Kinh tế- xã hội Việt Nam năm 2022 và triển vọng của năm 2023

Năm 2022, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các cấp, ngành và địa phương triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiệm vụ, giải pháp trên mọi lĩnh vực; kiên định thực hiện chương trình, kế hoạch đề ra; vừa nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, vừa tập trung vào xử lý các vấn đề tồn đọng và ứng phó kịp thời với những vấn đề phát sinh; nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời.nên đã chuyển đổi nhanh thực trạng đất nước.

Kinh tế - xã hội năm 2022 đã phục hồi tích cực và đạt những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực; 13/15 chỉ tiêu kế hoạch đã đạt và vượt mức đề ra.. Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế Việt Nam. Ngày 1 tháng 01 năm 2023 Cổng Thông tin Chính phủ (Chinh phu.vn) đã nhấn mạnh “Chúng ta đã thực hiện thắng lợi,toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ; vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.Từ đó đã lựa chọn ra 10 sự kiện tiêu biểu nổi bật trong măm, tập trung trên các mặt

1.Tăng trưởng GDP cao kỷ lục, kinh tế-xã hội phục hồi và phát triển mạnh mẽ

2. Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát

3. Dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát tốt, chắc chắn trên phạm vi toàn quốc,

4. Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

5. Tập trung xử lý nhưng tồn đọng kéo dài, giải quyết, ứng phó kịp thời những vấn đề mới phát sinh

6. Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế , khâu đột phá chiến lược phat triển

7. An sinh xã hội đã được triển khai thiết thực, kịp thời và hiệu quả

8. Để lại những dấu ấn ngoại giao quan trọng 

9. Thúc đẩy các dự án hạ tầng giao thông vận tải chiến lược

Và  10. Tăng tốc chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo

 Cùng với những nhận định này, ngày  29 tháng 12 năm 2022 Tổng cuc thống kê đã công bố báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý IV và cả năm 2022. Diễn đàn ttổng hợp một số vấn đền nổi bật để thông ttin đến cùng bạn đọc .

Những nội dung cơ bản của 10 sự kiện nổi bật trong năm,2022

1.Nhờ chuyển đổi nhanh, kịp thời sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả đại dịch COVID-19, trong năm 2022, kinh tế-xã hội đã phục hồi tích cực và đạt những kết quả quan trọng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực (có 13/15 chỉ tiêu đạt và vượt, 1 chỉ tiêu xấp xỉ đạt kế hoạch đề ra). Nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, tăng trưởng GDP ước đạt 8,02% (cao hơn so với mục tiêu đề ra 6-6,5%),là mức tăng trướng  cao nhất trong giai đoạn 2011-2022.

 Quy mô nền kinh tế cả nước lần đầu tiên đạt 409 tỷ USD và.GDP bình quân đầu người năm 2022 tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021. Các ngành, lĩnh vực kinh tế đều tăng trưởng tốt. Sự phục hồi kinh tế diễn ra khá đồng đều giữa các địa phương, nhiều tỉnh thành phố đã đạt tốc độ tăng trưởng cao.

h1-1672722729.png

                                                         Viêt Nam điểm sáng tăng trưởng kinh tế năm 2022 Ảnh  VTV.Vn

2. Chính phủ đã kiên định mục tiêu ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện chính sách tiền tệ chắc chắn, chủ động, linh hoạt; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác; nâng cao năng lực phân tích, dự báo; chủ động xây dựng các kịch bản, phương án thích ứng. Tập trung nghiên cứu, điều hành cân bằng, hợp lý tỉ giá với lãi suất; kiểm soát lạm phát với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đảm  bảo thanh khoản, tăng trưởng tín dụng hợp lý, hiệu quả; an toàn hệ thống ngân hàng và an ninh tiền tệ .Qua đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm tăng 3,15% so với năm 2021, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Thị trường tiền tệ, mặt bằng lãi suất, tỉ giá tương đối ổn định; lãi suất được điều chỉnh phù hợp; tính đến ngày 21/12/2022, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 12,87% .

3. Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 tiếp tục tăng cường thực hiện quyết liệt phòng, chống dịch COVID-19; các ngành, cấp và địa phương tuyệt đối không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; tập trung đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine phòng COVID-19; khắc phục tình trạng thiếu thuốc, vật tư, trang thiết bị và nhân lực y tế. Nhờ đó, dịch bệnh được kiểm soát tốt trên phạm vi toàn quốc, tỉ lệ chuyển nặng và tử vong giảm thấp so với mức trung bình toàn cầu (dưới 0,4%, thấp hơn trung bình 1,1% của thế giới). Tỉ lệ bao phủ vaccine của Việt Nam ở mức rất cao và là một trong những biện pháp hiệu quả nhất, có ý nghĩa chiến lược trong phòng, chống dịch bệnh.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành gần 30 nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo ở cấp tỉnh. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực được Chính phủ chỉ đạo tổ chức thực hiện ngày càng quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá mới, góp phần củng cố niềm tin của người dân và các doanh nghiệp.

