TÓM TẮT
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc dưới tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, gia tăng chi phí đầu vào, yêu cầu nâng cao năng suất và chất lượng, áp lực giảm phát thải khí nhà kính, yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường trong nước và quốc tế. Cùng với đó, những tiến bộ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như GIS, GNSS/RTK, viễn thám, UAV, IoT, trí tuệ nhân tạo, Big Data, Cloud Computing, Blockchain, Digital Twin, robot, công nghệ sinh học, Smart Factory, công nghệ Biochar và các nền tảng quản trị số đang làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, quản lý tài nguyên, quản trị hợp tác xã, truy xuất nguồn gốc và điều hành chuỗi giá trị nông nghiệp. Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam xác định chuyển đổi xanh cần gắn với chuyển đổi số, ESG, kiểm kê khí nhà kính, truy xuất nguồn gốc, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng của quá trình chuyển đổi.
Tài liệu tiếp cận chuyển đổi kép như quá trình thực hiện đồng thời, tích hợp và tương hỗ giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Chuyển đổi số tạo cơ sở dữ liệu và năng lực đo lường, kết nối, phân tích, dự báo và quản trị; chuyển đổi xanh xác định mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu; đổi mới sáng tạo kết nối hai quá trình này để hình thành những phương thức sản xuất, quản trị và kinh doanh mới. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng chuyển từ chứng nhận dựa nhiều vào hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu, truy xuất thời gian thực, MRV số hóa và phân tích AI được Hellen Huong Nguyen trình bày trong bài “Từ chứng nhận đến dữ liệu bền vững – Vai trò của tiêu chuẩn quốc tế trong chuyển đổi xanh và xuất khẩu nông nghiệp”, tại VGA Conference, năm 2026.
Trên cơ sở những giải pháp mà Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam đã, đang và dự kiến tiếp cận, tài liệu đề xuất hệ sinh thái gồm 11 nhóm giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từ hạ tầng dữ liệu không gian, nông nghiệp chính xác, IoT, AI, Blockchain, chuyển đổi số hợp tác xã, công nghệ sinh học, kinh tế tuần hoàn, Biochar, ESG–MRV–carbon, Smart Factory đến thị trường và tài chính xanh. VGA được định vị là đầu mối tiếp cận, sàng lọc, kết nối, tích hợp, thúc đẩy trình diễn, chuyển giao và nhân rộng các giải pháp phù hợp với từng ngành hàng, vùng sinh thái và chuỗi giá trị. Mục tiêu cuối cùng là góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, quản trị minh bạch hơn, phát thải thấp hơn và có năng lực cạnh tranh bền vững hơn trong thập kỷ tới.
Từ khóa: chuyển đổi kép; chuyển đổi số; chuyển đổi xanh; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; nông nghiệp bền vững; hợp tác xã số; kinh tế tuần hoàn; ESG; MRV; tín chỉ carbon.
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng suất, mở rộng sản xuất hàng hóa và tăng khả năng tham gia thị trường quốc tế. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới đang đặt ngành nông nghiệp trước yêu cầu phải thay đổi mô hình tăng trưởng. Những thách thức về biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, suy thoái đất, thiếu nước, ô nhiễm môi trường, tổn thất sau thu hoạch, chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, năng lượng và lao động ngày càng cho thấy việc tiếp tục tăng sản lượng chủ yếu thông qua gia tăng đầu vào sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn.
Trong khi đó, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của nông sản đang thay đổi. Thị trường không chỉ quan tâm đến giá, sản lượng và chất lượng mà ngày càng chú ý đến nguồn gốc sản phẩm, mức độ minh bạch của chuỗi cung ứng, sử dụng tài nguyên, phát thải carbon, trách nhiệm xã hội, quản trị doanh nghiệp và độ tin cậy của dữ liệu. Hellen Huong Nguyen, trong bài “Từ chứng nhận đến dữ liệu bền vững – Vai trò của tiêu chuẩn quốc tế trong chuyển đổi xanh và xuất khẩu nông nghiệp”, trình bày tại VGA Conference ngày 3–4/6/2026, chỉ ra sự chuyển dịch từ các tiêu chí truyền thống như giá, chất lượng và năng lực sản xuất sang carbon, truy xuất nguồn gốc, quản trị ESG và dữ liệu bền vững được xác minh. Tác giả cũng nhận định xu hướng mới của hệ thống tuân thủ là truy xuất thời gian thực, MRV số hóa, phân tích AI và bản đồ chuỗi cung ứng.
ESG vì vậy cần được xem là một bộ phận của quá trình đổi mới quản trị thay vì chỉ là hoạt động báo cáo. “Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo khung Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG)”, được xây dựng trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững theo Quyết định số 167/QĐ-TTg và công bố tháng 9/2023, xác định ESG là bộ tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp, giúp các bên liên quan hiểu cách doanh nghiệp quản lý rủi ro và cơ hội trên ba phương diện này. Công cụ được xây dựng có tham khảo GRI, MSCI, tiêu chuẩn môi trường – xã hội của IFC, Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững của VCCI/VBCSD và VNSI của HOSE; nhóm chuyên gia xây dựng gồm ThS. Vũ Chí Công cùng Ninh Thị Hoa, Nguyễn Phương Nam và Nguyễn Minh Huệ.
Cùng lúc với những yêu cầu chuyển đổi xanh, sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ đang cung cấp những công cụ mới để thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất. GIS và GNSS/RTK cho phép xác định và quản lý chính xác vùng sản xuất; UAV và viễn thám hỗ trợ quan sát trên diện rộng; IoT tạo dòng dữ liệu thời gian thực; AI và Big Data hỗ trợ dự báo và ra quyết định; Blockchain và hệ thống định danh số hỗ trợ truy xuất; Digital Twin tạo khả năng mô phỏng và quản lý hệ thống sản xuất; còn các nền tảng Cloud, ERP, Dashboard và Smart Factory mở rộng khả năng số hóa từ đồng ruộng đến chế biến và thị trường. Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam hiện xác định rõ nhóm chuyển đổi số bao gồm cơ sở dữ liệu số, GIS, GNSS/RTK, Digital Twin, AI, IoT, Big Data, Cloud Computing, Blockchain, truy xuất nguồn gốc, Smart Factory, Drone và các nền tảng điều hành số.
Thực tiễn ứng dụng công nghệ chính xác trong sản xuất cũng cho thấy chuyển đổi số có thể đồng thời tạo hiệu quả kinh tế và môi trường. Trong báo cáo “Cơ giới hóa tự động hóa trong sản xuất lúa giảm phát thải ở Việt Nam”, trình bày ngày 27/02/2026, TS. Lê Quý Kha nêu kết quả từ mô hình DTALS cho thấy định vị chính xác và cơ giới hóa có khả năng giảm chồng lấn đường đi, giảm sử dụng nhiên liệu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước pha thuốc và lượng giống; từ đó giảm đầu vào sản xuất và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Các số liệu này là kết quả của mô hình được tác giả trình bày và cần được tiếp tục chuẩn hóa, thẩm định hoặc xác minh khi sử dụng cho mục đích kiểm kê phát thải hoặc tín chỉ carbon.
Một yêu cầu quan trọng khác là chuyển từ quản lý giảm phát thải bằng ước lượng sang hệ thống đo lường, báo cáo và xác minh. PGS.TS. Mai Văn Trịnh, Viện Môi trường Nông nghiệp, trong tài liệu “Quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, trình bày tại Cần Thơ ngày 24/10/2025, xác định MRV là quy trình đo lường hoặc giám sát, báo cáo và xác minh lượng phát thải hoặc giảm phát thải khí nhà kính. Tài liệu nhấn mạnh rằng việc lượng hóa kết quả giảm phát thải phải dựa trên dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải, sau đó được báo cáo, rà soát và xác minh nhằm bảo đảm tính đầy đủ và độ tin cậy.
Vấn đề của Việt Nam vì vậy không chỉ là thiếu hay có công nghệ. Thách thức lớn hơn là nhiều giải pháp hiện vẫn tồn tại tương đối độc lập. Bản đồ số có thể chưa liên thông với nhật ký điện tử; IoT có thể chưa kết nối hệ thống quản trị hợp tác xã; truy xuất QR có thể thiếu dữ liệu đáng tin cậy từ vùng sản xuất; công nghệ giảm phát thải có thể chưa gắn với MRV; phụ phẩm đã được xử lý nhưng chưa được tổ chức thành mô hình kinh tế tuần hoàn; hoặc hoạt động ESG chưa được kết nối với dữ liệu sản xuất và tài chính. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận “một công nghệ giải quyết một vấn đề” sang tích hợp nhiều công nghệ, phương thức quản trị và mô hình kinh doanh thành hệ sinh thái giải pháp xuyên suốt chuỗi giá trị.
Đây cũng là hướng mà Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam đang tiếp cận. Báo cáo kết quả hoạt động Ban Nông nghiệp Xanh giai đoạn 28/01/2026–08/06/2026 xác định nhiệm vụ của Ban là kết nối chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã, địa phương và các đối tác nhằm thúc đẩy nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi số, ESG, MRV và tín chỉ carbon. Báo cáo đồng thời xác định mục tiêu bước đầu hình thành hệ sinh thái Nông nghiệp Xanh VGA, kết nối nguồn lực khoa học và công nghệ, xây dựng mô hình thực tiễn và mạng lưới chuyên gia – doanh nghiệp – địa phương.
2. Khái niệm chuyển đổi kép và tác động đến phát triển nông nghiệp bền vững
Trong phạm vi tài liệu này, chuyển đổi kép được hiểu là quá trình thực hiện đồng thời, tích hợp và tương hỗ giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Chuyển đổi số tạo nền tảng dữ liệu và cung cấp công cụ để xác định vị trí, đo lường, giám sát, kết nối, phân tích, dự báo và quản trị. Chuyển đổi xanh xác định hướng sử dụng dữ liệu và công nghệ đó nhằm tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, kiểm soát ô nhiễm, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì dịch vụ hệ sinh thái và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đổi mới sáng tạo là cầu nối chuyển những năng lực công nghệ và yêu cầu môi trường thành mô hình tổ chức sản xuất, quản trị và kinh doanh mới.
Theo cách tiếp cận này, chuyển đổi kép không phải phép cộng đơn giản giữa số hóa và xanh hóa. Một hệ thống sản xuất có thể được số hóa rất cao nhưng nếu việc số hóa chỉ làm tăng tốc độ sản xuất và tiêu thụ tài nguyên mà không cải thiện hiệu quả môi trường thì chưa thể coi là chuyển đổi kép theo nghĩa phát triển bền vững. Ngược lại, mục tiêu giảm phát thải hoặc sản xuất xanh nếu thiếu dữ liệu tin cậy, công cụ đo lường và hệ thống quản trị thì khó xác định đường cơ sở, đánh giá kết quả, thực hiện MRV và chứng minh giá trị đối với thị trường. Quan hệ giữa hai quá trình vì thế mang tính tương hỗ: số hóa làm cho chuyển đổi xanh có thể đo lường và quản trị; chuyển đổi xanh định hướng cho quá trình số hóa tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong nông nghiệp theo nghĩa rộng, chuyển đổi kép có thể tác động trên toàn bộ hệ thống từ tài nguyên đầu vào đến thị trường cuối cùng. GIS, GNSS/RTK và viễn thám hỗ trợ quản lý đất, rừng, vùng trồng và vùng nuôi; IoT, UAV và AI hỗ trợ tối ưu hóa vật tư và điều kiện sản xuất; nền tảng hợp tác xã số giúp quản lý thành viên, vùng nguyên liệu, vật tư, tài sản, tài chính và hợp đồng; Blockchain và truy xuất điện tử tăng khả năng minh bạch chuỗi cung ứng; công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ, tái sinh, Biochar và tái chế phụ phẩm hỗ trợ giảm tác động môi trường; còn ESG, kiểm kê khí nhà kính và MRV giúp chuyển kết quả môi trường thành thông tin có thể quản trị, báo cáo và trong những trường hợp đáp ứng đầy đủ phương pháp luận, có thể trở thành cơ sở cho phát triển tín chỉ carbon.
Do đó, trong tài liệu này có thể khái quát chuyển đổi kép trong nông nghiệp theo ba cấu phần liên kết: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới phương thức quản trị – tổ chức chuỗi giá trị. Mục tiêu cuối cùng không phải số hóa càng nhiều càng tốt hoặc xanh hóa mang tính hình thức, mà là nâng năng suất tổng hợp, giảm chi phí, sử dụng tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải, gia tăng giá trị sản phẩm, nâng năng lực quản trị của doanh nghiệp và hợp tác xã, cải thiện sinh kế của người sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh dài hạn của nông nghiệp Việt Nam.
3. Phạm vi nông nghiệp được sử dụng trong tài liệu
Khái niệm nông nghiệp trong tài liệu được sử dụng theo nghĩa rộng, bao gồm trồng trọt và phát triển vùng nguyên liệu; lâm nghiệp và các dịch vụ hệ sinh thái rừng; chăn nuôi; dược liệu; nuôi trồng, khai thác thủy sản và nuôi biển; nông nghiệp hữu cơ; nông nghiệp tái sinh; nông nghiệp thông minh và nông nghiệp chính xác; hợp tác xã và kinh tế nông thôn; sơ chế, bảo quản, chế biến sâu và logistics; tái sử dụng và tái chế phế, phụ phẩm từ trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và chế biến; Biochar, năng lượng sinh học và kinh tế tuần hoàn; du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái và các mô hình sinh kế gắn với tài nguyên bản địa; đồng thời bao gồm các hoạt động quản trị ESG, kiểm kê khí nhà kính, MRV, tín chỉ carbon, tài chính xanh và phát triển thị trường liên quan đến các chuỗi giá trị nông, lâm, thủy sản.
Cách tiếp cận này phù hợp với cơ cấu chuyên môn mà Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam đang xây dựng. Hồ sơ năng lực VGA xác định Ban Nông nghiệp Xanh bao quát trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, dược liệu, nông nghiệp hữu cơ, tái sinh, thông minh, chính xác, du lịch nông nghiệp – sinh thái, kinh tế tuần hoàn, Biochar và công nghệ sau thu hoạch; Ban Thủy sản Xanh bao quát nuôi trồng, nuôi biển công nghệ cao, RAS, kinh tế tuần hoàn, Blue Carbon, GIS, AI, IoT, truy xuất, MRV và ESG trong thủy sản.
Việc sử dụng khái niệm nông nghiệp theo nghĩa rộng có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng hệ sinh thái giải pháp. Phát triển bền vững không thể được giải quyết chỉ tại khâu sản xuất trên đồng ruộng. Một phần đáng kể giá trị kinh tế, tiêu thụ năng lượng, phát sinh phụ phẩm, yêu cầu chất lượng và phát thải nằm ở các khâu sau thu hoạch, chế biến, bảo quản, logistics và thị trường. Ngược lại, các nguồn lực như phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi, sinh khối lâm nghiệp hoặc phụ phẩm thủy sản có thể trở thành nguyên liệu cho phân hữu cơ, Biochar, năng lượng sinh học hoặc vật liệu mới. Vì vậy, việc tích hợp các ngành và các khâu trong chuỗi giá trị là điều kiện cần thiết để chuyển từ sản xuất xanh đơn lẻ sang kinh tế nông nghiệp xanh và tuần hoàn.
4. Mục tiêu và phương pháp tiếp cận của tài liệu
Tài liệu được xây dựng nhằm bốn mục tiêu chính. Thứ nhất, nhận diện những thay đổi về bối cảnh, xu hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang tác động tới nông nghiệp Việt Nam trong thập kỷ tới. Thứ hai, hệ thống hóa những giải pháp mà VGA đã, đang hoặc có khả năng tiếp cận thành các nhóm có quan hệ chức năng, thay vì trình bày như danh mục công nghệ riêng rẽ. Thứ ba, phân tích khả năng tích hợp các giải pháp vào các ngành, hợp tác xã, doanh nghiệp và chuỗi giá trị cụ thể. Thứ tư, đề xuất định hướng phát triển hệ sinh thái giải pháp phục vụ chuyển đổi kép trong giai đoạn 2026–2035.
Phương pháp tiếp cận không coi VGA là đơn vị sở hữu tất cả các công nghệ. Vai trò phù hợp hơn là một đầu mối điều phối hệ sinh thái, thực hiện các chức năng tiếp cận, sàng lọc, kết nối, tích hợp, thúc đẩy khảo nghiệm và trình diễn, đào tạo, chuyển giao và hỗ trợ nhân rộng. Hồ sơ năng lực VGA sử dụng khái niệm “Green Innovation Ecosystem Integrator”, đồng thời xác định vai trò “bộ lọc công nghệ” với các tiêu chí về tính pháp lý, cơ sở khoa học, kết quả thực tiễn, khả năng sử dụng và chuyển giao, khả năng tích hợp với nền tảng số và hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường.
Từ cách tiếp cận trên, phần tiếp theo của tài liệu sẽ phân tích bối cảnh và xu hướng phát triển nông nghiệp trong thập kỷ tới, sau đó xây dựng hệ sinh thái 11 nhóm giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và xem xét khả năng tích hợp chúng trong các chuỗi giá trị nông nghiệp cụ thể.
