

Trong điều kiện phát triển hiện nay, bảo vệ an ninh quốc gia không tách rời việc bảo đảm môi trường sống an toàn và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Bên cạnh các nguy cơ truyền thống, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân, thiên tai, ô nhiễm môi trường hay gián đoạn dịch vụ thiết yếu đều có thể tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động kinh tế - xã hội.
An ninh quốc gia và an ninh con người có quan hệ bổ trợ, không thay thế nhau. Ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội tạo điều kiện để người dân lao động, phát triển; ngược lại, chất lượng đời sống, hiệu quả hoạt động của các thiết chế và sự đồng thuận của Nhân dân góp phần củng cố ổn định. Vì vậy, hiệu quả bảo vệ an ninh cần được nhìn nhận cả từ khả năng phòng ngừa nguy cơ lẫn mức độ an toàn mà người dân thực sự được thụ hưởng.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân. Những mục tiêu này đặt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống (1).
Từ góc độ quản trị, an ninh con người được phản ánh qua hiệu quả phòng ngừa rủi ro, chất lượng dịch vụ công và mức độ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Muốn vậy, cần hoàn thiện pháp luật, nâng cao trách nhiệm thực thi và phát hiện kịp thời những vấn đề ảnh hưởng đến đời sống xã hội.
Môi trường số mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ và hoạt động kinh tế, nhưng cũng gia tăng nguy cơ giả mạo danh tính, lộ dữ liệu và lừa đảo. Ứng dụng công nghệ trong quản lý vì thế phải đi đôi với bảo vệ quyền riêng tư, an toàn thông tin và nâng cao kỹ năng số của người dân.
Đặt con người ở vị trí trung tâm còn có nghĩa đánh giá chính sách bằng kết quả cụ thể: thời gian giải quyết thủ tục hành chính, chất lượng xử lý kiến nghị, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật. Những thước đo ấy giúp chuyển mục tiêu bảo đảm an ninh thành trải nghiệm thực tế của người dân.
Đề án 06, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022, là ví dụ về đổi mới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử (2). Việc kết nối, khai thác thông tin có thể giảm yêu cầu kê khai lặp lại, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao chất lượng phục vụ. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế phụ thuộc vào độ chính xác của dữ liệu, khả năng bảo vệ thông tin cá nhân và mức độ tiếp cận của người cao tuổi, người hạn chế kỹ năng số.
Tại địa bàn dân cư, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức lực lượng hỗ trợ Công an cấp xã và huy động người dân giữ gìn an ninh, trật tự. Luật xác định nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân (3). Hoạt động phòng ngừa tại cộng đồng vì thế phải đi cùng phân công trách nhiệm rõ ràng, phối hợp hiệu quả và tuân thủ pháp luật.
Từ Đề án 06 đến cơ chế bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, điểm chung là kết hợp hiệu quả quản lý với yêu cầu phục vụ, bảo vệ con người. Công nghệ và tổ chức lực lượng chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp phát hiện sớm nguy cơ, giải quyết đúng nhu cầu của người dân.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nguồn sức mạnh quan trọng. Bên cạnh tiềm lực kinh tế, quốc phòng và an ninh, sự đồng thuận xã hội và khả năng huy động sự tham gia của Nhân dân có ý nghĩa đối với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước.
“Thế trận lòng dân” trong lĩnh vực an ninh thể hiện ở vai trò chủ thể của người dân trong phòng ngừa tội phạm, giữ gìn trật tự và giải quyết vấn đề tại cộng đồng. Ngày nay, phạm vi tham gia còn mở rộng sang phòng, chống lừa đảo trực tuyến, bảo vệ trẻ em trên mạng và nhận diện thông tin sai lệch.
Sự tham gia ấy phải dựa trên niềm tin vào pháp luật và hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước. Niềm tin không hình thành chỉ bằng tuyên truyền, vận động, mà từ việc quyền, lợi ích chính đáng được bảo vệ, chính sách được thực hiện công bằng, minh bạch và kiến nghị được giải quyết kịp thời.
Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra yêu cầu nâng cao đời sống Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Những định hướng này tạo nền tảng chính trị - xã hội cho việc củng cố “thế trận lòng dân”.
Chất lượng giải quyết công việc của cơ quan công quyền là một biểu hiện cụ thể của việc xây dựng niềm tin. Qua tiếp nhận phản ánh, xử lý thủ tục hành chính và thực hiện chính sách an sinh, người dân đánh giá bộ máy không chỉ bằng cam kết mà bằng kết quả và thái độ phục vụ.
Công khai quy trình, xác định trách nhiệm và xử lý kiến nghị đúng quy định tạo điều kiện để người dân giám sát, tham gia quản lý xã hội. Những biểu hiện chậm trễ, thiếu minh bạch phải được khắc phục bằng kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ tăng cường vận động.
Ở cơ sở, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tạo kênh để Nhân dân tham gia phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền pháp luật, cung cấp thông tin và phối hợp với lực lượng chức năng. Hiệu quả của phong trào nằm ở khả năng kết nối người dân với công tác bảo vệ an ninh ngay tại địa bàn.
Tuy nhiên, không thể đo hiệu quả chỉ bằng số lượng mô hình được nhân rộng. Khả năng tiếp nhận thông tin, xử lý vấn đề phát sinh, mức độ tham gia thực chất của người dân và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp mới là những tiêu chí phản ánh chất lượng. Đánh giá theo kết quả giúp tránh hình thức, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa “thế trận lòng dân” và năng lực quản trị xã hội.

