực tự chủ của các quốc gia. Những cú sốc bên ngoài không chỉ tác động đến tăng trưởng mà còn có thể làm gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng đời sống và đặt ra vấn đề về an ninh quốc gia.
Bảo vệ lợi ích quốc gia vì thế không thể chỉ dừng ở xử lý sự việc khi đã phát sinh. Năng lực tự chủ phải được chuẩn bị từ trước: duy trì hoạt động thiết yếu, bảo vệ các nguồn lực phát triển và giữ khả năng lựa chọn chính sách khi hoàn cảnh quốc tế thay đổi.
Đối với Việt Nam, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là định hướng xuyên suốt. Đại hội XIV tiếp tục đặt yêu cầu tự chủ chiến lược trong mối quan hệ với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển nhanh, bền vững (1).
Điểm đáng chú ý là an ninh không chỉ nhằm ngăn chặn nguy cơ mà còn tạo điều kiện cho phát triển. Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV ngày 7/2/2026, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh mối quan hệ hai chiều: phát triển tạo nền tảng vật chất cho ổn định; giữ vững an ninh là điều kiện và động lực quan trọng của phát triển (2).

Xét từ góc độ an ninh quốc gia, tự chủ chiến lược là khả năng bảo vệ lợi ích cốt lõi và duy trì quyền quyết định trước sức ép bên ngoài. Năng lực ấy không chỉ dựa vào quốc phòng, an ninh mà còn được hình thành từ nền kinh tế vững vàng, nguồn cung năng lượng ổn định, trình độ công nghệ và hiệu quả quản trị.
An ninh năng lượng là ví dụ điển hình. Biến động giá nhiên liệu hoặc đứt gãy nguồn cung quốc tế có thể nhanh chóng đẩy chi phí vận tải, sản xuất lên cao, tác động tới đời sống dân cư.
Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương về lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống là một bước đa dạng hóa cơ cấu nhiên liệu (3). Tuy nhiên, mức đóng góp vào tự chủ năng lượng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất và hệ thống phân phối trong nước.
Tự chủ vì vậy không đơn thuần là có thêm nguồn cung, mà là khả năng duy trì, điều phối và thay thế nguồn cung khi thị trường biến động. Nguyên tắc này cũng áp dụng với công nghệ, vật tư và trang thiết bị phục vụ quốc phòng, an ninh: năng lực dự phòng và thay thế có ý nghĩa không kém khả năng tiếp cận ban đầu.
Trên bình diện đối ngoại, tự chủ chiến lược phải song hành với hợp tác. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt các nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 16/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò quyết định của nội lực, đồng thời yêu cầu tranh thủ ngoại lực và gắn hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc (4).
Điều đó đòi hỏi đa dạng hóa đối tác, thị trường và nguồn cung, đồng thời củng cố năng lực trong nước để tiếp nhận, sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Hội nhập càng sâu, việc nhận diện các điểm phụ thuộc dễ gây tổn thương càng quan trọng; nhất là những lĩnh vực có thể ảnh hưởng đến hoạt động thiết yếu hoặc quyền chủ động chính sách. Tự chủ và hội nhập không phải hai lựa chọn đối lập. Nội lực mạnh giúp Việt Nam hợp tác trên thế chủ động; hợp tác hiệu quả lại bổ sung công nghệ, tri thức và nguồn lực cho phát triển.