I. BỐI CẢNH VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG THẬP KỶ TỚI
1.1. Bối cảnh toàn cầu và Việt Nam
Nông nghiệp thế giới đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực không còn tách rời các mục tiêu về thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành những công cụ quan trọng để giải quyết đồng thời bài toán tăng năng suất, tiết kiệm đầu vào, giảm phát thải và chứng minh tính bền vững của sản phẩm.
Đối với Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi này càng trở nên rõ nét khi nền nông nghiệp vừa phải duy trì vai trò bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho khu vực nông thôn và nguồn cung nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, vừa phải nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Báo cáo tổng hợp kết quả Hội thảo và Triển lãm công nghệ “Nông nghiệp Xanh – ESG – MRV – Net Zero và AI trong nông nghiệp” do Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam và Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội phối hợp tổ chức trong hai ngày 03–04/6/2026 nhận định rằng, trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới Net Zero 2050 và từng bước hình thành thị trường carbon trong nước, nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện theo hướng xanh, tuần hoàn, số hóa và phát triển bền vững.
Sức ép chuyển đổi không chỉ xuất phát từ chính sách môi trường mà còn đến từ thay đổi của thị trường. Hellen Huong Nguyen, Control Union Vietnam, trong bài “Từ chứng nhận đến dữ liệu bền vững – Vai trò của tiêu chuẩn quốc tế trong chuyển đổi xanh và xuất khẩu nông nghiệp”, trình bày tại VGA Conference ngày 3–4/6/2026, cho thấy các yêu cầu thương mại đang dịch chuyển từ cách đánh giá chủ yếu dựa trên giá, chất lượng và năng lực sản xuất sang đánh giá thêm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, quản trị ESG và dữ liệu bền vững được xác minh. Tác giả đồng thời chỉ ra xu hướng chuyển từ hồ sơ giấy và đánh giá định kỳ sang truy xuất thời gian thực, MRV số hóa, phân tích AI và bản đồ chuỗi cung ứng.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của một sản phẩm nông nghiệp trong thập kỷ tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng trả lời đồng thời nhiều câu hỏi: sản phẩm được sản xuất ở đâu; ai sản xuất; sử dụng loại giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nào; lượng nước, năng lượng và nhiên liệu tiêu thụ bao nhiêu; phát thải khí nhà kính ở mức nào; điều kiện lao động và quản trị ra sao; sản phẩm được chế biến, vận chuyển và phân phối như thế nào; và toàn bộ những thông tin đó có thể được kiểm chứng bằng dữ liệu hay không.
Ở góc độ doanh nghiệp, ESG đang chuyển dần từ khái niệm mang tính tự nguyện sang một hệ thống quản trị rủi ro và cơ hội. Vũ Chí Công và cộng sự trong “Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo khung Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG)”, công bố tháng 9/2023 trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững theo Quyết định số 167/QĐ-TTg, xác định ESG là bộ tiêu chuẩn liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị trong quá trình vận hành doanh nghiệp. Công cụ này tham khảo các hệ thống như GRI, MSCI, IFC, VCCI/VBCSD và VNSI của HOSE, cho thấy việc thực hành ESG ngày càng đòi hỏi chỉ tiêu, dữ liệu và phương pháp đánh giá cụ thể.
Từ đó có thể thấy một thay đổi căn bản: phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn mới không chỉ là áp dụng một số quy trình kỹ thuật “xanh”, mà phải tiến tới quản trị toàn bộ hệ thống bằng dữ liệu, tiêu chuẩn và các chỉ tiêu có thể đo lường.
1.2. Những điểm nghẽn cần giải quyết
Mặc dù Việt Nam đã tiếp cận nhiều công nghệ hiện đại, việc chuyển các tiến bộ đó thành hiệu quả trên quy mô lớn vẫn còn một số điểm nghẽn mang tính hệ thống.
Trước hết là đặc điểm sản xuất phân tán, số lượng lớn hộ nông dân và vai trò ngày càng quan trọng của hợp tác xã. Khi dữ liệu vùng trồng, thành viên, mùa vụ, vật tư, tài chính, kho, tài sản, tiêu chuẩn chất lượng và tiêu thụ sản phẩm chưa được quản trị trên một nền tảng thống nhất, việc áp dụng AI, IoT, truy xuất nguồn gốc hoặc MRV rất khó đạt hiệu quả đầy đủ. Đây là lý do Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam năm 2026 dành riêng một hợp phần cho chuyển đổi số hợp tác xã, bao gồm quản lý dữ liệu sản xuất, nhật ký điện tử, thành viên, vật tư, tài sản, kho, tài chính, truy xuất QR và Blockchain, Dashboard, AI, thương mại điện tử và kết nối ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ.
Điểm nghẽn thứ hai là sự phân mảnh của các công nghệ. Một địa phương có thể đã có bản đồ số nhưng dữ liệu bản đồ chưa kết nối với nhật ký sản xuất. Một hợp tác xã có thể có hệ thống QR nhưng thông tin truy xuất chưa liên thông với cảm biến IoT hay hồ sơ chất lượng. Một doanh nghiệp có thể thực hiện kiểm kê khí nhà kính nhưng dữ liệu sản xuất chưa đủ chi tiết để chuyển sang dMRV. Một dự án Biochar có thể tạo ra sản phẩm hữu ích cho đất nhưng chưa xây dựng được phương pháp xác định đường cơ sở, tính toán lượng carbon lưu giữ và hệ thống xác minh. Sự thiếu liên thông này khiến giá trị của từng công nghệ bị giới hạn.
Điểm nghẽn thứ ba là khoảng cách giữa công nghệ và chứng minh hiệu quả. TS. Lê Quý Kha trong bài “Cơ giới hóa tự động hóa trong sản xuất lúa giảm phát thải ở Việt Nam”, trình bày ngày 27/02/2026, đưa ra các kết quả mô hình cho thấy định vị chính xác, drone và cơ giới hóa có khả năng giảm chồng lấn, tiết kiệm nhiên liệu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước pha thuốc và lượng giống. Tuy nhiên, chính việc chuyển những kết quả kỹ thuật này thành lượng giảm phát thải được công nhận đòi hỏi dữ liệu chuẩn hóa và MRV.
PGS.TS. Mai Văn Trịnh, Viện Môi trường Nông nghiệp, trong tài liệu “Quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, trình bày tại Cần Thơ ngày 24/10/2025, cho rằng kết quả giảm phát thải phải được lượng hóa thông qua dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải, sau đó được báo cáo và xác minh để bảo đảm độ tin cậy. Đây là điểm nối quan trọng giữa công nghệ sản xuất với quản trị carbon.
Điểm nghẽn thứ tư là kết nối chưa đầy đủ giữa sản xuất, chế biến, logistics và thị trường. Giá trị nông sản không chỉ hình thành tại đồng ruộng. Phạm Xuân Thỏa trong bài “Ứng dụng nền tảng quản trị dữ liệu giao thương GDPX & truy xuất nguồn gốc eGap trong phát triển chuỗi giá trị nông sản”, trình bày tại Hà Nội ngày 04/6/2026, đặt vấn đề rằng dữ liệu, truy xuất, minh bạch, thương hiệu, chuỗi cung ứng và niềm tin thị trường là những yếu tố quyết định giá trị thương mại. Tác giả nhấn mạnh rằng cùng một sản phẩm nhưng khác hệ dữ liệu có thể tạo ra giá trị khác nhau.
Vì vậy, một chiến lược công nghệ cho nông nghiệp bền vững phải giải quyết đồng thời bài toán từ dữ liệu không gian, sản xuất, hợp tác xã và chế biến đến ESG, carbon, thương mại và tài chính.
1.3. Các xu hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chủ đạo
Trong thập kỷ tới, có thể nhận diện một số xu hướng công nghệ có khả năng tác động sâu rộng đến nông nghiệp Việt Nam.
Xu hướng đầu tiên là chuyển từ nông nghiệp dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang nông nghiệp chính xác dựa trên dữ liệu không gian và dữ liệu thời gian thực. Các công nghệ GIS, GNSS/RTK, viễn thám, UAV, LiDAR và Spatial ID cho phép định danh chính xác từng thửa đất, vùng sản xuất, vùng nuôi hoặc lô rừng, từ đó tạo nền tảng cho quản lý sản xuất, truy xuất và MRV.
Xu hướng thứ hai là kết nối thiết bị và tự động hóa thông qua IoT, cảm biến, camera, drone, robot và các hệ thống điều khiển. Khi dữ liệu về đất, nước, khí tượng, cây trồng, vật nuôi hay môi trường ao nuôi được thu nhận liên tục, quá trình điều hành có thể chuyển dần từ phản ứng sau khi sự cố xảy ra sang cảnh báo sớm và điều khiển chủ động.
Xu hướng thứ ba là AI, Big Data, Cloud Computing và Digital Twin. AI có thể hỗ trợ nhận diện sâu bệnh, dự báo năng suất, tối ưu tưới và dinh dưỡng, nhận dạng bất thường, phân tích hình ảnh viễn thám, dự báo nhu cầu vật tư và hỗ trợ quyết định. Khi được kết hợp với Digital Twin, dữ liệu thực tế có thể tạo thành mô hình số mô phỏng và hỗ trợ điều hành hệ thống sản xuất.
Xu hướng thứ tư là hạ tầng dữ liệu tin cậy và truy xuất thế hệ mới. Tài liệu “Hạ tầng dữ liệu số cho nông nghiệp xanh phục vụ định danh, truy xuất nguồn gốc – ESG – EUDR – MRV – Carbon” do Nguyễn Đức Trường, Công ty TNHH Công nghệ Hạt giống Vàng, trình bày ngày 04/6/2026, đặt Blockchain, TrustID, định danh toàn cầu GS1, dữ liệu thời gian thực và định vị chính xác trong một kiến trúc dữ liệu xuyên suốt nhằm phục vụ đồng thời truy xuất, tuân thủ, ESG và carbon.
Xu hướng thứ năm là công nghệ sinh học và nông nghiệp tái sinh. Các chế phẩm vi sinh, phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, xử lý phụ phẩm ngay trên đồng ruộng, quản lý sức khỏe đất và các giải pháp sinh học thay thế một phần hóa chất đầu vào đang trở thành một hướng quan trọng. Các tài liệu PADCO và Probiotics/Vinatoken trong bộ hồ sơ VGA cho thấy doanh nghiệp đang phát triển những giải pháp xử lý rơm rạ, cải tạo đất và giảm đầu vào hóa học; các kết quả do doanh nghiệp công bố cần tiếp tục được khảo nghiệm và xác minh độc lập trước khi nhân rộng hoặc sử dụng cho mục tiêu carbon.
Xu hướng thứ sáu là kinh tế tuần hoàn, Biochar và carbon removal. Phụ phẩm cây trồng, chăn nuôi, lâm nghiệp và chế biến ngày càng được nhìn nhận như nguồn nguyên liệu cho phân bón hữu cơ, Biochar, năng lượng và vật liệu sinh học. Đây là bước chuyển từ “quản lý chất thải” sang “quản trị dòng tài nguyên”.
Xu hướng thứ bảy là ESG, MRV và kinh tế carbon. Khi phát thải và giảm phát thải trở thành đối tượng quản trị, dữ liệu sản xuất có thể chuyển thành dữ liệu carbon. Tuy nhiên, để từ dữ liệu carbon tiến tới tín chỉ carbon cần đáp ứng đầy đủ phương pháp luận, tính bổ sung, đường cơ sở, MRV và xác minh độc lập.
Những xu hướng này không tồn tại riêng rẽ. Báo cáo tổng hợp Hội thảo VGA–HHT năm 2026 cho thấy các nội dung chuyên môn được trình bày đã bao quát từ trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, AI, ESG, MRV và tín chỉ carbon đến các mô hình Net Zero, phản ánh xu hướng ngày càng rõ của việc tích hợp nhiều công nghệ và công cụ quản trị trong cùng một hệ sinh thái.
1.4. Từ chuyển đổi công nghệ đến chuyển đổi mô hình phát triển
Từ các xu hướng nêu trên có thể thấy rằng vấn đề của nông nghiệp trong thập kỷ tới không đơn thuần là thay máy móc cũ bằng máy móc mới hay đưa một số phần mềm vào sản xuất. Bản chất sâu hơn là chuyển đổi mô hình phát triển từ quản lý phân tán sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ tối đa hóa sản lượng sang tối ưu đồng thời năng suất, chất lượng, tài nguyên và phát thải; từ xử lý chất thải sang tuần hoàn tài nguyên; từ truy xuất hình thức sang dữ liệu có khả năng kiểm chứng; từ sản phẩm nông nghiệp sang chuỗi giá trị có thương hiệu, tiêu chuẩn và thông tin bền vững.
Do đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ tạo được tác động lớn khi các công nghệ được tích hợp với thể chế quản trị, tổ chức sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn, thị trường và nguồn vốn. Đây chính là cơ sở để tiếp cận chuyển đổi kép theo hướng hệ sinh thái thay vì tiếp cận từng giải pháp riêng lẻ.
II. KHUNG CHUYỂN ĐỔI KÉP VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI CHUYỂN ĐỔI XANH VIỆT NAM
2.1. Mối quan hệ giữa chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo
Khái niệm chuyển đổi kép đã được xác định ở phần Mở đầu như sự tích hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ở cấp độ vận hành, mối quan hệ này có thể được hiểu theo ba lớp.
Lớp thứ nhất là dữ liệu và khả năng quan sát hệ thống. Chuyển đổi số làm cho các quá trình trong nông nghiệp trở nên có thể quan sát và định lượng thông qua GIS, GNSS/RTK, IoT, nhật ký số, AI, Blockchain, ERP hoặc Dashboard. Khi dữ liệu vùng sản xuất, đầu vào, năng suất, nước, năng lượng, phụ phẩm và phát thải được ghi nhận có hệ thống, nhà quản lý có thể biết hệ thống đang vận hành như thế nào.
Lớp thứ hai là mục tiêu chuyển đổi. Chuyển đổi xanh xác định hệ thống cần được cải thiện theo hướng nào: giảm phân bón và hóa chất không cần thiết, tiết kiệm nước và năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện sức khỏe đất, tái sử dụng phụ phẩm, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao trách nhiệm xã hội và tăng tính minh bạch của quản trị.
Lớp thứ ba là đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo tạo ra những phương án kết hợp dữ liệu và mục tiêu xanh thành mô hình sản xuất hoặc kinh doanh mới. Ví dụ, dữ liệu GIS và IoT không chỉ được dùng để quan sát mà có thể trở thành đầu vào của AI để tối ưu tưới; dữ liệu sản xuất của HTX có thể đồng thời phục vụ truy xuất, chứng nhận, quản lý hợp đồng và MRV; phụ phẩm sau chế biến có thể được chuyển thành Biochar hoặc phân hữu cơ và quay trở lại vùng nguyên liệu; dữ liệu carbon có thể hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược ESG và tiếp cận tài chính xanh.
Như vậy, có thể diễn đạt mối quan hệ này dưới dạng một chu trình: chuyển đổi số giúp “đo được và quản trị được”; chuyển đổi xanh giúp “xác định cần thay đổi gì”; đổi mới sáng tạo giúp “tổ chức lại hệ thống để tạo giá trị mới”. Ba thành tố này tạo thành nền tảng của chuyển đổi kép.
2.2. Từ công nghệ đơn lẻ đến hệ sinh thái giải pháp
Một trong những vấn đề cần tránh là đồng nhất chuyển đổi kép với việc mua sắm nhiều thiết bị hoặc phần mềm. Nếu mỗi công nghệ chỉ giải quyết một phần nhỏ và dữ liệu không liên thông, tổng đầu tư có thể lớn nhưng tác động toàn hệ thống vẫn hạn chế.
Do đó, cách tiếp cận phù hợp hơn là chuyển từ công nghệ đơn lẻ sang giải pháp; từ giải pháp sang gói giải pháp; từ gói giải pháp sang chuỗi giải pháp; cuối cùng hình thành hệ sinh thái.
Một hệ thống GNSS/RTK chỉ tạo ra giá trị ban đầu về định vị. Khi kết hợp với GIS, nó tạo bản đồ chính xác. Khi kết hợp tiếp với IoT và nhật ký điện tử, hệ thống có thể quản lý vùng sản xuất. Khi bổ sung Blockchain và truy xuất, dữ liệu có thể đi theo sản phẩm. Khi kết nối ESG và MRV, dữ liệu sản xuất có thể phục vụ kiểm kê và giảm phát thải. Khi kết nối doanh nghiệp chế biến, logistics và thị trường, toàn bộ chuỗi mới tạo thành giá trị kinh tế.
Logic tương tự áp dụng cho Biochar. Một thiết bị nhiệt phân chưa phải là một hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn. Để tạo giá trị đầy đủ cần có nguồn phụ phẩm ổn định, logistics nguyên liệu, công nghệ nhiệt phân phù hợp, tiêu chuẩn chất lượng Biochar, phương án sử dụng trong đất hoặc vật liệu, dữ liệu LCA, hệ thống MRV carbon và thị trường tiêu thụ.
Vì vậy, trọng tâm của tài liệu này không phải đánh giá công nghệ nào “tốt nhất”, mà xác định công nghệ nào có thể bổ trợ cho công nghệ nào, ở khâu nào của chuỗi giá trị, cho đối tượng nào và trong điều kiện nào.
2.3. Năm cấu phần của hệ sinh thái chuyển đổi kép
Trên cơ sở các tài liệu và hoạt động thực tiễn của VGA, hệ sinh thái chuyển đổi kép có thể được tổ chức thành năm cấu phần có quan hệ chặt chẽ.