Xây dựng “thế trận lòng dân” vì vậy vừa phát huy vai trò chủ động của Nhân dân trong bảo vệ an ninh, trật tự vừa nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan Nhà nước. Khi cả hai được thực hiện đồng bộ, nguy cơ có thể được phát hiện, xử lý từ cơ sở; quan hệ giữa Nhà nước và xã hội cũng được củng cố.

Bảo đảm an ninh quốc gia cần pháp luật đồng bộ, lực lượng thực thi đủ năng lực và hỗ trợ của công nghệ. Nhưng phòng ngừa bền vững còn phụ thuộc vào nhận thức, hành vi và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong đời sống xã hội.
Văn hóa an ninh có thể bắt đầu từ ý thức thượng tôn pháp luật, chủ động phòng tránh rủi ro, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cùng trách nhiệm giữ gìn môi trường sống an toàn. Nếu quản lý nhà nước và thực thi pháp luật tập trung duy trì trật tự, xử lý vi phạm, thì giáo dục nhận thức hướng đến ngăn ngừa nguy cơ từ sự thiếu hiểu biết hoặc thiếu trách nhiệm. Hai phương diện bổ sung cho nhau, không thể thay thế nhau.
Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục đề cao việc phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trong phát triển đất nước. Đây là cơ sở để gắn giáo dục ý thức công dân, trách nhiệm cộng đồng với xây dựng môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; biến tuân thủ pháp luật thành hành vi tự giác trong đời sống hằng ngày.
Trong chuyển đổi số, văn hóa an ninh còn thể hiện ở khả năng bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện lừa đảo, kiểm chứng thông tin và sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm. Khả năng tiếp cận công nghệ phải đi cùng năng lực nhận biết rủi ro và tự bảo vệ.
Việc cung cấp mã xác thực cho người lạ, mở đường dẫn không rõ nguồn gốc, công khai dữ liệu cá nhân hoặc chia sẻ nội dung chưa kiểm chứng có thể gây thiệt hại về tài sản, quyền riêng tư và ảnh hưởng đến cộng đồng. Do đó, kỹ năng an toàn số cần được coi là nội dung thiết thực của giáo dục phòng ngừa.
Bảo vệ người sử dụng môi trường số là trách nhiệm chung: cơ quan quản lý hoàn thiện, thực thi pháp luật; doanh nghiệp bảo đảm an toàn thông tin; cơ sở giáo dục trang bị kỹ năng; người dân thực hiện biện pháp tự bảo vệ. Trong đó, trẻ em, người cao tuổi và người hạn chế kỹ năng số cần được quan tâm đặc biệt để không bị bỏ lại phía sau.

Ở cơ sở, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” cùng hoạt động phổ biến pháp luật tại trường học, doanh nghiệp và khu dân cư có thể lan tỏa văn hóa an ninh. Nội dung tuyên truyền cần bám sát nguy cơ của từng địa bàn, đi kèm hướng dẫn xử lý tình huống cụ thể, tránh dừng ở khẩu hiệu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một số nước coi an ninh là trách nhiệm của toàn xã hội, bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước. Ngoài đầu tư quốc phòng, công nghệ và hạ tầng, họ chú trọng năng lực tự bảo vệ của người dân, văn hóa tuân thủ pháp luật và sức chống chịu của cộng đồng trước khủng hoảng.
Phần Lan phát triển mô hình “An ninh toàn diện” (Comprehensive Security), huy động chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục và người dân tham gia chuẩn bị, ứng phó, phục hồi trước tình huống khẩn cấp. Theo Chiến lược An ninh cho xã hội năm 2025, sự phối hợp đa chủ thể là nền tảng để duy trì các chức năng thiết yếu và nâng cao khả năng thích ứng trước biến động an ninh, kinh tế, môi trường, y tế công cộng (4).
Tại Singapore, mô hình “Phòng thủ toàn diện” (Total Defence) đề cao trách nhiệm của toàn xã hội. Trong sáu trụ cột có phòng thủ số (Digital Defence), chú trọng bảo vệ dữ liệu, phòng ngừa lừa đảo, nhận diện thông tin sai lệch và ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng (5).
Hai mô hình cùng nhấn mạnh phối hợp giữa Nhà nước, tổ chức và người dân, thay vì giới hạn an ninh trong lực lượng chuyên trách. Dù vậy, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phải căn cứ đặc điểm thể chế, điều kiện phát triển và thực tiễn Việt Nam, không sao chép máy móc.
Ở Việt Nam, xây dựng văn hóa an ninh cần gắn với truyền thống đại đoàn kết, giáo dục pháp luật, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; các cơ quan, tổ chức và cộng đồng cùng tham gia theo chức năng, trách nhiệm.
An ninh con người, “thế trận lòng dân” và văn hóa an ninh hợp thành nền tảng xã hội để giữ vững ổn định từ cơ sở. Trên nền tảng đó, bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới còn đòi hỏi củng cố nội lực, nâng cao tự chủ chiến lược và chủ động thích ứng trước biến động quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, công bố ngày 6/2/2026, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
(2) Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022–2025, tầm nhìn đến năm 2030.
(3) Quốc hội (2023), Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, số 30/2023/QH15, ngày 28/11/2023, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024.
(4) Chính phủ Phần Lan (2025), Security Strategy for Society, thông qua ngày 16/1/2025, quy định mô hình an ninh toàn diện với sự tham gia của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và người dân.
(5) Bộ Quốc phòng Singapore (2025), Total Defence, tài liệu về mô hình Phòng thủ toàn diện và sáu trụ cột, trong đó có phòng thủ số.