Nếu tự chủ chiến lược là giữ quyền lựa chọn, thì làm chủ năng lực thiết yếu là điều kiện hiện thực hóa quyền ấy. Trong khoa học - công nghệ, khả năng mua hoặc sử dụng một sản phẩm chưa đồng nghĩa với năng lực tự chủ.
Với hệ thống trọng yếu, phụ thuộc vào một nhà cung cấp hoặc một giải pháp kỹ thuật có thể gây đình trệ khi linh kiện khan hiếm, dịch vụ bảo trì gián đoạn hoặc công nghệ bị hạn chế tiếp cận. Vì vậy, tự chủ phải được đánh giá qua năng lực của đội ngũ kỹ thuật, khả năng thay thế và duy trì vận hành, chứ không chỉ qua mức độ hiện đại của thiết bị.
Tự chủ không có nghĩa phải tự sản xuất mọi công nghệ. Cách tiếp cận khả thi là xác định lĩnh vực ưu tiên, phát triển nghiên cứu trong nước, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ có chọn lọc, đào tạo nhân lực đủ sức vận hành và cải tiến những thành phần then chốt.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời chỉ ra hạn chế về công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi, nhân lực chất lượng cao và hạ tầng số (5). Những hạn chế này cũng là các điểm cần khắc phục để tăng khả năng tự chủ về an ninh.
Tinh thần Nghị quyết 57 cần được cụ thể hóa bằng đầu tư nghiên cứu, phát triển nhân lực và liên kết giữa cơ sở khoa học với doanh nghiệp, đơn vị ứng dụng. Phải phân biệt rõ năng lực sử dụng với năng lực làm chủ: một hệ thống chỉ thật sự bền vững khi đội ngũ trong nước có thể kiểm soát, khắc phục sự cố và phát triển nó theo yêu cầu thực tiễn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan mô hình trưng bày sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khoa học - công nghệ (Ảnh Đức Anh - Cổng Thông tin điện tử Quốc hội)
Trong lĩnh vực an ninh, tự chủ thể hiện qua khả năng nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và bảo đảm trang thiết bị, giải pháp kỹ thuật phục vụ bảo vệ Tổ quốc. Do yêu cầu đặc thù về bảo mật, độ tin cậy và hoạt động liên tục, những khâu then chốt cần được chủ động về công nghệ và nhân lực.
Công nghiệp an ninh vì thế có vai trò trực tiếp trong xây dựng tiềm lực kỹ thuật cho lực lượng chuyên trách. Phát triển lĩnh vực này cần xuất phát từ yêu cầu sử dụng thực tế, gắn cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, đồng thời có cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư.

Tại Hội nghị ngày 7/2/2026, Đại tướng Lương Tam Quang nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá phát triển công nghiệp an ninh theo hướng tự lực, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, coi đây là một trụ cột nâng cao năng lực tự chủ chiến lược về an ninh.
Định hướng ấy đòi hỏi công nghiệp an ninh gắn với nghiên cứu, phát triển sản phẩm và ứng dụng công nghệ trong nước. Tính lưỡng dụng cũng mở ra khả năng sử dụng thành quả nghiên cứu cho cả nhiệm vụ an ninh và phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở yêu cầu bảo mật, hiệu quả và quy định pháp luật.
Tuy nhiên, không thể đo mức độ tự chủ chỉ bằng số lượng sản phẩm hay quy mô đầu tư. Thước đo quan trọng hơn là độ tin cậy, khả năng bảo mật, hiệu quả sử dụng và mức độ chủ động về nhân lực, kỹ thuật khi có tình huống. Làm chủ năng lực chiến lược là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự liên tục từ nghiên cứu, sản xuất đến vận hành, bảo trì và nâng cấp.

Tự chủ chiến lược giúp giảm phụ thuộc, nhưng không thể loại bỏ mọi nguy cơ. Trong môi trường quốc tế bất định, ngay cả hệ thống có nội lực mạnh vẫn có thể chịu tác động từ thiên tai, sự cố kỹ thuật hoặc biến động thị trường. Khác với xử lý hậu quả, quản trị rủi ro bắt đầu trước khi sự cố xảy ra. Trọng tâm là nhận diện khả năng phát sinh, đánh giá mức độ ảnh hưởng, xác định điểm dễ tổn thương và chuẩn bị phương án ứng phó.
Đặc biệt, các nguy cơ hiện nay có thể gây tác động dây chuyền. Thiếu năng lượng làm gián đoạn sản xuất, vận tải; sự cố công nghệ ảnh hưởng dịch vụ thiết yếu; thiên tai tác động đồng thời đến hạ tầng và sinh kế. Dự báo chiến lược giữ vai trò mở đầu quá trình ấy. Dự báo không phải đoán chính xác mọi biến động, mà là nhận diện xu hướng, chỉ ra những lĩnh vực dễ bị tổn thương và cung cấp cơ sở lựa chọn phương án.