Cấu phần thứ nhất là hệ sinh thái tri thức, gồm viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, tổ chức tiêu chuẩn, phòng thử nghiệm và các đơn vị chứng nhận. Cấu phần này tạo cơ sở khoa học, phương pháp, tiêu chuẩn, khảo nghiệm và nguồn nhân lực.
Cấu phần thứ hai là hệ sinh thái công nghệ, gồm các doanh nghiệp và chủ sở hữu giải pháp về GIS, GNSS/RTK, UAV, AI, IoT, Blockchain, Digital Twin, vi sinh, Biochar, Smart Factory, MRV và nhiều công nghệ khác.
Cấu phần thứ ba là hệ sinh thái tổ chức sản xuất, trong đó hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất và vùng nguyên liệu là nơi công nghệ được áp dụng. Trong cấu phần này, HTX có vị trí đặc biệt vì là đầu mối có thể kết nối hàng trăm hoặc hàng nghìn hộ sản xuất với doanh nghiệp, tiêu chuẩn và thị trường. Hồ sơ năng lực VGA năm 2026 xác định mục tiêu phát triển mô hình HTX số và HTX thông minh thông qua quản lý thành viên, vùng nguyên liệu, vật tư, tài sản, kho, tài chính, Dashboard, AI, truy xuất và thương mại điện tử.
Cấu phần thứ tư là hệ sinh thái quản trị bền vững, gồm ESG, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm kê khí nhà kính, MRV, LCA, truy xuất, chứng nhận và thị trường carbon. Đây là lớp giúp biến kết quả kỹ thuật thành thông tin có thể so sánh, báo cáo và xác minh.
Cấu phần thứ năm là hệ sinh thái thị trường và tài chính, gồm doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, hệ thống phân phối, thương mại điện tử, ngân hàng, quỹ đầu tư, quỹ khí hậu, tín dụng xanh và PPP. Nếu thiếu cấu phần này, chuyển đổi xanh có thể tạo ra lợi ích môi trường nhưng khó duy trì về kinh tế.
Năm cấu phần không hoạt động theo trình tự tuyến tính mà tạo thành mạng lưới tương tác. Đây là điểm khác biệt giữa “chuỗi công nghệ” và “hệ sinh thái giải pháp”.
2.4. Vai trò của Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam trong hệ sinh thái
Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam không nên được định vị là một nhà cung cấp sở hữu toàn bộ các công nghệ. Vai trò phù hợp hơn là tổ chức kết nối và điều phối hệ sinh thái, tạo môi trường để các chủ thể có năng lực bổ trợ cho nhau.
Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam năm 2026 xác định Hiệp hội là tổ chức tập hợp nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức tài chính và đối tác trong nước, quốc tế nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Hồ sơ cũng xác định nguyên tắc lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng; doanh nghiệp làm trung tâm ứng dụng; địa phương là nơi triển khai; viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tri thức.
Trên cơ sở đó, vai trò của VGA có thể khái quát bằng khái niệm Green Innovation Ecosystem Integrator, tức bộ điều phối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phục vụ chuyển đổi xanh. Hồ sơ năng lực VGA nêu rõ Hiệp hội thực hiện các chức năng đánh giá, lựa chọn, tích hợp, chuyển giao, đào tạo, hỗ trợ áp dụng, kiểm soát chất lượng, đánh giá sự phù hợp, chứng nhận, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường, thay vì chỉ giới thiệu từng công nghệ riêng lẻ.
Một chức năng cần được nhấn mạnh là vai trò sàng lọc công nghệ. Không phải mọi công nghệ mới đều nên được đưa ngay vào sản xuất. Theo Hồ sơ năng lực VGA năm 2026, các giải pháp được ưu tiên phải đáp ứng các yêu cầu về tính pháp lý, cơ sở khoa học, kết quả thử nghiệm và triển khai thực tế, khả năng sử dụng và chuyển giao, tính phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, HTX và người dân, khả năng tích hợp với các nền tảng khác và hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường.
Cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết trong lĩnh vực nông nghiệp, nơi điều kiện sinh thái, trình độ sản xuất và quy mô kinh tế rất khác nhau giữa các vùng. Một giải pháp phù hợp với trang trại quy mô lớn chưa chắc phù hợp với HTX nhỏ; công nghệ phù hợp ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa chắc có thể chuyển nguyên trạng lên Tây Nguyên; một mô hình carbon thành công ở lâm nghiệp không thể áp dụng nguyên phương pháp cho chăn nuôi hay thủy sản. Vai trò của tổ chức tích hợp là lựa chọn tổ hợp công nghệ phù hợp cho từng bài toán cụ thể.
Thực tiễn hoạt động bước đầu của VGA đã thể hiện hướng tiếp cận đó. “Báo cáo kết quả hoạt động của Ban Nông nghiệp Xanh từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, 28/01/2026–08/06/2026” cho biết Ban đã xây dựng mạng lưới hợp tác giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, HTX và chuyên gia; bước đầu hình thành hệ sinh thái Nông nghiệp Xanh VGA theo định hướng “Từ đồng ruộng đến thị trường”, gắn kết chuyển đổi số, ESG, MRV, kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon và chuỗi giá trị nông sản bền vững.
Hội thảo và Triển lãm công nghệ do VGA và HHT phối hợp tổ chức ngày 03–04/6/2026 cũng là một ví dụ về cơ chế kết nối hệ sinh thái. Báo cáo tổng hợp sự kiện cho biết chương trình có sự tham gia của cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và HTX, với nội dung bao quát từ trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, kinh tế tuần hoàn đến chuyển đổi số, AI, ESG, MRV và tín chỉ carbon.
Từ thực tiễn trên, trong thập kỷ tới VGA có thể phát triển vai trò theo một chu trình sáu bước: tiếp cận công nghệ; sàng lọc về khoa học, pháp lý và hiệu quả; kết nối các chủ thể; tích hợp thành gói giải pháp; tổ chức trình diễn và đánh giá; sau đó hỗ trợ chuyển giao và nhân rộng. Đây là phương thức giúp hạn chế rủi ro áp dụng công nghệ rời rạc, đồng thời tạo điều kiện để các kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự đi vào chuỗi giá trị sản xuất.
Theo cách tiếp cận đó, Phần III tiếp theo sẽ cụ thể hóa hệ sinh thái thành 11 nhóm giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từ hạ tầng dữ liệu không gian và nông nghiệp chính xác đến HTX số, công nghệ sinh học, kinh tế tuần hoàn, Biochar, ESG–MRV–carbon, Smart Factory, tài chính và thị trường xanh.
III. HỆ SINH THÁI 11 NHÓM GIẢI PHÁP KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO PHỤC VỤ CHUYỂN ĐỔI KÉP
Trên cơ sở khung chuyển đổi kép đã trình bày ở Phần II, hệ sinh thái giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho nông nghiệp Việt Nam không nên được hình thành bằng cách tập hợp cơ học các công nghệ đang có trên thị trường. Cách tiếp cận phù hợp hơn là tổ chức chúng thành các lớp có quan hệ chức năng, trong đó dữ liệu không gian tạo nền móng; IoT và thiết bị tạo dòng dữ liệu hiện trường; AI biến dữ liệu thành thông tin hỗ trợ quyết định; định danh và Blockchain tạo độ tin cậy; hợp tác xã số tổ chức sản xuất; công nghệ sinh học và kinh tế tuần hoàn tạo phương thức sản xuất xanh; ESG, MRV và carbon tạo khả năng lượng hóa; chế biến và logistics gia tăng giá trị; cuối cùng thị trường và tài chính tạo động lực kinh tế để toàn hệ thống vận hành bền vững.
Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam năm 2026 cũng xác định hệ sinh thái công nghệ theo hướng tích hợp GIS, GNSS/RTK, Digital Twin, UAV, AI, IoT, Big Data, Blockchain, nông nghiệp hữu cơ, Biochar, tái chế phụ phẩm, Smart Factory, kiểm kê khí nhà kính, MRV và tài chính xanh, đồng thời dành một hợp phần riêng cho chuyển đổi số hợp tác xã và doanh nghiệp.
3.1. Hạ tầng dữ liệu không gian và công nghệ nông nghiệp chính xác
Dữ liệu không gian có thể được coi là lớp nền của hệ sinh thái nông nghiệp số. Mọi đối tượng trong chuỗi sản xuất, từ thửa ruộng, cây trồng, nguồn nước, ao nuôi, lô rừng, hệ thống tưới, đường vận chuyển, điểm thu gom phụ phẩm đến nhà máy chế biến, đều tồn tại tại một vị trí xác định. Nếu không định danh chính xác đối tượng trong không gian thì dữ liệu sản xuất, truy xuất, kiểm kê phát thải và MRV khó đạt mức độ tin cậy cao.
Nhóm công nghệ này bao gồm GIS, GNSS, RTK, mạng CORS, UAV, viễn thám, LiDAR, Spatial ID và Digital Twin. Trong tài liệu “Báo cáo tổng hợp công nghệ DTALS và kết quả triển khai tại Việt Nam” và các báo cáo chuyên đề giai đoạn 2025–2026, TS. Lê Quý Kha trình bày việc sử dụng GNSS, RTK và mạng CORS để nâng độ chính xác vị trí từ mức mét của GPS thông thường xuống mức centimet. Báo cáo tổng hợp phục vụ Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu kết quả thực địa của hệ thống DTALS đạt khoảng 2–5 cm và cho rằng độ chính xác này phù hợp với cơ giới hóa chính xác, tự động dẫn đường, UAV và quản lý số vùng sản xuất.
Trong báo cáo “Cơ giới hóa tự động hóa trong sản xuất lúa giảm phát thải ở Việt Nam”, trình bày ngày 27/02/2026, TS. Lê Quý Kha cho thấy việc giảm chồng lấn đường đi, gieo sạ và phun chính xác có khả năng giảm tiêu hao nhiên liệu và vật tư đầu vào. Tài liệu nêu mức giảm nhiên liệu khoảng 15%, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khoảng 20% trong mô hình được báo cáo; đồng thời lượng nước pha thuốc giảm mạnh nhờ phun drone. Các số liệu này cần tiếp tục được chuẩn hóa và xác minh khi sử dụng cho mục tiêu kiểm kê phát thải hoặc tín chỉ carbon.
Giá trị của GNSS/RTK không chỉ nằm ở việc lái máy chính xác hơn. Khi dữ liệu vị trí được gắn với GIS, mỗi vùng sản xuất có thể có một định danh không gian duy nhất. Khi tiếp tục kết nối với IoT, nhật ký số và Blockchain, từng hoạt động sản xuất có thể được gắn với đúng vị trí, đúng thời gian và đúng chủ thể. Đây chính là nền tảng để tiến tới mô hình “mỗi thửa đất là một đối tượng dữ liệu”.
Trong các đề xuất PPP của Ban Nông nghiệp Xanh VGA tại Khánh Hòa, chuỗi tích hợp được mô tả theo logic DTALS định vị chính xác → TrustID định danh và truy xuất → IoT/AI thu thập dữ liệu → canh tác tái sinh → xử lý phụ phẩm → dMRV → ESG → thương mại và du lịch xanh. Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu không gian không phải một hợp phần riêng biệt mà là lớp nền cho nhiều công nghệ phía sau.
3.2. IoT, cảm biến, cơ giới hóa, robot và tự động hóa
Nếu GIS và GNSS trả lời câu hỏi “ở đâu”, thì IoT và cảm biến trả lời câu hỏi “đang xảy ra điều gì”. Các cảm biến có thể đo độ ẩm đất, nhiệt độ, độ dẫn điện, pH, mực nước, lượng mưa, tốc độ gió, chất lượng nước, nhiệt độ chuồng trại, khí độc, năng lượng và nhiều thông số môi trường khác.
Giá trị lớn nhất của IoT không nằm ở việc tạo thêm nhiều số liệu mà ở khả năng tạo dòng dữ liệu liên tục. Khi dữ liệu được thu nhận tự động, mô hình quản trị có thể chuyển từ ghi chép sau sự kiện sang giám sát gần thời gian thực. Từ đó hình thành ba mức ứng dụng: giám sát, cảnh báo và điều khiển.
Trong trồng trọt, cảm biến có thể hỗ trợ quản lý nước và dinh dưỡng; trong chăn nuôi, theo dõi nhiệt độ, ẩm độ và khí trong chuồng; trong thủy sản, giám sát chất lượng nước; trong nhà kính, điều khiển tưới, thông gió và dinh dưỡng; trong chế biến và kho lạnh, theo dõi nhiệt độ, độ ẩm và năng lượng.
Khi IoT được kết nối với cơ giới hóa và tự động hóa, giá trị tăng thêm rõ rệt. Máy gieo, máy bón phân, drone, robot và thiết bị điều khiển có thể nhận lệnh dựa trên dữ liệu thay vì thực hiện đồng đều trên toàn bộ diện tích. Đây là bước chuyển từ cơ giới hóa sang cơ giới hóa thông minh.
Hồ sơ năng lực VGA năm 2026 đặt IoT, AI, Smart Farming, Smart Aquaculture và các hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong cùng một nhóm công nghệ sản xuất thông minh.
3.3. AI, Big Data, Cloud Computing, Digital Twin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định
Khi số lượng thiết bị, vùng sản xuất và chủ thể tham gia tăng lên, dữ liệu nông nghiệp có thể nhanh chóng vượt quá khả năng xử lý thủ công. AI và Big Data vì vậy trở thành lớp phân tích của hệ sinh thái.
AI có thể được sử dụng cho nhận dạng sâu bệnh từ hình ảnh, phân tích ảnh vệ tinh và UAV, dự báo năng suất, phát hiện bất thường, dự báo nhu cầu tưới, tối ưu sử dụng vật tư, phân loại sản phẩm và hỗ trợ quản trị thị trường. Trong chăn nuôi và thủy sản, AI có thể hỗ trợ phát hiện bất thường về hành vi, dịch bệnh và môi trường.
Tuy nhiên, AI chỉ có giá trị khi dữ liệu đầu vào đủ chất lượng. Trong hồ sơ đề xuất nhiệm vụ nền tảng dữ liệu chuyển đổi xanh tại Khánh Hòa, Ban Nông nghiệp Xanh VGA nhấn mạnh rằng nếu chưa chuẩn hóa dữ liệu và quy trình nghiệp vụ thì AI rất dễ dừng lại ở trình diễn. Do đó, lộ trình phù hợp phải đi từ dữ liệu → quản trị dữ liệu → mô hình tính toán → thí điểm ứng dụng, thay vì bắt đầu từ một phần mềm AI riêng lẻ.
Digital Twin là bước phát triển tiếp theo. Khi dữ liệu từ GIS, IoT và hệ thống quản trị được tích hợp, có thể hình thành bản sao số của vùng sản xuất, trang trại, nhà máy hoặc chuỗi cung ứng. Bản sao số không chỉ lưu trữ trạng thái mà còn có khả năng mô phỏng các kịch bản: nếu giảm tưới, thay đổi lịch bón phân hoặc thay đổi nguồn năng lượng thì năng suất, chi phí và phát thải sẽ thay đổi như thế nào.
Cloud Computing cung cấp hạ tầng để các đối tượng phân tán sử dụng chung dữ liệu và phần mềm. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vì không phải đầu tư toàn bộ hệ thống công nghệ tại chỗ.
3.4. Blockchain, định danh số và truy xuất nguồn gốc thế hệ mới
Truy xuất nguồn gốc trước đây thường được hiểu là một tem QR liên kết tới thông tin sản phẩm. Cách tiếp cận mới phải đi xa hơn: từng vùng sản xuất, hộ, HTX, lô sản phẩm, vật tư, cơ sở chế biến và giao dịch cần có định danh và dữ liệu có thể kiểm tra.
Nguyễn Đức Trường, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Công nghệ Hạt giống Vàng, trong bài “Hạ tầng dữ liệu số cho nông nghiệp xanh phục vụ định danh, truy xuất nguồn gốc – ESG – EUDR – MRV – Carbon”, trình bày tại Hà Nội ngày 04/6/2026, đặt ra luận điểm rằng thế giới đang chuyển từ kiểm tra sản phẩm sang kiểm tra dữ liệu. Tác giả trình bày TrustID như một hệ sinh thái dữ liệu xuyên suốt chuỗi giá trị, với định danh GS1, dữ liệu thời gian thực, định vị chính xác và khả năng tích hợp các yêu cầu truy xuất, EUDR, ESG và MRV.
Một điểm quan trọng là Blockchain không tự tạo ra dữ liệu đúng. Nếu dữ liệu đầu vào sai, Blockchain chỉ giúp lưu giữ một dữ liệu sai khó sửa đổi. Vì vậy, hệ thống tin cậy phải được hình thành từ nhiều lớp: định vị chính xác, thiết bị đo, nhật ký số, xác minh, định danh chủ thể và lưu trữ dữ liệu. Trong bài của Nguyễn Đức Trường, định vị chính xác DTALS được mô tả như một lớp “khóa chặt dữ liệu vùng trồng” trước khi dữ liệu được tích hợp vào hệ thống truy xuất và tuân thủ.
Do đó, vai trò của Blockchain trong hệ sinh thái chuyển đổi kép nên được nhìn nhận là một thành phần của hạ tầng tin cậy, không phải giải pháp độc lập.
3.5. Chuyển đổi số hợp tác xã và quản trị hợp tác xã xanh kiểu mới
Hợp tác xã là mắt xích đặc biệt quan trọng của quá trình chuyển đổi vì phần lớn nông nghiệp Việt Nam vẫn dựa trên số lượng lớn hộ sản xuất. Nếu chỉ số hóa từng nông hộ mà thiếu một tổ chức trung gian đủ năng lực quản trị thì rất khó tạo quy mô dữ liệu, dịch vụ cơ giới hóa, vùng nguyên liệu, truy xuất và thị trường.
Chuyển đổi số HTX cần được hiểu là chuyển đổi phương thức quản trị chứ không phải chỉ trang bị phần mềm kế toán. Một nền tảng HTX số cần kết nối hồ sơ thành viên, diện tích và thửa đất, kế hoạch sản xuất, nhật ký điện tử, vật tư, tài sản, máy móc, kho, tài chính, hợp đồng, truy xuất, chất lượng, đơn hàng và thị trường trên một hệ thống dữ liệu thống nhất.
Hồ sơ năng lực VGA năm 2026 xác định mô hình HTX số và HTX thông minh với các chức năng quản lý thành viên, vật tư, tài sản, kho, tài chính, truy xuất QR/Blockchain, Dashboard, AI, thương mại điện tử, xây dựng phương án kinh doanh và kết nối với ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ.
Đây cũng là cơ sở để từng bước gắn quản trị HTX với các tiêu chí HTX kiểu mới: minh bạch thông tin; thành viên tham gia thực chất; sản xuất theo kế hoạch; quản trị tài chính; liên kết thị trường; cung cấp dịch vụ cho thành viên; tuân thủ tiêu chuẩn; và phát triển bền vững.
Theo cách tiếp cận của tài liệu này, lộ trình có thể được khái quát là HTX truyền thống → HTX số → HTX thông minh → HTX xanh. Ở cấp HTX xanh, dữ liệu sản xuất không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn cung cấp đầu vào cho truy xuất, chứng nhận, ESG, MRV và tiếp cận tài chính xanh.
Trong hệ sinh thái chuyển đổi kép, HTX vì vậy không chỉ là “người dùng công nghệ”, mà là nút tổ chức để kết nối hàng trăm hoặc hàng nghìn hộ sản xuất thành một đơn vị dữ liệu và chuỗi giá trị đủ quy mô.
3.6. Công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ, tái sinh và đầu vào xanh
Một hệ thống sản xuất bền vững không thể chỉ dựa vào công nghệ số. Công nghệ số giúp đo và quản trị, còn thay đổi thực tế về đất, cây, vật nuôi và môi trường cần các giải pháp sinh học và kỹ thuật canh tác.
Nhóm giải pháp này bao gồm giống thích ứng với biến đổi khí hậu, phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh, chế phẩm sinh học, IPM, cây che phủ, cải tạo đất, vi sinh vật và các giải pháp thay thế một phần đầu vào hóa học.
Nguyễn Vân Anh, CEO Probiotics, và Phí Anh Tuấn, Giám đốc dự án, trong tài liệu “Xử lý phân hủy rơm rạ trực tiếp trên đồng với công nghệ vi sinh mật độ cao (HCDF) kết hợp với quản lý số hóa toàn diện”, năm 2026, giới thiệu công nghệ lên men mật độ tế bào cao và ứng dụng xử lý rơm rạ trực tiếp trên đồng. Tài liệu doanh nghiệp công bố khả năng xử lý rơm rạ trong khoảng 8–10 ngày, kết hợp drone và nền tảng quản lý số. Đây là kết quả do doanh nghiệp cung cấp, cần được khảo nghiệm độc lập trước khi sử dụng làm căn cứ khoa học cho quy mô lớn hoặc tính toán carbon.
Tài liệu của PADCO về SUMITRI cũng tiếp cận theo hướng sử dụng vi sinh để phân hủy rơm rạ và phụ phẩm hữu cơ ngay tại ruộng, nhằm giảm đốt và tăng hữu cơ trả lại cho đất.
Các công nghệ sinh học có ý nghĩa đặc biệt khi được kết hợp với số hóa. Một chế phẩm chỉ có thể được đánh giá hiệu quả khi biết nó được sử dụng ở đâu, liều lượng bao nhiêu, điều kiện môi trường thế nào và kết quả sau xử lý ra sao. Khi dữ liệu này được số hóa, có thể đánh giá hiệu quả theo vùng, mùa vụ và điều kiện sinh thái thay vì dựa trên nhận xét định tính.
3.7. Kinh tế tuần hoàn và tái chế phế, phụ phẩm nông nghiệp
Kinh tế tuần hoàn là một trong những khu vực có tiềm năng lớn nhất để tạo giá trị mới trong nông nghiệp. Rơm rạ, trấu, vỏ cà phê, thân cây, cành tỉa, phụ phẩm rau quả, phân chăn nuôi, phụ phẩm chế biến thủy sản và sinh khối lâm nghiệp không nên chỉ được coi là chất thải mà cần được phân loại theo đặc tính để lựa chọn công nghệ phù hợp.
Có thể hình thành nhiều dòng xử lý khác nhau. Phụ phẩm mềm và dễ phân hủy có thể được ủ compost hoặc xử lý sinh học; phụ phẩm giàu dinh dưỡng có thể làm thức ăn; chất thải hữu cơ có thể đưa vào biogas; sinh khối khô có thể sản xuất viên nén hoặc Biochar; dòng chất thải khó tái sử dụng có thể được khí hóa để tạo nhiệt hoặc khí tổng hợp.
Tài liệu tổng quan Đắk Lắk của Ban Nông nghiệp Xanh VGA năm 2026 tổng hợp các hướng xử lý gồm chế phẩm vi sinh, trồng nấm, thức ăn chăn nuôi, compost, Biochar, biogas, viên nén sinh khối và khí hóa. Tài liệu dẫn các giải pháp của PADCO và Do Green như những công nghệ có thể tích hợp tùy theo từng loại phụ phẩm.
Do Green, trong tài liệu “Ứng dụng công nghệ Do Green trong xử lý, tái chế chất thải và tạo sản phẩm tuần hoàn”, trình bày giải pháp phân loại, tiền xử lý và khí hóa để tạo RDF, syngas và carbon hữu cơ/Biochar. Tài liệu tổng hợp của VGA lưu ý giải pháp này phù hợp hơn với dòng phụ phẩm tập trung, đã được phân loại và có quy mô đủ lớn.
Điều quan trọng là không nên áp dụng một công nghệ cho mọi loại phụ phẩm. Hệ sinh thái tuần hoàn phải bắt đầu từ điều tra nguồn, khối lượng, mùa vụ, độ ẩm, thành phần và khoảng cách vận chuyển; sau đó mới lựa chọn phương án sinh học, nhiệt hóa học hoặc kết hợp.
3.8. Biochar, sinh khối, năng lượng sinh học và loại bỏ carbon
Biochar đang nhận được nhiều sự quan tâm vì có khả năng kết nối đồng thời kinh tế tuần hoàn, cải tạo đất, năng lượng sinh khối và lưu giữ carbon. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ ba tầng giá trị: giá trị sản phẩm Biochar; giá trị cải tạo đất; và giá trị carbon.
Quá trình nhiệt phân sinh khối trong điều kiện hạn chế oxy có thể tạo Biochar, khí và nhiệt. Phần khí và nhiệt có thể được tái sử dụng cho hệ thống sấy hoặc năng lượng; Biochar có thể sử dụng cho đất hoặc làm nguyên liệu cho các sản phẩm khác. Khi carbon sinh khối được chuyển thành dạng ổn định và được lưu giữ lâu dài, có thể phát sinh tiềm năng loại bỏ carbon, nhưng việc hình thành tín chỉ carbon còn phụ thuộc phương pháp luận, đường cơ sở, tính bổ sung, MRV, quyền carbon và xác minh độc lập.
Tài liệu “Hệ sinh thái nông nghiệp phát thải âm SolAgris” trình bày mô hình tích hợp thủy phân sinh học đối với phụ phẩm mềm, nhiệt phân phụ phẩm cứng tạo Biochar, sản xuất phân bón nhả chậm và hệ thống MRV số hóa kết hợp Blockchain. Tài liệu doanh nghiệp định hướng chuyển phụ phẩm thành năng lượng, Biochar và sản phẩm phân bón trong một mô hình tuần hoàn.
Trong các tài liệu tổng hợp của VGA về Đắk Lắk năm 2026, carbon được khuyến nghị xem là giá trị gia tăng ở giai đoạn sau, chỉ khi vùng nguyên liệu đã có quy trình kỹ thuật, dữ liệu nền, MRV, quyền carbon và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng.
Đây là nguyên tắc quan trọng để tránh đồng nhất “có Biochar” với “có tín chỉ carbon”.
3.9. ESG, kiểm kê khí nhà kính, MRV, LCA và tín chỉ carbon
Nếu công nghệ sản xuất tạo ra thay đổi thì ESG và MRV là công cụ để chứng minh thay đổi đó.
Phạm Hoài Trung, Phó Chủ tịch VGA, Trưởng Ban ESG/Net Zero & KHCN, trong tài liệu “Xây dựng nền nông nghiệp phát thải thấp – Nền tảng ESG, MRV và tín chỉ Carbon cho giai đoạn mới”, năm 2026, tiếp cận ESG từ yêu cầu giảm phát thải đến năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng, đồng thời liên hệ các chuẩn ISO 14064, ISO 14067, ISO 14068, GRI và các hệ thống quản trị phát triển bền vững.
MRV gồm đo lường, báo cáo và xác minh. PGS.TS. Mai Văn Trịnh trong “Quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, trình bày ngày 24/10/2025, nhấn mạnh rằng dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải là cơ sở để tính toán, sau đó phải được báo cáo và xác minh.
Trong giai đoạn số hóa, MRV có thể tiến tới dMRV, trong đó nhiều dữ liệu được thu nhận tự động từ IoT, UAV, GIS và phần mềm quản trị. Tuy nhiên, dMRV không loại bỏ yêu cầu về phương pháp khoa học và xác minh độc lập; nó chủ yếu giúp giảm chi phí thu thập dữ liệu, tăng tần suất theo dõi và nâng khả năng truy xuất.
LCA và dấu chân carbon bổ sung góc nhìn vòng đời, tránh trường hợp giảm phát thải ở một công đoạn nhưng làm tăng phát thải ở công đoạn khác. Vì vậy, hệ sinh thái chuyển đổi kép cần liên kết sản xuất, chế biến, năng lượng, logistics và tiêu dùng trong cùng một cấu trúc dữ liệu.
3.10. Smart Factory, Chế biến sâu, Bảo quản và Logistics xanh: Động lực "Chuyển đổi kép" trong chuỗi giá trị nông sản - SolAgris
1). Thực trạng và Tầm nhìn chiến lược sau thu hoạch
Một hạn chế lớn của nhiều chuỗi cung ứng nông nghiệp hiện nay là sự mất cân đối trong đầu tư: tập trung quá nhiều nguồn lực công nghệ ở khâu canh tác vùng trồng nhưng chưa chú trọng đích đáng cho hạ tầng sau thu hoạch. Trong khi đó, các công đoạn chế biến sâu, bảo quản và logistics mới là "chìa khóa" quyết định phần lớn giá trị gia tăng, giảm thiểu tỷ lệ hao hụt nông sản và định hình khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu khắt khe (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung đông và trung quốc…) thông qua các bộ tiêu chuẩn toàn cầu như HACCP, BRCGS, FSSC 22000 và ESG. Việc nâng cấp hạ tầng sau thu hoạch cần được thực hiện song hành cùng xu thế "Chuyển đổi kép" nhằm xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp khép kín, hiện đại và tuần hoàn.
2). Chuyển đổi số: Định hình Nhà máy thông minh (Smart Factory)
Số hóa quy trình sản xuất và logistics là nền tảng để tối ưu hóa chi phí vận hành và minh bạch hóa luồng hàng. Nhóm giải pháp công nghệ toàn diện bao gồm:
- Hệ sinh thái Quản trị và Điều hành: Tích hợp liền mạch hệ thống Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), Hệ thống điều hành sản xuất (MES), và Hệ thống điều khiển giám sát, thu thập dữ liệu (SCADA) để kiểm soát dữ liệu theo thời gian thực.
- Tự động hóa, Robot & IoT: Triển khai cánh tay robot trong dây chuyền phân loại, đóng gói; ứng dụng cảm biến chất lượng và IoT để giám sát chặt chẽ môi trường nhiệt độ, độ ẩm trong hệ thống kho lạnh, kho thông minh và dây chuyền sấy công nghiệp.
- Công nghệ chế biến sâu tiên tiến: Ứng dụng các công nghệ tối ưu trong bảo quản: cấp đông nhanh IQF, công nghệ xử lý thanh trùng áp suất cao (HPP), tiệt trùng UHT và hệ thống sấy nhiệt độ thấp nhằm giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, đáp ứng công suất quy mô lớn….
- Truy xuất lô chế biến: Ứng dụng Blockchain và mã định danh để minh bạch hóa toàn bộ dữ liệu vòng đời của lô hàng từ nguyên liệu thô đến thành phẩm cuối cùng.
3). Chuyển đổi xanh: Sản xuất tuần hoàn, Tín chỉ Carbon và hướng tới Net Zero
Khâu chế biến và bảo quản đóng vai trò trung tâm trong cam kết giảm phát thải khí nhà kính toàn chuỗi.
- Quản lý năng lượng & Giảm phát thải: Triển khai các hệ thống sấy thế hệ mới và kho lạnh sử dụng năng lượng tái tạo, tối ưu hóa hệ thống máy nén để giảm thiểu tiêu thụ điện năng trong dây chuyền cấp đông sâu IQF, sấy thăng hoa…
- Nông nghiệp tuần hoàn & Phát thải âm (Carbon-Negative): Tái sử dụng tối đa phụ phẩm chế biến (như vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, cành lá rừng...) tạo các giải pháp phân bón nhã chậm
- Lưu giữ Carbon (Biochar): Ứng dụng công nghệ nhiệt phân để chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp thành than sinh học (Biochar) và phân bón hữu cơ nhả chậm. Quá trình này không chỉ biến rác thải thành nguyên liệu đầu vào giá trị cao cho vùng trồng mà còn giúp lưu giữ carbon dài hạn trong đất.
- Hạ tầng MRV & Thương mại hóa tín chỉ Carbon: Xây dựng hệ thống Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định (MRV) đạt chuẩn quốc tế để định lượng carbon lưu giữ từ hệ sinh thái chế biến tuần hoàn. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để phát hành và giao dịch tín chỉ carbon tự nguyện trên thị trường quốc tế theo Nghị định 180/2026/NĐ-CP.
4). Dấu ấn công nghệ VGA và Vai trò tiên phong của SolAgris
Hồ sơ năng lực của Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) năm 2026 đã chính thức xếp hạng Smart Factory, SCADA, MES, ERP, robot, tự động hóa, kho thông minh và logistics lạnh vào nhóm công nghệ chế biến cốt lõi, mang tính quyết định nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng. Đồng thời, Tài liệu làm việc của Ban Nông nghiệp xanh đã chỉ rõ.
Tài liệu làm việc của Ban tổ chức Hội thảo VGA–HHT năm 2026 cũng tái khẳng định vai trò chiến lược của SolAgris. Hệ sinh thái SolAgris mang đến các giải pháp công nghệ chế biến sâu sau thu hoạch, hệ thống chế biến ( Sấy, IQF, UHT, ….) và bảo quản đáp ứng tiêu chuẩn khép kín: giảm phát thải, tối ưu hóa mức tiết kiệm năng lượng và giảm triệt để tỷ lệ thất thoát nông sản, dẫn dắt mô hình tăng trưởng xanh của toàn ngành. Đồng thời SolAgris cũng là nhà tiên phong trong các giải pháp, công nghệ sản xuất chuỗi giá trị nông nghiệp phát thải âm đã đượ trình bày tại hội nghị.
5). Tích hợp dữ liệu khép kín: Kết nối công nghệ sau thu hoạch với vùng nguyên liệu Công nghệ sau thu hoạch không thể vận hành cô lập mà phải được thiết lập luồng kết nối thông tin ngược trở lại vùng trồng nguyên liệu:
- Nhà máy chế biến khi biết trước sản lượng và chất lượng dự kiến sẽ chủ động tối ưu hóa kế hoạch thu mua, vận hành máy móc và chuẩn bị không gian lưu trữ tới ưu.
- Hợp tác xã và kỹ sư nông nghiệp nắm được lịch trình chế biến sẽ tổ chức thu hoạch vào "điểm vàng" thời gian, đảm bảo độ tươi và chất lượng đồng đều nhất.
- Dữ liệu từ nhà máy (tỷ lệ hao hụt, kích cỡ, độ Brix, chất lượng vi sinh) được liên tục phản hồi về vùng nguyên liệu. Thông qua nền tảng số, các dữ liệu này hỗ trợ tinh chỉnh quy trình canh tác, điều chỉnh lượng phân bón hữu cơ (Biochar) và lượng nước tưới, tạo thành một vòng lặp cải tiến liên tục cho toàn chuỗi giá trị.
3.11. Thị trường số, tài chính xanh và tiêu dùng xanh
Hệ sinh thái công nghệ chỉ bền vững khi tạo ra dòng tiền. Vì vậy, thị trường và tài chính không phải phần phụ của chuyển đổi kép mà là điều kiện để công nghệ được duy trì và nhân rộng.