Trong chuyên đề về an ninh tại Hội nghị ngày 7/2/2026, Đại tướng Lương Tam Quang đề cập yêu cầu chủ động nhận diện, ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm, từ xa các nguy cơ, rủi ro an ninh; đồng thời nâng cao năng lực chuẩn bị, huy động nguồn lực đáp ứng nhiệm vụ trong mọi tình huống [5].
Để thực hiện yêu cầu này, việc nghiên cứu, dự báo phải được kết nối với cơ chế chia sẻ thông tin, phân công trách nhiệm và phương án tổ chức ứng phó. Những cảnh báo về rủi ro chỉ phát huy giá trị khi được chuyển thành hoạt động chuẩn bị cụ thể, nhất là đối với các hệ thống có vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế và đời sống Nhân dân.
Cùng với phòng ngừa, sức chống chịu quốc gia thể hiện ở khả năng duy trì chức năng thiết yếu, hạn chế thiệt hại, thích ứng và phục hồi sau sự cố. Đây là năng lực giữ ổn định trong điều kiện không thể ngăn chặn hoàn toàn mọi biến động.
Với năng lượng, sức chống chịu đòi hỏi nguồn dự phòng và cơ chế điều phối khi nguồn cung gián đoạn. Với hạ tầng thông tin, đó là phương án duy trì dịch vụ, sao lưu, khôi phục dữ liệu và bảo đảm hoạt động thiết yếu. Những phương án này cần được chuẩn bị, kiểm tra định kỳ và cập nhật theo rủi ro thực tế.
Có thể khái quát sức chống chịu thành ba khâu liên kết: phòng ngừa, ứng phó và phục hồi. Phòng ngừa giảm xác suất xảy ra sự cố; ứng phó hạn chế thiệt hại; phục hồi đưa hoạt động thiết yếu trở lại ổn định.

Đối với Việt Nam, nâng cao sức chống chịu cần gắn với hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, xác định những hạ tầng trọng yếu và chuẩn bị phương án huy động nguồn lực trong tình huống khẩn cấp. Vai trò của doanh nghiệp vận hành hạ tầng, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương cần được quy định rõ để bảo đảm việc xử lý không bị chậm trễ hoặc chồng chéo trách nhiệm.
Việt Nam vẫn đứng trước những hạn chế về công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi, hạ tầng số và nhân lực chất lượng cao, như Nghị quyết 57-NQ/TW đã chỉ rõ. Khắc phục những điểm nghẽn này là điều kiện nâng cao tự chủ và sức chống chịu trong chuyển đổi số, đồng thời tăng năng lực bảo vệ các hệ thống phục vụ phát triển.
Sức chống chịu còn phụ thuộc vào hiệu quả thực thi chính sách, khả năng phối hợp và sự tham gia của xã hội. Vì vậy, không thể đánh giá năng lực bảo vệ an ninh chỉ qua nguồn lực được đầu tư; cần xem hệ thống có vận hành liên tục, phản ứng kịp thời và phục hồi hiệu quả khi xảy ra biến động hay không.
Tự chủ chiến lược, quản trị rủi ro và sức chống chịu tạo thành ba lớp năng lực bổ trợ. Tự chủ mở rộng khả năng lựa chọn; quản trị rủi ro giúp chuẩn bị trước bất lợi; sức chống chịu bảo đảm duy trì hoạt động khi biến động xảy ra.
Đó là sự phát triển trong cách tiếp cận bảo vệ an ninh quốc gia: không chỉ ngăn chặn nguy cơ, giữ vững ổn định, mà còn chủ động xây dựng điều kiện an ninh cho phát triển lâu dài.
Khi nội lực được củng cố, công nghệ và hạ tầng thiết yếu được bảo đảm, cùng với năng lực dự báo và ứng phó hiệu quả, đất nước có thêm khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trước biến động. Tự chủ chiến lược, xét đến cùng, là giữ quyền chủ động lựa chọn con đường phát triển trong một thế giới khó dự báo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, công bố ngày 6/2/2026, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
(2) Lương Tam Quang (2026), Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, chuyên đề tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7/2/2026, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
(3) Bộ Công Thương (2025), Thông tư số 50/2025/TT-BCT ngày 7/11/2025 quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.
(4) Tô Lâm (16/9/2025), Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện bốn nghị quyết của Bộ Chính trị, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
(5) Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.