Thị trường số bao gồm thương mại điện tử, nền tảng giao thương, truy xuất, dữ liệu chất lượng, định danh vùng nguyên liệu và hồ sơ sản phẩm. Tài chính xanh bao gồm tín dụng xanh, quỹ đầu tư, PPP, quỹ khí hậu và trong một số trường hợp là nguồn thu carbon.
Phạm Xuân Thỏa, trong bài “Ứng dụng nền tảng quản trị dữ liệu giao thương GDPX & truy xuất nguồn gốc eGap trong phát triển chuỗi giá trị nông sản”, trình bày tại Hà Nội ngày 04/6/2026, nhấn mạnh rằng dữ liệu, truy xuất, thương hiệu và niềm tin thị trường có thể làm thay đổi giá trị thương mại của cùng một sản phẩm.
Ở cấp doanh nghiệp, “Báo cáo Phát triển bền vững 2024” của Vietnam National Seed Group JSC – Vinaseed cho thấy một doanh nghiệp nông nghiệp có thể tích hợp quản trị kinh tế, môi trường, phát thải khí nhà kính, nông nghiệp tái sinh và thông tin GRI trong cùng hệ thống báo cáo. Báo cáo ghi nhận năm 2024 Vinaseed tham gia mô hình canh tác lúa phát thải thấp với 997 ha tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tiếp tục đầu tư chế biến và bảo quản giống.
Đây là minh chứng cho bước chuyển từ “bán sản phẩm” sang “bán sản phẩm kèm năng lực chứng minh sự bền vững”.
Tổng hợp 11 nhóm giải pháp cho thấy giá trị của hệ sinh thái nằm ở sự liên kết. Không nhóm nào đủ khả năng tự tạo ra chuyển đổi kép. Hạ tầng số giúp đo; công nghệ sản xuất tạo thay đổi; HTX tổ chức quy mô; truy xuất tạo niềm tin; ESG và MRV lượng hóa kết quả; chế biến tạo giá trị gia tăng; tài chính và thị trường tạo động lực để hệ thống tiếp tục vận hành.
IV. TÍCH HỢP HỆ SINH THÁI GIẢI PHÁP THEO CÁC NGÀNH VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP
Một nguyên tắc quan trọng của chuyển đổi kép là không áp dụng cùng một gói công nghệ cho tất cả các ngành. Trồng lúa, cà phê, rừng, chăn nuôi, thủy sản và du lịch sinh thái có đối tượng, dòng vật chất, nguồn phát thải và thị trường khác nhau. Vì vậy, 11 nhóm giải pháp ở Phần III cần được cấu hình lại thành các gói phù hợp với từng chuỗi giá trị.
4.1. Trồng trọt và vùng nguyên liệu
Đối với trồng trọt, lớp nền cần bắt đầu từ bản đồ số vùng sản xuất và định danh từng lô đất bằng GIS, GNSS/RTK và Spatial ID. Trên nền đó, IoT, UAV và AI hỗ trợ giám sát cây trồng, đất, nước và sâu bệnh; nhật ký điện tử ghi nhận đầu vào; HTX số tổ chức sản xuất; truy xuất liên kết dữ liệu tới doanh nghiệp chế biến và thị trường.
Đối với lúa, cấu hình chuyển đổi kép có thể gồm GNSS/RTK + máy gieo hoặc cơ giới hóa chính xác + drone + quản lý nước + vi sinh xử lý rơm rạ + nhật ký số + MRV methane + truy xuất. Báo cáo “Cơ giới hóa tự động hóa trong sản xuất lúa giảm phát thải ở Việt Nam” của TS. Lê Quý Kha, ngày 27/02/2026, cho thấy các giải pháp định vị và cơ giới hóa có tiềm năng giảm vật tư đầu vào, trong khi quy trình MRV của PGS.TS. Mai Văn Trịnh năm 2025 cung cấp lớp phương pháp để lượng hóa phát thải.
Đối với cà phê, trọng tâm cần chuyển sang quản lý vùng nguyên liệu, tưới nước, dinh dưỡng, truy xuất, quản lý đất, phụ phẩm vỏ cà phê và dữ liệu phục vụ các yêu cầu thị trường. Một gói có thể tích hợp GIS/RTK + IoT + AI + truy xuất + quản trị HTX + hữu cơ vi sinh + Biochar + ESG/MRV.
Đối với sầu riêng và cây ăn quả xuất khẩu, mã số vùng trồng, dữ liệu hộ sản xuất, quản lý chất lượng, dư lượng, IoT, truy xuất, cơ sở đóng gói, cold chain và Smart Factory cần được liên kết. Khi sản phẩm có giá trị cao và yêu cầu thị trường nghiêm ngặt, chất lượng dữ liệu có giá trị gần như ngang với chất lượng sản phẩm.
Đối với rau, hoa và cây cảnh, PGS.TS. Đặng Văn Đông trong tham luận tại Hội thảo VGA–HHT năm 2026 trình bày hướng sản xuất phát thải thấp thông qua tưới tiết kiệm, quản lý dinh dưỡng và dịch hại nhằm giảm vật tư và tăng chất lượng sản phẩm.
4.2. Lâm nghiệp và carbon rừng
Lâm nghiệp là lĩnh vực đặc biệt phù hợp với dữ liệu không gian vì đối tượng quản lý có diện tích lớn, chu kỳ dài và liên quan trực tiếp đến carbon.
Một hệ sinh thái chuyển đổi kép cho lâm nghiệp có thể gồm GIS + ảnh vệ tinh + UAV/LiDAR + mã số rừng trồng + tài khoản chủ rừng + truy xuất gỗ + MRV carbon + thị trường.
TS. Hoàng Liên Sơn, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp, trong tài liệu “Công nghệ kỹ thuật số (iTFC) trong phát triển tín chỉ các-bon rừng trồng quy mô hộ gia đình”, năm 2026, trình bày mô hình thí điểm với mã số rừng trồng và tài khoản iTwood. Tài liệu cho rằng mã số rừng trồng và tài khoản quản lý tài sản rừng tạo cơ sở dữ liệu quan trọng để lượng hóa giá trị carbon và tổ chức chuỗi cung gỗ hợp pháp, truy xuất nguồn gốc.
Đây là minh họa rõ cho chuyển đổi kép: chuyển đổi số làm rõ ai sở hữu, lô rừng ở đâu, diện tích bao nhiêu và trạng thái như thế nào; chuyển đổi xanh tạo giá trị từ quản lý rừng bền vững, hấp thụ carbon và chuỗi cung ứng gỗ hợp pháp.
4.3. Chăn nuôi xanh và kinh tế tuần hoàn
Chăn nuôi cần được nhìn nhận đồng thời dưới ba góc độ: hiệu quả sản xuất, quản lý chất thải và phát thải methane.
IoT có thể theo dõi vi khí hậu chuồng trại, thức ăn, nước uống và sức khỏe đàn; AI hỗ trợ nhận diện bất thường; dữ liệu quản trị hỗ trợ truy xuất; chất thải có thể được đưa vào biogas, compost hoặc các mô hình xử lý khác; phần carbon cần được lượng hóa thông qua kiểm kê và MRV.
Mô hình kinh tế tuần hoàn đặc biệt phù hợp với chăn nuôi vì chất thải không nên được xem như dòng cuối mà có thể trở thành đầu vào cho năng lượng hoặc phân bón. Tuy nhiên, việc lựa chọn công nghệ phụ thuộc quy mô đàn, độ ẩm chất thải, khoảng cách vận chuyển và nhu cầu sử dụng sản phẩm đầu ra.
Trong hệ sinh thái chuyển đổi kép, chăn nuôi cũng có thể kết nối với trồng trọt: phụ phẩm cây trồng làm thức ăn; phân chăn nuôi tạo phân hữu cơ; năng lượng biogas cung cấp cho chế biến; phân hữu cơ quay trở lại vùng nguyên liệu. Như vậy, chuyển đổi kép tạo khả năng liên kết các ngành thay vì tối ưu từng ngành riêng biệt.
4.4. Thủy sản, nuôi biển và Blue Carbon
Trong thủy sản, chất lượng môi trường nước là biến số trung tâm. IoT có thể theo dõi nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ mặn và nhiều chỉ tiêu khác; AI hỗ trợ phân tích xu hướng và cảnh báo; GIS quản lý vùng nuôi; hệ thống truy xuất liên kết dữ liệu từ con giống, thức ăn, môi trường đến chế biến.
Đối với nuôi công nghệ cao, hệ thống RAS có thể tăng mức độ kiểm soát môi trường và tái sử dụng nước, nhưng yêu cầu đầu tư và quản trị cao. Smart Aquaculture do đó cần được đánh giá theo hiệu quả kinh tế tổng thể chứ không chỉ dựa trên mức độ hiện đại.
Hồ sơ năng lực VGA năm 2026 xác định Ban Thủy sản Xanh có phạm vi gồm nuôi biển công nghệ cao, RAS, nuôi thông minh, GIS, IoT, AI, truy xuất điện tử, MRV, ESG, logistics lạnh và Blue Carbon.
Blue Carbon mở thêm hướng kết nối giữa nuôi trồng thủy sản, rong biển, cỏ biển và rừng ngập mặn với dịch vụ hệ sinh thái và carbon, nhưng cần phương pháp luận khoa học riêng cho từng hệ sinh thái.
4.5. Nông nghiệp hữu cơ, tái sinh và quản lý sức khỏe đất
Nông nghiệp hữu cơ và tái sinh không nên chỉ được nhìn như thay phân hóa học bằng phân hữu cơ. Bản chất là quản lý lại hệ sinh thái đất – cây – nước – đa dạng sinh học.
Chuyển đổi số cho phép lập bản đồ độ phì, theo dõi lịch sử vật tư, nhật ký canh tác và kết quả phân tích đất. Chuyển đổi xanh đưa vào các giải pháp cây che phủ, hữu cơ, vi sinh, Biochar, IPM, giảm làm đất, tối ưu nước và dinh dưỡng. Khi hai hướng được tích hợp, có thể đánh giá mức cải thiện theo thời gian thay vì chỉ xác nhận tuân thủ quy trình.
Đây cũng là nền tảng thuận lợi cho ESG và carbon đất trong tương lai, nhưng carbon đất cần số liệu dài hạn và phương pháp đo phù hợp, không nên suy diễn trực tiếp từ việc áp dụng một sản phẩm đầu vào.
4.6. Kinh tế tuần hoàn liên ngành và tái chế phụ phẩm
Kinh tế tuần hoàn cần được triển khai theo vùng thay vì theo từng trang trại riêng lẻ. Một vùng có thể có đồng thời phụ phẩm lúa, phân chăn nuôi, phế phẩm chế biến, gỗ và sinh khối khác. Nếu được lập bản đồ và lượng hóa, có thể thiết kế mạng lưới thu gom và lựa chọn nhiều công nghệ xử lý.
Đề án vùng Tây Hòa – Hòa Mỹ – Đức Bình được ghi nhận trong tài liệu tổng quan Đắk Lắk năm 2026 là một ví dụ về cách nhìn phụ phẩm theo quy mô vùng. Tài liệu đề cập rơm rạ, phụ phẩm cây trồng, phân chăn nuôi và các dòng sinh khối như nguồn tài nguyên cần được tổ chức thu gom, sau đó phân dòng cho xử lý sinh học, compost, Biochar, biogas hoặc năng lượng.
Đây là nơi GIS, logistics và kinh tế tuần hoàn gặp nhau: công nghệ xử lý chỉ hiệu quả khi biết nguồn phụ phẩm ở đâu, sản lượng bao nhiêu, thu gom theo tuyến nào và thị trường đầu ra ở đâu.
4.7. Hợp tác xã số và chuỗi giá trị địa phương
Đối với nhiều ngành hàng, HTX là cấu trúc tổ chức phù hợp nhất để tích hợp công nghệ.
HTX có thể quản lý bản đồ vùng nguyên liệu, nhật ký điện tử, hợp đồng, vật tư, kho, tài sản, truy xuất và tài chính; đồng thời là đầu mối kết nối doanh nghiệp thu mua, ngân hàng, chứng nhận và dự án carbon. Khi dữ liệu HTX được chuẩn hóa, doanh nghiệp chế biến có thể lập kế hoạch nguyên liệu; ngân hàng có thêm dữ liệu để đánh giá tín dụng; cơ quan quản lý có Dashboard; thành viên có khả năng theo dõi quyền lợi và giao dịch minh bạch hơn.
Do đó, HTX số có thể coi là “hạ tầng tổ chức” của chuyển đổi kép, tương tự như GIS là hạ tầng không gian và IoT là hạ tầng cảm biến.
4.8. Du lịch nông nghiệp, sinh thái và kinh tế nông thôn
Du lịch nông nghiệp – sinh thái mở rộng phạm vi chuyển đổi kép từ sản phẩm nông nghiệp sang dịch vụ trải nghiệm.
GIS và GreenMap có thể quản lý điểm đến; QR và định danh số kể câu chuyện sản phẩm và vùng đất; dữ liệu môi trường và ESG nâng độ tin cậy; thương mại điện tử cho phép khách mua sản phẩm sau chuyến đi; HTX có thể trở thành đơn vị điều phối dịch vụ địa phương.
Ở đây, giá trị không chỉ nằm ở nông sản mà còn ở cảnh quan, tri thức bản địa, văn hóa, đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái. Vì vậy, du lịch nông nghiệp có thể là công cụ tạo thêm thu nhập cho cộng đồng mà không nhất thiết phải tăng cường độ khai thác tài nguyên.
4.9. Bảng tích hợp giải pháp theo lĩnh vực
|
Lĩnh vực |
Lớp dữ liệu số chủ yếu |
Giải pháp sản xuất/xanh |
Lớp quản trị và thị trường |
|
Lúa |
GIS, RTK, UAV, IoT |
Cơ giới hóa chính xác, quản lý nước, vi sinh rơm rạ |
HTX số, MRV methane, truy xuất, carbon |
|
Cà phê |
GIS, IoT, AI |
Tưới chính xác, hữu cơ, Biochar |
Truy xuất, ESG, dữ liệu thị trường |
|
Sầu riêng/cây ăn quả |
GIS, mã vùng, IoT |
Quản lý dinh dưỡng, sâu bệnh |
Đóng gói, truy xuất, cold chain |
|
Rau, hoa |
IoT, AI, nhà kính |
Tưới tiết kiệm, IPM |
Chứng nhận, truy xuất, thị trường |
|
Lâm nghiệp |
GIS, viễn thám, UAV/LiDAR |
Lâm sinh bền vững |
MSRT, iTwood, MRV, carbon rừng |
|
Chăn nuôi |
IoT, AI, ERP |
Biogas, compost, xử lý chất thải |
ESG, kiểm kê methane, truy xuất |
|
Thủy sản |
GIS, IoT nước, AI |
RAS, nuôi thông minh |
Truy xuất, ESG, MRV, Blue Carbon |
|
Hữu cơ/tái sinh |
GIS, nhật ký số |
Vi sinh, hữu cơ, che phủ, Biochar |
Chứng nhận, ESG, carbon đất |
|
Phụ phẩm |
GIS nguồn nguyên liệu |
Compost, biogas, Biochar, khí hóa |
MRV, thị trường sản phẩm tuần hoàn |
|
HTX |
ERP, Dashboard, GIS |
Tổ chức dịch vụ dùng chung |
Tài chính, truy xuất, bao tiêu |
|
Du lịch nông nghiệp |
GIS, GreenMap, QR |
Bảo tồn cảnh quan, sinh thái |
Thương mại số, ESG, kinh tế cộng đồng |
Từ Bảng trên có thể thấy không có một “công nghệ chuyển đổi kép” duy nhất. Chuyển đổi kép là kết quả của việc lựa chọn đúng tổ hợp công nghệ và mô hình quản trị cho từng ngành, từng vùng sinh thái và từng chuỗi giá trị. Đây cũng chính là lý do Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam cần phát huy vai trò bộ điều phối và tích hợp hệ sinh thái thay vì chỉ giới thiệu từng công nghệ riêng lẻ.
V. THỰC TIỄN VGA ĐÃ, ĐANG VÀ DỰ KIẾN KẾT NỐI CÁC GIẢI PHÁP KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI CÁC VÙNG, ĐỊA PHƯƠNG TRÊN CẢ NƯỚC
Từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam ngày 28/01/2026 đến nay, hoạt động của Ban Nông nghiệp Xanh đã phát triển theo hướng ngày càng rõ hơn: từ hình thành mạng lưới chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ, giới thiệu các giải pháp riêng lẻ, tiến tới kết nối nhiều nhóm công nghệ với HTX, doanh nghiệp, viện – trường và chính quyền địa phương để giải quyết các bài toán cụ thể của từng vùng sản xuất. “Báo cáo kết quả hoạt động của Ban Nông nghiệp Xanh từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, 28/01/2026–08/06/2026”, Ban Nông nghiệp Xanh – VGA, năm 2026, xác định nhiệm vụ của Ban là kết nối chuyên gia, doanh nghiệp, HTX, địa phương và đối tác để thúc đẩy nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi số, ESG, MRV và tín chỉ carbon.
Điểm đáng chú ý là phạm vi kết nối không tập trung vào một địa phương hay một loại công nghệ. Các hồ sơ đã cung cấp cho thấy các hoạt động, mô hình, đề xuất và chương trình của VGA đã hoặc đang tiếp cận trải từ miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo sơ kết của Ban ghi nhận đến giữa năm 2026 đã có các mô hình hoặc hoạt động thực tiễn tại Đồng Nai, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Phú Yên, Phú Thọ và Hà Nội; đồng thời các hồ sơ được xây dựng trong tháng 7–8/2026 tiếp tục mở rộng sang Bắc Ninh, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hà Tĩnh, Sơn La, Lào Cai, Thái Nguyên và một số vùng khác.
5.1. Vùng trung du, miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng: số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất và HTX số
Tại Bắc Ninh, một hướng tiếp cận có tính tích hợp cao đang được xây dựng cho chuỗi vải thiều. “Thuyết minh nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Ứng dụng kỹ thuật định vị chính xác, công nghệ Blockchain, IoT trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc vải thiều tại tỉnh Bắc Ninh”, Công ty CP Công nghệ Nền tảng số DTALS, năm 2026, đề xuất mô hình quản trị nông nghiệp số quy mô 100 ha. Hệ thống tích hợp GNSS/RTK-CORS, UAV, GIS, IoT, Blockchain và phần mềm Web/Mobile; trong đó 100% lô thửa dự kiến được số hóa và gán mã định danh không gian, đồng thời xây dựng hệ thống cảm biến và giám sát điều kiện canh tác.
Đây là ví dụ điển hình của việc chuyển từ một công nghệ sang một gói giải pháp hoàn chỉnh:
GNSS/RTK – GIS – UAV → định danh vùng trồng → IoT → quản trị canh tác → Blockchain → truy xuất → VietGAP/GlobalGAP → thị trường.
Nhiệm vụ dự kiến thực hiện 12 tháng từ tháng 9/2026 đến tháng 8/2027 với tổng kinh phí đề xuất 9 tỷ đồng, gồm 6 tỷ đồng ngân sách nhà nước và 3 tỷ đồng vốn ngoài ngân sách từ doanh nghiệp chủ trì.
Tại Phú Thọ, hệ sinh thái VGA đã tiếp cận chuỗi chè Long Cốc theo hướng kết hợp vùng nguyên liệu, drone, bản đồ số, truy xuất và các tiêu chí sản xuất xanh. Trong kế hoạch mở rộng các chuỗi sản xuất năm 2026, chè Long Cốc được xác định là một trong các chuỗi dự kiến tích hợp tiêu chuẩn sản xuất phát thải thấp, hệ thống MRV và nền tảng quản trị giao thương.
Tại Sơn La, định hướng tiếp cận tập trung vào cà phê, chè, cây ăn quả và lúa theo hướng hữu cơ, phát thải thấp. Các kế hoạch của VGA năm 2026 đề cập hội thảo vùng về phát triển cà phê, chè, cây ăn quả và lúa theo tiêu chuẩn xanh; đồng thời dự kiến xây dựng chuỗi cà phê hữu cơ phát thải thấp và lúa hữu cơ phát thải thấp tại Phù Yên. Tại Lào Cai, lúa Séng Cù – Dền Sáng được đưa vào nhóm chuỗi dự kiến áp dụng tiêu chuẩn xanh, truy xuất, MRV và quản trị dữ liệu.
Tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, các tài liệu sơ kết VGA năm 2026 ghi nhận hoạt động tư vấn vùng trồng công nghệ cao đối với dược liệu DONAVI, mở thêm hướng kết nối giữa vùng nguyên liệu dược liệu, công nghệ cao, tiêu chuẩn, truy xuất và thị trường.
Tại Hà Nội, Ban Nông nghiệp Xanh đã tham gia tư vấn định hướng Khu Nông nghiệp thông minh – Du lịch sinh thái tại An Khánh quy mô khoảng 5 ha. Mô hình này mở rộng phạm vi chuyển đổi kép từ sản xuất nông nghiệp sang tích hợp nông nghiệp thông minh, trải nghiệm, du lịch sinh thái và dịch vụ kinh tế nông thôn.
5.2. Bắc Trung Bộ: nông nghiệp giảm phát thải, thủy sản và chuỗi liên kết doanh nghiệp – HTX
Tại Hà Tĩnh, “Báo cáo nội dung phục vụ làm việc với Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm”, Trung tâm Khuyến nông – Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh, ngày 18/6/2026, đặt ra đồng thời hai nhóm bài toán là thủy sản nước ngọt và cây trồng đặc sản. Đối với thủy sản, Hà Tĩnh có 4.568 ha diện tích nuôi nước ngọt năm 2025 nhưng sản xuất còn nhỏ lẻ; báo cáo đề xuất xây dựng vùng nuôi hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, liên kết doanh nghiệp với HTX và người dân, đồng thời gắn sản xuất với thu mua, chế biến, đóng gói, bảo quản và thị trường.
Trong sản xuất lúa, Hà Tĩnh đã có nền tảng thuận lợi để tiếp cận gói giải pháp phát thải thấp. Báo cáo của Trung tâm Khuyến nông cho biết tỉnh triển khai thí điểm sản xuất lúa gắn giảm phát thải trên 242 ha vụ Hè Thu 2025 và mở rộng lên 4.332,7 ha tại 15 xã trong vụ Xuân 2026. Kết quả được địa phương báo cáo cho thấy tưới ngập – khô xen kẽ có mức giảm phát thải 49,1% so với tưới ngập liên tục trong phạm vi mô hình đánh giá.
Đây là địa bàn có thể kết nối tiếp các giải pháp AWD, IoT nước, GNSS/RTK, cơ giới hóa chính xác, drone, nhật ký số, HTX số, xử lý rơm rạ, MRV và chế biến.
Tại Nghệ An, Kế hoạch hành động của Ban Nông nghiệp Xanh năm 2026 đã đặt ra mô hình “Cánh đồng công nghệ canh tác lúa Nghệ An”, theo hướng kết hợp nông nghiệp công nghệ cao và carbon, với lộ trình làm việc địa phương, triển khai, đánh giá và nhân rộng.
5.3. Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: hình thành chuỗi nhiệm vụ KH,CN&ĐMST quy mô địa phương
Khánh Hòa hiện là một trong những ví dụ rõ nhất về việc VGA chuyển từ kết nối một số công nghệ sang thiết kế cả một chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh.
“Đề xuất Chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, thủy sản xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2026–2035”, Ban Nông nghiệp Xanh và Ban Thủy sản Xanh – VGA, năm 2026, xác định mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái sử dụng chung hạ tầng dữ liệu, nền tảng công nghệ và hệ thống quản trị số, đồng thời triển khai thông qua hợp tác công – tư.
Chuỗi đề xuất tại Khánh Hòa bao gồm các nhóm giải pháp có quan hệ chặt chẽ: nền tảng dữ liệu và Trung tâm điều hành chuyển đổi xanh tích hợp GIS, Spatial ID, Digital Twin, AI, IoT và dMRV; các mô hình nông nghiệp thông minh; vùng nguyên liệu xanh, số và phát thải thấp; công nghiệp tuần hoàn phụ phẩm với Biochar, compost, vi sinh và khí hóa sinh khối; nông nghiệp thông minh kết hợp du lịch sinh thái; và nuôi biển công nghệ cao kết hợp RAS, AI, IoT, Smart Factory, SCADA, MES, ERP, truy xuất, ESG và dMRV.
Đây có thể coi là bước phát triển cao hơn của khái niệm “hệ sinh thái giải pháp”: một địa phương không triển khai sáu dự án hoàn toàn độc lập mà các nhiệm vụ dự kiến sử dụng chung dữ liệu và bổ trợ cho nhau.
Tại khu vực Phú Yên – nay được phản ánh trong các hồ sơ cập nhật của vùng Đắk Lắk sau điều chỉnh địa giới – Ban Nông nghiệp Xanh đã tiếp cận bài toán tái cơ cấu vùng Tuy Hòa – Hòa Mỹ – Đức Bình theo hướng lúa xanh, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, phụ phẩm và năng lượng. Các đề xuất tích hợp giảm lượng giống, AWD, san phẳng bằng công nghệ chính xác, cơ giới hóa đồng bộ, nhật ký điện tử, thu gom rơm rạ, chế biến – sấy – kho, HTX tổ chức dịch vụ máy và drone, MRV và doanh nghiệp bao tiêu.
Đối với Đắk Lắk, hệ sinh thái công nghệ đang được tiếp cận theo nhiều ngành hàng chứ không chỉ một đối tượng. Các hồ sơ năm 2026 tập trung vào cà phê, sầu riêng, lúa, chăn nuôi, dược liệu, lâm nghiệp, phụ phẩm, Biochar, ESG, khí nhà kính và du lịch nông nghiệp – sinh thái. Cách tiếp cận được đề xuất là số hóa vùng nguyên liệu bằng GIS/GNSS/RTK; ứng dụng IoT, AI và truy xuất; giảm vật tư hóa học bằng hữu cơ, vi sinh; quản lý phụ phẩm bằng compost, Biochar, biogas hoặc năng lượng; đồng thời thiết lập MRV, ESG và thị trường.
5.4. Đông Nam Bộ: HTX công nghệ cao như hạt nhân tích hợp chuyển đổi kép
Tại Đồng Nai, HTX Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm Đồng Nai ra mắt ngày 13/5/2026 tại xã An Phước theo định hướng chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh. HTX đặt mục tiêu tổ chức chuỗi từ vùng nguyên liệu đến sơ chế, chế biến, truy xuất, tiêu thụ và xuất khẩu, với các ngành hàng như sầu riêng, chuối, xoài, thanh long, chanh dây, măng cụt và lúa gạo.
Ban Nông nghiệp Xanh định hướng tại đây một gói khá đầy đủ gồm xây dựng vùng nguyên liệu ESG/GlobalGAP; mã vùng và nhật ký điện tử; drone, AI, cảm biến, tưới tiết kiệm và công nghệ sinh học; kinh tế tuần hoàn và Biochar; ESG, MRV và carbon; kết nối chế biến sâu, logistics và xuất khẩu.
Điểm có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ sinh thái VGA là HTX được đặt ở vị trí hạt nhân tổ chức sản xuất và dữ liệu. Theo “Bài phát biểu lễ ra mắt HTX Đồng Tâm”, TS. Lê Quý Kha, năm 2026, HTX cần trở thành trung tâm liên kết vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình, quản lý dữ liệu, quản trị chất lượng và kết nối thị trường, tiến tới hình thành HTX thông minh.
MOU số 09/MOU/VGA-DT ký ngày 28/01/2026 giữa VGA và Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm cũng xác định nguyên tắc phối hợp hình thành chuỗi giải pháp “đầu vào – sản xuất – chế biến – thị trường”, lựa chọn dự án thí điểm và xây dựng kế hoạch với KPI, nguồn lực và đầu mối cụ thể.
5.5. Đồng bằng sông Cửu Long: lúa phát thải thấp, vi sinh xử lý rơm rạ, Biochar và carbon
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực mà nhiều nhóm công nghệ VGA tiếp cận có khả năng liên kết trực tiếp nhất thành chuỗi.
“Báo cáo kết quả sơ kết VGA 6 tháng đầu năm 2026”, năm 2026, ghi nhận mô hình lúa phát thải thấp tại khu vực Liêu Tú với quy mô vùng trên 2.000 ha, trong đó có mô hình 50 ha lúa tím thông qua HTX Nông Thuận Thiên, kết hợp chuyển đổi số. Báo cáo cũng ghi nhận tại Vĩnh Long hoạt động ứng dụng công nghệ vi sinh mật độ cao HCDF xử lý rơm rạ kết hợp hệ thống số hóa bản đồ sức khỏe đất và hồ sơ cây trồng; tại Cần Thơ, Ban hỗ trợ Trung tâm Biochar Mekong trong quá trình xây dựng dự án xử lý phụ phẩm nông nghiệp, hướng tới Biochar từ trấu và nghiên cứu khả năng phát triển dự án carbon.
Các kế hoạch của VGA còn đặt ĐBSCL là địa bàn dự kiến triển khai các chuỗi sản xuất lúa theo tiêu chuẩn phát thải thấp, GlobalGAP, MRV, quản trị ESG và nền tảng giao thương số.
Như vậy, tại khu vực này có thể hình thành một gói chuyển đổi kép tương đối hoàn chỉnh:
GNSS/RTK – cơ giới hóa – drone – AWD → HTX số → vi sinh xử lý rơm rạ → thu gom phần phụ phẩm còn lại → Biochar/tuần hoàn → dMRV → carbon → chế biến – sấy – kho → truy xuất và thị trường.
5.6. Từ các điểm kết nối trên cả nước đến mạng lưới trình diễn chuyển đổi kép
Tổng hợp các hồ sơ từ đầu năm 2026 đến nay cho thấy VGA đang tiếp cận ít nhất bốn mức độ khác nhau.
Mức thứ nhất là giới thiệu, đánh giá và kết nối công nghệ, điển hình qua Hội thảo quốc gia tại Hà Nội ngày 03–04/6/2026, nơi các công nghệ UAV-LiDAR, DTALS, AI, IoT, viễn thám và MRV số hóa được giới thiệu và trình diễn.
Mức thứ hai là kết nối từng mô hình thực địa, như lúa ở Sóc Trăng/Cần Thơ, vi sinh ở Vĩnh Long, Biochar tại Cần Thơ, HTX Đồng Tâm tại Đồng Nai, du lịch nông nghiệp tại Hà Nội.
Mức thứ ba là xây dựng gói giải pháp theo ngành hàng, như vải thiều Bắc Ninh, chè Phú Thọ, cà phê và lúa Sơn La, lúa phát thải thấp ĐBSCL, thủy sản Hà Tĩnh.
Mức thứ tư là đề xuất hệ sinh thái nhiệm vụ quy mô tỉnh, điển hình như chuỗi sáu nhiệm vụ KH,CN&ĐMST tại Khánh Hòa và hệ thống đề xuất tích hợp nhiều ngành của Đắk Lắk.
Có thể khái quát mạng lưới VGA từ đầu năm 2026 đến nay như sau:
|
Vùng/địa phương |
Nhóm giải pháp VGA đã, đang hoặc dự kiến kết nối |
|
Hà Nội |
Hội thảo công nghệ quốc gia; AI, IoT, ESG, MRV, carbon; nông nghiệp thông minh – du lịch sinh thái |
|
Bắc Ninh |
GNSS/RTK, GIS, UAV, IoT, Blockchain, quản trị số 100 ha vải thiều |
|
Phú Thọ |
Chè Long Cốc, drone, bản đồ số, truy xuất, ESG/MRV |
|
Sơn La |
Cà phê, chè, cây ăn quả, lúa hữu cơ – phát thải thấp, HTX, MRV |
|
Lào Cai |
Lúa Séng Cù – Dền Sáng, tiêu chuẩn xanh, truy xuất, MRV |
|
Thái Nguyên/Bắc Kạn |
Dược liệu công nghệ cao; vùng trồng, tiêu chuẩn và chuỗi giá trị |
|
Hà Tĩnh |
Lúa giảm phát thải, AWD; thủy sản nước ngọt, VietGAP, chế biến và liên kết HTX |
|
Nghệ An |
Cánh đồng lúa công nghệ cao, cơ giới hóa, carbon |
|
Khánh Hòa |
Trung tâm dữ liệu; nông nghiệp thông minh; Biochar; du lịch sinh thái; RAS; Smart Factory; dMRV |
|
Đắk Lắk/Phú Yên |
Lúa, cà phê, sầu riêng, hữu cơ, phụ phẩm, Biochar, cơ giới hóa, ESG/MRV, du lịch nông nghiệp |
|
Đồng Nai |
HTX công nghệ cao, vùng nguyên liệu số, ESG/GlobalGAP, AI/IoT, tuần hoàn, chế biến, xuất khẩu |
|
Vĩnh Long |
HCDF, xử lý rơm rạ, bản đồ sức khỏe đất, hồ sơ cây trồng số |
|
Cần Thơ/Sóc Trăng |
Lúa phát thải thấp, HTX, chuyển đổi số, Biochar trấu, MRV/carbon |
|
ĐBSCL mở rộng |
Lúa phát thải thấp, GlobalGAP/VietFarm, MRV, quản trị ESG, truy xuất, dữ liệu giao thương |
Các trường hợp trên có trạng thái khác nhau: một số đã triển khai thực địa, một số đang xây dựng hồ sơ nhiệm vụ hoặc chương trình, một số mới ở mức đề xuất và kết nối. Vì vậy, khi đánh giá kết quả cần phân biệt rõ giữa “đã ứng dụng”, “đang thử nghiệm/xây dựng” và “dự kiến triển khai”, tránh coi toàn bộ danh mục trên là các dự án đã hoàn thành.
VI. TÁC ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI KÉP ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
Nhìn từ các địa bàn mà VGA đã, đang và dự kiến kết nối trong năm 2026, tác động tiềm năng của chuyển đổi kép không nằm ở một công nghệ cụ thể mà hình thành thông qua sự cộng hưởng giữa nhiều lớp giải pháp. Các địa phương khác nhau đang đóng vai trò như những “phòng thí nghiệm thực tiễn” cho những cấu phần khác nhau của hệ sinh thái.
6.1. Tạo nền tảng dữ liệu thống nhất cho quản trị nông nghiệp
Các mô hình tại Bắc Ninh, Khánh Hòa, Đồng Nai và các vùng nguyên liệu khác cho thấy GIS, GNSS/RTK, UAV, IoT, nhật ký điện tử, Blockchain và Dashboard có khả năng tạo ra một lớp dữ liệu mới cho quản lý nông nghiệp.
Ví dụ, nhiệm vụ vải thiều Bắc Ninh dự kiến số hóa toàn bộ 100 ha, định danh từng lô thửa, kết nối dữ liệu IoT với bản đồ và truy xuất. Khánh Hòa đi xa hơn khi đề xuất một nền tảng dữ liệu dùng chung và Trung tâm điều hành tích hợp GIS, Spatial ID, Digital Twin, AI, IoT, Dashboard và dMRV cho cả nông nghiệp, thủy sản và môi trường.
Nếu các mô hình này được triển khai thành công, chuyển đổi số sẽ tạo ra năng lực quản trị trên cơ sở dữ liệu thay cho quản lý chủ yếu bằng báo cáo tổng hợp sau sự kiện.
6.2. Tạo khả năng tổ chức sản xuất quy mô lớn mà không nhất thiết phải thay đổi quyền sử dụng đất
Các mô hình HTX tại Đồng Nai, ĐBSCL, Sơn La và các vùng nguyên liệu cho thấy chuyển đổi kép có thể tạo “quy mô lớn về quản trị” thông qua HTX.
Một HTX có thể kết nối hàng trăm hộ nhưng quản lý thống nhất về bản đồ vùng sản xuất, giống, vật tư, nhật ký, tiêu chuẩn, chất lượng và đầu ra. Mô hình Đồng Tâm đặt HTX ở vị trí trung tâm kết nối nông dân với công nghệ, chế biến, logistics và thị trường; đồng thời quản lý tài chính, sản xuất, hợp đồng và truy xuất trên nền tảng số.
Đây là một trong những tác động chiến lược nhất của chuyển đổi kép đối với nông nghiệp Việt Nam: không nhất thiết phải hợp nhất quyền sở hữu đất mới có thể hình thành vùng sản xuất được quản trị đồng bộ.
6.3. Giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải
Các mô hình lúa ở ĐBSCL, Hà Tĩnh, Nghệ An và các giải pháp DTALS cho thấy khả năng kết hợp giữa cơ giới hóa chính xác, AWD, drone, giảm giống, quản lý phân bón và xử lý rơm rạ.
Tại Hà Tĩnh, báo cáo của Trung tâm Khuyến nông ngày 18/6/2026 ghi nhận kết quả ban đầu của mô hình AWD với mức giảm phát thải được báo cáo 49,1% so với tưới ngập liên tục. Các đề xuất vùng Tuy Hòa – Hòa Mỹ – Đức Bình cũng kết hợp giảm lượng giống, AWD, san phẳng chính xác, cơ giới hóa, nhật ký điện tử và thu gom rơm.
Tác động ở đây là chuyển từ “tăng sản lượng bằng tăng đầu vào” sang “tăng hiệu quả bằng sử dụng đúng đầu vào, đúng nơi, đúng thời điểm”.
6.4. Chuyển phế, phụ phẩm từ gánh nặng môi trường thành nguồn tài nguyên
Các mô hình Vĩnh Long, Cần Thơ, Đắk Lắk, Khánh Hòa và các doanh nghiệp trong hệ sinh thái cho thấy phụ phẩm đang trở thành một trụ cột của chuyển đổi xanh.
Rơm rạ có thể được xử lý sinh học và trả lại đất; phần sinh khối phù hợp có thể làm Biochar, compost hoặc năng lượng. Chuỗi nhiệm vụ Khánh Hòa thậm chí đặt Biochar, compost, vi sinh, khí hóa sinh khối, chuyển đổi số và dMRV trong cùng một nhiệm vụ công nghiệp tuần hoàn.
Điều này mở ra khả năng hình thành các ngành nghề mới tại nông thôn: thu gom sinh khối, sản xuất phân hữu cơ, Biochar, năng lượng, vật liệu sinh học và dịch vụ MRV.
6.5. Nâng giá trị nông sản thông qua chế biến, truy xuất và thị trường
Các trường hợp Đồng Nai, Hà Tĩnh, Bắc Ninh và Khánh Hòa đều cho thấy chuyển đổi kép không dừng tại đồng ruộng.
Đồng Tâm đặt sơ chế, chế biến và xuất khẩu trong cùng chuỗi với vùng nguyên liệu; Hà Tĩnh yêu cầu doanh nghiệp khi phát triển thủy sản phải gắn với thu mua, nhà máy chế biến, đóng gói và bảo quản; Khánh Hòa đưa Smart Factory, SCADA, MES, ERP và logistics vào chuỗi thủy sản carbon thấp; còn Bắc Ninh kết nối quản trị vùng trồng với Blockchain và xuất khẩu vải thiều.
Vì vậy, tác động kinh tế của chuyển đổi kép có thể lớn hơn nhiều so với tăng năng suất đơn thuần, vì nó tác động vào giá trị sau thu hoạch, chất lượng, độ tin cậy và khả năng tiếp cận thị trường.
6.6. Biến giảm phát thải thành một chỉ tiêu có thể đo, quản trị và trong điều kiện phù hợp có thể tạo giá trị kinh tế
Các địa bàn hiện đang tiếp cận MRV ở những mức độ khác nhau: lúa ĐBSCL và Hà Tĩnh; Biochar tại Cần Thơ và Khánh Hòa; vùng nguyên liệu cà phê, lúa, chè; chuỗi thủy sản; lâm nghiệp và các dự án carbon.
Tác động quan trọng nhất của dMRV không phải ngay lập tức tạo tín chỉ carbon, mà trước hết là làm cho quá trình giảm phát thải có thể đo lường, báo cáo và kiểm chứng.
Trình tự phù hợp phải là:
Thực hành sản xuất tốt → dữ liệu nền → đo phát thải → giảm phát thải → MRV → xác minh → sau đó mới xem xét carbon credit.
Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng đặt kỳ vọng thị trường carbon trước khi mô hình sản xuất cốt lõi có hiệu quả kinh tế.
6.7. Tạo mạng lưới đổi mới sáng tạo liên vùng cho nông nghiệp Việt Nam
Khi nhìn riêng từng địa phương, các dự án có vẻ khác nhau. Tuy nhiên, khi đặt chúng trong cùng hệ sinh thái VGA, có thể thấy chúng bổ sung cho nhau:
Bắc Ninh thử nghiệm quản trị vùng cây ăn quả bằng RTK–IoT–Blockchain;
Phú Thọ và Sơn La mở hướng chè, cà phê và vùng nguyên liệu xanh;
Hà Tĩnh kết nối lúa giảm phát thải với thủy sản;
Khánh Hòa thử nghiệm hệ sinh thái cấp tỉnh từ dữ liệu tới RAS và Smart Factory;
Đắk Lắk kết hợp cà phê, sầu riêng, lúa, phụ phẩm, Biochar và du lịch;
Đồng Nai thử nghiệm HTX như trung tâm tổ chức chuyển đổi kép;
ĐBSCL tạo nền tảng cho lúa phát thải thấp, vi sinh, phụ phẩm, Biochar và MRV.
Nếu các mô hình được thiết kế với kiến trúc dữ liệu và phương pháp đánh giá tương thích, kinh nghiệm ở một tỉnh có thể được chuyển sang tỉnh khác mà không phải bắt đầu lại từ đầu.
6.8. Góp phần hình thành động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp
Từ mạng lưới các giải pháp trên, có thể xác định sáu nguồn tạo giá trị mới: nâng năng suất tổng hợp; giảm chi phí vật tư và tài nguyên; giảm tổn thất sau thu hoạch; tăng giá trị chế biến; tạo sản phẩm từ phụ phẩm và kinh tế tuần hoàn; và mở rộng thị trường thông qua dữ liệu, tiêu chuẩn, ESG và truy xuất.
Ngoài ra còn xuất hiện các dịch vụ mới như drone, GNSS/RTK, IoT, quản trị HTX số, truy xuất, MRV, Biochar, carbon, du lịch nông nghiệp và thương mại điện tử.
Do đó, không nên diễn giải rằng chuyển đổi kép tự nó bảo đảm tăng trưởng hai con số. Cách diễn đạt khoa học hơn là chuyển đổi kép có khả năng tạo các động lực cấu thành cho tăng trưởng cao thông qua tăng năng suất tổng hợp, nâng giá trị gia tăng, hình thành ngành nghề mới và sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên.
Từ thực tiễn VGA từ đầu năm 2026 đến nay, có thể khái quát quá trình hình thành hệ sinh thái theo một chuỗi phát triển:
Kết nối công nghệ ở nhiều địa phương
→ lựa chọn công nghệ phù hợp từng bài toán
→ tích hợp thành gói giải pháp
→ xây dựng HTX/vùng nguyên liệu hoặc mô hình trình diễn
→ đo lường hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường
→ chuẩn hóa dữ liệu và MRV
→ kết nối chế biến, tài chính và thị trường
→ nhân rộng giữa các vùng.
Đây chính là giá trị khác biệt mà VGA có thể phát huy trong giai đoạn tới: không phải trở thành chủ sở hữu của tất cả các công nghệ, mà trở thành đầu mối giúp các công nghệ, doanh nghiệp, nhà khoa học, HTX, địa phương và thị trường “gặp nhau” trong những hệ sinh thái giải pháp có khả năng vận hành và nhân rộng trong thực tiễn.
VII. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI KÉP CỦA VGA GIAI ĐOẠN 2026–2035
Từ thực tiễn kết nối các công nghệ, doanh nghiệp, viện – trường, HTX và địa phương từ đầu năm 2026 đến nay, có thể nhận thấy định hướng phù hợp của Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam trong giai đoạn 2026–2035 không phải là phát triển thêm một danh mục ngày càng dài các công nghệ riêng lẻ, mà là từng bước hình thành một hệ sinh thái giải pháp có kiến trúc chung, có khả năng lựa chọn và cấu hình theo từng vùng sinh thái, ngành hàng và chuỗi giá trị.
“Báo cáo kết quả hoạt động của Ban Nông nghiệp Xanh từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, 28/01/2026–08/06/2026”, Ban Nông nghiệp Xanh – VGA, năm 2026, xác định những nhiệm vụ tiếp theo gồm khảo sát mức độ sẵn sàng chuyển đổi xanh, ESG, MRV và giảm phát thải tại doanh nghiệp, HTX và vùng nguyên liệu; hỗ trợ các mô hình phát thải thấp, kinh tế tuần hoàn, Biochar, kiểm kê khí nhà kính và tín chỉ carbon; xây dựng chương trình đào tạo AI, chuyển đổi số, ESG và MRV; đồng thời tăng cường kết nối khoa học công nghệ, tài chính xanh và thị trường.
Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026–2035 đề xuất tập trung vào chín chương trình trọng tâm sau.
7.1. Chương trình hạ tầng dữ liệu và bản đồ số nông nghiệp xanh
Hình thành lớp dữ liệu nền dùng chung cho quản lý tài nguyên và chuỗi sản xuất, bao gồm GIS, GNSS/RTK-CORS, Spatial ID, viễn thám, UAV, Digital Twin và cơ sở dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, lâm nghiệp, tài nguyên nước và nguồn phụ phẩm.
Mục tiêu lâu dài là từng bước hình thành nguyên tắc “mỗi đối tượng sản xuất có một định danh số và một hồ sơ dữ liệu”, tạo điều kiện kết nối các lớp IoT, truy xuất, HTX số, ESG và MRV.
Đề xuất chuỗi nhiệm vụ KH,CN&ĐMST của VGA tại Khánh Hòa năm 2026 đã áp dụng tư duy này khi đặt nhiệm vụ xây dựng nền tảng dữ liệu và Trung tâm điều hành chuyển đổi xanh tích hợp GIS, Spatial ID, Digital Twin, AI, IoT, Dashboard và dMRV làm một trong các nhiệm vụ nền của cả hệ sinh thái cấp tỉnh.
7.2. Chương trình nông nghiệp chính xác, IoT, AI, UAV và tự động hóa
Phát triển các gói công nghệ hỗ trợ quản lý đầu vào theo nguyên tắc đúng vị trí, đúng thời điểm và đúng nhu cầu, thay thế dần phương thức áp dụng đồng đều trên toàn bộ vùng sản xuất.
Các giải pháp trọng tâm gồm cơ giới hóa chính xác, drone, cảm biến đất và nước, trạm khí tượng, camera AI, tưới thông minh, robot, DSS và AI dự báo.
Không nên coi AI là một lớp phần mềm độc lập. AI cần được phát triển trên nền dữ liệu đã được chuẩn hóa từ GIS, IoT, nhật ký điện tử và dữ liệu sản xuất thực tế. Vì vậy, chương trình này cần được triển khai cùng Chương trình 7.1 thay vì tách rời.
7.3. Chương trình chuyển đổi số HTX và phát triển HTX xanh kiểu mới
Đây cần được xác định là một chương trình riêng trong chiến lược của VGA.
HTX là mắt xích có khả năng tổ chức số lượng lớn hộ nông dân thành vùng nguyên liệu, tạo quy mô đủ lớn cho cơ giới hóa, dữ liệu, truy xuất, chứng nhận, chế biến và thị trường.
Mô hình HTX số cần quản trị thống nhất thành viên, vùng sản xuất, nhật ký, vật tư, tài sản, máy móc, kho, tài chính, hợp đồng, truy xuất, tiêu chuẩn chất lượng, Dashboard, thương mại điện tử và kết nối tài chính.
Định hướng hỗ trợ HTX Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm Đồng Nai năm 2026 thể hiện cách tiếp cận này: HTX được xác định không chỉ là nơi tổ chức sản xuất mà là trung tâm liên kết dữ liệu, vùng nguyên liệu, quy trình kỹ thuật, chất lượng và thị trường; đồng thời hướng tới quản trị tài chính – sản xuất – nhân lực – hợp đồng – truy xuất trên một nền tảng số thống nhất.
Lộ trình đề xuất:
HTX truyền thống → HTX số → HTX thông minh → HTX xanh và phát thải thấp → HTX tham gia sâu vào chuỗi giá trị và tài chính xanh.
7.4. Chương trình nông nghiệp sinh học, hữu cơ và tái sinh
Chương trình này tập trung vào các công nghệ tạo ra thay đổi thực chất trong hệ sinh thái đất – cây – vật nuôi, gồm giống thích ứng, vi sinh, phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, IPM, cây che phủ, phục hồi sức khỏe đất, giảm hóa chất và các mô hình nông nghiệp tái sinh.
Các công nghệ mới như HCDF, giải pháp xử lý rơm rạ bằng vi sinh, Azolla và các chế phẩm sinh học cần được tổ chức khảo nghiệm, so sánh với đối chứng và đánh giá hiệu quả kinh tế – môi trường trước khi nhân rộng. Đây cũng là nơi VGA có thể phát huy vai trò “bộ lọc công nghệ”, tránh tình trạng một kết quả do doanh nghiệp công bố được suy rộng thành hiệu quả phổ quát.
7.5. Chương trình kinh tế tuần hoàn, phụ phẩm, Biochar và năng lượng sinh học
Mục tiêu là chuyển tư duy từ “xử lý chất thải” sang “quản trị dòng tài nguyên”.
Đối tượng bao gồm rơm rạ, trấu, vỏ cà phê, cành tỉa, vỏ và hạt quả, phân chăn nuôi, phụ phẩm gỗ, phụ phẩm thủy sản và chất thải sau chế biến.
Tùy tính chất vật liệu, công nghệ có thể gồm xử lý vi sinh, compost, biogas, sản xuất thức ăn, Biochar, viên nén, khí hóa hoặc thu hồi năng lượng.
Chuỗi nhiệm vụ VGA đề xuất tại Khánh Hòa năm 2026 đã hình thành một nhiệm vụ riêng về công nghiệp tuần hoàn phụ phẩm nông nghiệp, tích hợp Biochar, compost, phân hữu cơ, vi sinh, khí hóa sinh khối, chuyển đổi số và dMRV, cho thấy khả năng chuyển kinh tế tuần hoàn từ các mô hình đơn lẻ sang một chương trình KH,CN&ĐMST có cấu trúc.
7.6. Chương trình ESG, kiểm kê khí nhà kính, dMRV và kinh tế carbon
Đây là lớp giúp chuyển các kết quả “xanh” thành dữ liệu có thể quản trị và chứng minh.
Các nội dung gồm kiểm kê khí nhà kính, ISO 14064, ISO 14067, dấu chân carbon, LCA, ESG, MRV, dMRV và từng bước phát triển các dự án carbon đủ điều kiện.
Nguyên tắc xuyên suốt cần giữ là:
Thực hành tốt → dữ liệu đáng tin cậy → đường cơ sở → giảm phát thải → MRV → xác minh → sau đó mới xem xét tín chỉ carbon.
Không nên xây dựng mô hình nông nghiệp chỉ dựa trên kỳ vọng nguồn thu tín chỉ carbon. Giá trị kinh tế của sản phẩm, tiết kiệm chi phí và thị trường đầu ra phải được bảo đảm trước; carbon là lớp giá trị gia tăng tiếp theo.
7.7. Chương trình lâm nghiệp xanh, thủy sản xanh và kinh tế sinh thái
Trong lâm nghiệp, cần tích hợp GIS, viễn thám, UAV/LiDAR, mã số rừng trồng, truy xuất gỗ, dữ liệu chủ rừng và MRV carbon.
Trong thủy sản, chương trình tập trung vào GIS vùng nuôi, IoT chất lượng nước, AI, RAS, truy xuất, cold chain, chế biến thông minh và ESG.
Đề xuất VGA tại Khánh Hòa năm 2026 đã thiết kế mô hình nuôi cá chẽm biển mật độ cao trong RAS tích hợp AI, IoT, Smart Factory, SCADA, MES, ERP, truy xuất, ESG và dMRV, qua đó cho thấy thủy sản cũng có thể tiếp cận chuyển đổi kép theo cùng nguyên tắc với trồng trọt nhưng bằng một cấu hình công nghệ khác.
Đối với Blue Carbon, carbon rừng, đất và các hệ sinh thái khác, cần xây dựng các phương pháp luận riêng phù hợp từng đối tượng.
7.8. Chương trình Smart Factory, chế biến sâu và logistics xanh
Chuyển đổi kép phải kéo dài từ đồng ruộng tới nhà máy.
Chương trình tập trung vào sấy, bảo quản, chế biến sâu, kho thông minh, cold chain, ERP, MES, SCADA, robot, quản lý năng lượng và truy xuất theo lô.
Mục tiêu là giảm tổn thất sau thu hoạch, ổn định chất lượng, giảm tiêu hao năng lượng và tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Đối với các vùng nguyên liệu được VGA tiếp cận như cà phê, sầu riêng, lúa, vải, chè và thủy sản, công nghệ chế biến cần được thiết kế đồng thời với vùng nguyên liệu thay vì chờ tới khi sản xuất mở rộng mới tìm đầu ra.
7.9. Chương trình thị trường, tài chính xanh, PPP và hợp tác quốc tế
Công nghệ chỉ có thể nhân rộng khi mô hình có dòng tiền.
Do đó, VGA cần tiếp tục kết nối doanh nghiệp chế biến, nhà phân phối, xuất khẩu, ngân hàng, quỹ đầu tư, tài chính khí hậu và các cơ chế PPP với vùng sản xuất và HTX.
MOU giữa VGA và Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm ngày 28/01/2026 đã đặt nguyên tắc hình thành chuỗi “đầu vào – sản xuất – chế biến – thị trường” và kết nối các nguồn tài chính xanh; các thỏa thuận cụ thể về tài chính, đầu tư, dịch vụ hoặc phân chia lợi ích chỉ được phát sinh theo từng dự án riêng.
Các chương trình trên nên được triển khai thông qua mạng lưới các vùng trình diễn. Thay vì đồng loạt áp dụng toàn bộ 11 nhóm công nghệ, mỗi địa phương lựa chọn một hoặc một số chuỗi ưu tiên; xây dựng đường cơ sở; xác lập chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường; tổ chức trình diễn; đánh giá độc lập; sau đó mới chuẩn hóa và nhân rộng.
VIII. KIẾN NGHỊ
8.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có tính tích hợp liên ngành, thay vì chia nhỏ thành các nhiệm vụ công nghệ không liên thông. Các chương trình nông nghiệp xanh nên ưu tiên những đề xuất kết hợp đồng thời công nghệ số, kỹ thuật sản xuất, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn, dữ liệu và thị trường.
Khuyến khích áp dụng mô hình PPP đối với hạ tầng dữ liệu, GNSS/RTK-CORS, IoT vùng sản xuất, hệ thống MRV, trung tâm dữ liệu, cơ sở chế biến, Biochar và các hạ tầng chuyển đổi xanh có khả năng sử dụng chung.
Cần xây dựng và từng bước thống nhất các chuẩn dữ liệu nhằm tạo khả năng kết nối giữa GIS, IoT, nhật ký điện tử, mã số vùng trồng, HTX, truy xuất, kiểm kê khí nhà kính và hệ thống quản lý nhà nước.
Đối với các công nghệ mới, cần có cơ chế sandbox hoặc mô hình trình diễn có kiểm soát, cho phép đánh giá công nghệ trong điều kiện thực tế trước khi nhân rộng.
8.2. Đối với các tỉnh, thành phố
Mỗi địa phương nên lựa chọn một số chuỗi giá trị chủ lực để xây dựng vùng trình diễn chuyển đổi kép, thay vì triển khai dàn trải.
Một vùng trình diễn cần có ít nhất sáu thành tố: hiện trạng và đường cơ sở; dữ liệu số; quy trình kỹ thuật; tổ chức sản xuất thông qua HTX hoặc doanh nghiệp; đầu ra thị trường; và hệ thống đánh giá hiệu quả.
Các tỉnh có thể tham khảo những hướng đang được tiếp cận trong năm 2026 như vải thiều số tại Bắc Ninh, HTX công nghệ cao tại Đồng Nai, lúa giảm phát thải tại ĐBSCL và Hà Tĩnh, chuỗi nông nghiệp – thủy sản – Biochar – dữ liệu tại Khánh Hòa, hay chuỗi cà phê – sầu riêng – phụ phẩm tại Đắk Lắk.
8.3. Đối với viện nghiên cứu và trường đại học
Vai trò quan trọng nhất của viện – trường là cung cấp bằng chứng khoa học độc lập cho các giải pháp.
Các công nghệ do doanh nghiệp phát triển cần được khảo nghiệm trong nhiều điều kiện sinh thái; cần có lô đối chứng, chỉ tiêu đánh giá, số liệu thống kê và công bố khoa học khi phù hợp.
Viện – trường cũng cần tham gia chuẩn hóa phương pháp MRV, LCA, kiểm kê khí nhà kính, đánh giá đất, phân tích Biochar và các chỉ tiêu ESG liên quan đến nông nghiệp.
Trong đề xuất chuỗi nhiệm vụ Khánh Hòa, VGA đã đặt các trường đại học và viện nghiên cứu cùng doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong cấu trúc phối hợp của chương trình, gồm Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III và Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp.
8.4. Đối với doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp chuỗi giá trị
Doanh nghiệp công nghệ cần chuyển từ bán thiết bị hoặc phần mềm đơn lẻ sang cung cấp giải pháp có khả năng tích hợp.
Mỗi giải pháp cần công khai rõ điều kiện áp dụng, hiệu quả đã được kiểm chứng, yêu cầu vận hành, chi phí vòng đời, khả năng trao đổi dữ liệu và trách nhiệm về chất lượng.
Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cần tham gia sớm ngay từ khâu thiết kế vùng nguyên liệu, bởi không nên mở rộng sản xuất khi chưa xác định được tiêu chuẩn, quy cách, sản lượng, giá và cơ chế thu mua.
8.5. Đối với HTX
HTX cần được xem là một chủ thể kinh tế và dữ liệu, không chỉ là đơn vị tập hợp nông dân.
Ưu tiên trước hết là chuẩn hóa danh sách thành viên, vùng sản xuất, kế toán, tài chính, hợp đồng và nhật ký sản xuất; sau đó mới phát triển các lớp cao hơn như GIS, IoT, AI, Blockchain, ESG và MRV.
Quá trình chuyển đổi số cần hướng tới nâng chất lượng quản trị HTX kiểu mới, bảo đảm tính minh bạch, sự tham gia thực chất của thành viên, quản trị tài chính, khả năng cung cấp dịch vụ và liên kết thị trường.
8.6. Đối với Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam
VGA cần tập trung vào sáu chức năng xuyên suốt:
Tiếp cận → Sàng lọc → Kết nối → Tích hợp → Trình diễn và đánh giá → Chuyển giao, nhân rộng.
Để làm được điều đó, VGA cần xây dựng cơ sở dữ liệu các giải pháp công nghệ và đơn vị cung cấp; bộ tiêu chí đánh giá công nghệ; mạng lưới chuyên gia độc lập; các vùng trình diễn; chương trình đào tạo; và cơ chế kết nối với tài chính, thị trường và địa phương.
Đồng thời cần phân định rõ vai trò: VGA không bảo lãnh mặc nhiên cho mọi công nghệ của hội viên; doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với sản phẩm, công nghệ và cam kết của mình; các tuyên bố về giảm phát thải, ESG hay carbon phải có số liệu và phương pháp xác minh tương ứng.
“Báo cáo kết quả hoạt động Ban Nông nghiệp Xanh năm 2026” cũng cho thấy một số hạn chế hiện nay là nguồn kinh phí chưa ổn định, nhiều chuyên gia hoạt động kiêm nhiệm và năng lực huy động nguồn lực còn hạn chế. Do đó, để triển khai các chương trình dài hạn, VGA cần phát triển cơ chế xã hội hóa minh bạch, hợp tác doanh nghiệp và các nguồn tài chính cho mô hình trình diễn.
IX. KẾT LUẬN
Chuyển đổi kép đang tạo ra một cách tiếp cận mới đối với phát triển nông nghiệp bền vững Việt Nam. Chuyển đổi số cung cấp khả năng định danh, đo lường, kết nối, phân tích và quản trị; chuyển đổi xanh xác định mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển kinh tế tuần hoàn; đổi mới sáng tạo tạo ra các mô hình tổ chức và kinh doanh để hai quá trình này tạo thành giá trị kinh tế thực tế.
Qua các hoạt động từ đầu năm 2026 đến nay, mạng lưới giải pháp mà VGA đã, đang và dự kiến kết nối đã xuất hiện tại nhiều vùng trên cả nước với những cấu hình khác nhau: GNSS/RTK, GIS, UAV, IoT và Blockchain cho vùng vải thiều Bắc Ninh; chè và lúa vùng miền núi phía Bắc; lúa giảm phát thải tại Hà Tĩnh và ĐBSCL; HTX công nghệ cao tại Đồng Nai; HCDF và Biochar tại Vĩnh Long – Cần Thơ; nông nghiệp, thủy sản, RAS, Smart Factory và kinh tế tuần hoàn tại Khánh Hòa; cà phê, sầu riêng, lúa, phụ phẩm và ESG/MRV tại Đắk Lắk. Các trường hợp này có mức độ triển khai khác nhau, từ hoạt động đã thực hiện đến nhiệm vụ đang xây dựng và đề xuất cho giai đoạn tới.
Từ thực tiễn đó có thể rút ra rằng giá trị lớn nhất không nằm ở từng công nghệ riêng lẻ. Một hệ thống RTK, IoT, AI, Blockchain, Biochar hay MRV chỉ tạo được tác động đầy đủ khi được đặt đúng vị trí trong một chuỗi giá trị và kết nối với các công nghệ, chủ thể và thị trường khác.
Vì vậy, vai trò phù hợp của Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam trong thập kỷ tới là trở thành đầu mối kết nối hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ biến các giải pháp rời rạc thành những gói công nghệ có khả năng khảo nghiệm, triển khai, đo lường, chuẩn hóa và nhân rộng. Nếu thực hiện được theo hướng này, chuyển đổi kép có thể đóng góp quan trọng vào việc nâng năng suất tổng hợp, giảm chi phí và phát thải, nâng giá trị gia tăng, phát triển các ngành nghề mới, cải thiện năng lực quản trị của HTX và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh dài hạn của nông nghiệp Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Nông nghiệp Xanh – Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Báo cáo kết quả hoạt động của Ban Nông nghiệp Xanh từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, 28/01/2026–08/06/2026. Hà Nội, ngày 08/6/2026.
- Ban Nông nghiệp Xanh – Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Kế hoạch hành động năm 2026 của Ban Nông nghiệp Xanh. Tài liệu nội bộ VGA.
- Ban Nông nghiệp Xanh và Ban Thủy sản Xanh – Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Đề xuất Chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, thủy sản xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2026–2035.
- Ban Nông nghiệp Xanh – Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Đề xuất nhiệm vụ: Nghiên cứu, xây dựng và chuyển giao mô hình công nghiệp tuần hoàn phụ phẩm nông nghiệp và sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao tích hợp công nghệ Biochar, vi sinh, khí hóa sinh khối, chuyển đổi số và dMRV phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải và phát triển thị trường carbon tỉnh Khánh Hòa.
- Ban Nông nghiệp Xanh – Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Tổng quan tình hình sản xuất nông, lâm, dược liệu, chăn nuôi, tái chế phụ phẩm, ESG và khí nhà kính tỉnh Đắk Lắk; đề xuất giải pháp phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng Xanh – Số – Tuần hoàn – Phát thải thấp.
- Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Hồ sơ năng lực Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam – Phục vụ triển khai các chương trình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.
- Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam và Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm. 2026. Biên bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác chiến lược, số 09/MOU/VGA-DT, ngày 28/01/2026.
- Lê Quý Kha. 2026. Bài phát biểu tại Lễ ra mắt HTX Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm Đồng Nai. Đồng Nai, ngày 13/5/2026.
- Lê Quý Kha. 2026. Cơ giới hóa tự động hóa trong sản xuất lúa giảm phát thải ở Việt Nam. Báo cáo trình bày ngày 27/02/2026.
- Công ty CP Công nghệ Nền tảng số DTALS. 2026. Thuyết minh nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Ứng dụng kỹ thuật định vị chính xác, công nghệ Blockchain, IoT trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc vải thiều tại tỉnh Bắc Ninh.
- Trung tâm Khuyến nông – Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh. 2026. Báo cáo nội dung phục vụ làm việc với Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm. Hà Tĩnh, ngày 18/6/2026.
- Mai Văn Trịnh. 2025. Quy trình đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Viện Môi trường Nông nghiệp. Cần Thơ, ngày 24/10/2025.
- Hellen Huong Nguyen. 2026. Từ chứng nhận đến dữ liệu bền vững – Vai trò của tiêu chuẩn quốc tế trong chuyển đổi xanh và xuất khẩu nông nghiệp. Control Union Vietnam. VGA Conference, ngày 03–04/6/2026.
- Nguyễn Đức Trường. 2026. Hạ tầng dữ liệu số cho nông nghiệp xanh phục vụ định danh, truy xuất nguồn gốc – ESG – EUDR – MRV – Carbon. Công ty TNHH Công nghệ Hạt giống Vàng. Hà Nội, ngày 04/6/2026.
- Phạm Hoài Trung. 2026. Xây dựng nền nông nghiệp phát thải thấp – Nền tảng ESG, MRV và tín chỉ Carbon cho giai đoạn mới. Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam.
- Phạm Xuân Thỏa. 2026. Ứng dụng nền tảng quản trị dữ liệu giao thương GDPX & truy xuất nguồn gốc eGap trong phát triển chuỗi giá trị nông sản. Hà Nội, ngày 04/6/2026.
- Hoàng Liên Sơn. 2026. Công nghệ kỹ thuật số (iTFC) trong phát triển tín chỉ các-bon rừng trồng quy mô hộ gia đình. Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp.
- Vũ Chí Công, Ninh Thị Hoa, Nguyễn Phương Nam và Nguyễn Minh Huệ. 2023. Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo khung Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG). Công bố tháng 9/2023 trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững theo Quyết định số 167/QĐ-TTg.
- Vietnam National Seed Group JSC – Vinaseed. 2024. Báo cáo Phát triển bền vững 2024.
- Nguyễn Vân Anh và Phí Anh Tuấn. 2026. Xử lý phân hủy rơm rạ trực tiếp trên đồng với công nghệ vi sinh mật độ cao (HCDF) kết hợp với quản lý số hóa toàn diện. Probiotics/Vinatoken.
- PADCO. 2026. Tài liệu giới thiệu giải pháp SUMITRI xử lý rơm rạ và phụ phẩm hữu cơ bằng công nghệ vi sinh.
- SolAgris. 2026. Hệ sinh thái nông nghiệp phát thải âm SolAgris. Tài liệu giới thiệu giải pháp tuần hoàn phụ phẩm, Biochar, năng lượng, phân bón và MRV.
- Do Green. 2026. Ứng dụng công nghệ Do Green trong xử lý, tái chế chất thải và tạo sản phẩm tuần hoàn.
- Mekong Green Tech. 2026. Hồ sơ năng lực Công ty TNHH Mekong Green Tech. Công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn, Biochar và xử lý phụ phẩm nông nghiệp.
- Azitech. 2026. Hồ sơ giới thiệu Azitech. Các giải pháp đào tạo, tư vấn ESG, khí nhà kính, carbon, hệ thống quản lý và chuyển đổi số phục vụ phát triển bền vững.
- Ban Tổ chức VGA–HHT. 2026. Báo cáo tổng hợp kết quả phối hợp tổ chức Hội thảo và Triển lãm công nghệ “Nông nghiệp Xanh – ESG – MRV – Net Zero và AI trong nông nghiệp”, Hà Nội, ngày 03–04/6/2026.
- Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Kế hoạch phát triển các chuỗi sản xuất xanh, phát thải thấp và MRV tại Phú Thọ, Lào Cai, Bắc Ninh, Sơn La và Đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu kế hoạch hoạt động năm 2026.
- Công ty CP Evergy Phú Yên và Ban Nông nghiệp Xanh – VGA. 2026. Đề án tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đề xuất giải pháp công nghệ theo hướng nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, Xanh – Số – Tuần hoàn – Phát thải thấp vùng Tuy Hòa – Hòa Mỹ – Đức Bình.
- Đảng ủy xã Hòa Mỹ. 2026. Báo cáo thực trạng và tiềm năng phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp và ứng dụng công nghệ cao tại xã Hòa Mỹ. Nội dung được dẫn trong hồ sơ tổng quan và đề xuất của Ban Nông nghiệp Xanh VGA.
- Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam. 2026. Báo cáo sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2026. Tài liệu tổng hợp các hoạt động của Hiệp hội và Ban Nông nghiệp Xanh, trong đó ghi nhận các mô hình lúa phát thải thấp, công nghệ HCDF, Biochar và nông nghiệp thông minh – du lịch sinh thái tại nhiều địa phương.
TS. Lê Quý Kha
Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam
Trưởng Ban Nông nghiệp Xanh