Ban Chỉ đạo Trung ương đã tập trung xử lý 108 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội rất quan tâm. Đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trong các lĩnh vực chuyên môn hoạt động khép kín. Khẩn trương đưa ra xét xử nhiều vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.Xử lý nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, theo đúng quan điểm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai"; đồng thời kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín thấp theo phương châm: "Có vào, có ra, có lên, có xuống"; được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

5. Năm 2022, nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa từng có; đặc biệt , khi áp lực lạm phát tăng cao; khó khăn về thanh khoản và tình trạng thiếu hụt xăng dầu; giá xăng dầu, nguyên vật liệu, chi phí đầu vào biến động mạnh, ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành, lĩnh vực. Chính phủ cùng các cơ quan liên quan đã tập trung chỉ đạo cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu và nhiều dự án thua lỗ kéo dài. Đã có phương án xử lý đối với 5/12 dự án và tích cực xây dựng phương án khả thi, tốt nhất có thể đối với 7/12 dự án còn lại và các dự án phát sinh khác.

Liên quan thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản,  Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xử lý nhiều vấn đề; ổn định mặt bằng giá cả, bảo đảm cân đối cung cầu, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Thủ tướng Chính phủ đã thành lập 6 Tổ công tác đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; Ban Chỉ đạo liên ngành về ổn định hoạt động ngân hàng, các tổ chức tín dụng;Tổ công tác về ổn định thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp; Tổ công tác tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản.

Từ quan điểm quyết liệt xử lý nghiêm các sai phạm, tiêu cực để phát triển lành mạnh, bền vững các loại thị trường, minh bạch nền hành chính, nền kinh tế và bảo vệ các nhà đầu tư, các định chế tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp hoạt động an toàn, bền vững, đúng pháp luật; tuyệt đối không để mất an toàn hệ thống, mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và các chủ thể theo quy định pháp luật trong bất cứ hoàn cảnh nào.

6. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Đã tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; khắc phục những điểm nghẽn cản trở phát triển; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch, tiết giảm chi phí cho các doanh nghiệp và mọi người dân.

Trong năm 2022, Chính phủ đã có 9 phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, thông qua 39 dự án, đề nghị xây dựng luật. Chính phủ đã trình Quốc hội 19 dự án luật, cơ bản bảo đảm tiến độ và chất lượng, 12 dự án luật đã được Quốc hội thông qua và 7 dự án luật đang được Quốc hội cho ý kiến. Chính phủ đã ban hành gần 110 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 28 Quyết định quy phạm pháp luật. Theo đó, công tác xây dựng quy hoạch được chú trọng thúc đẩy; đã lập, phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch, một số quy hoạch quốc gia, vùng và một số địa phương..

Việc rà soát, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế được triển khai tích cực, hiệu quả, giảm được17 tổng cục, 8 cục, 145 vụ/ban, 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Ở các địa phương, đã giảm được 7 cơ quan chuyên môn và 6 tổ chức hành chính thuộc UBND tỉnh, giảm 2.159 tổ chức trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, huyện,và 7.469 đơn vị sự nghiệp công lập.

7. Trong bối cảnh phải thực hiện nhiều giải pháp chính sách về miễn, giảm, gia hạn nhiều loại thuế phí, lệ phí và tiền thuê đất cho người dân và doanh nghiệp, những kết quả đạt được về An sinh xã hội rất đáng khích lệ, Cả nước đã hỗ trợ 87.000 tỷ đồng cho 56 triệu lượt dân, người lao động và hơn 730.000 lượt người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Thực hiện kịp thời chế độ, chính sách ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 4,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,5% so với năm 2021. Tỉ lệ nghèo tiếp cận đa chiều còn khoảng 3,6%, giảm 0,8 % so với năm 2021.

8. Bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được  tăng cường đã góp phần củng cố, nâng cao vị thế và uy tín,quốc tế của Việt Nam; đã giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thu hút nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước.

Việt Nam đã được bầu là Phó Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc lần thứ hai. Các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò ngày càng quan trọng của đất nước trên trường quốc tế.

Việt Nam đã tự tin thúc đẩy tăng trưởng, phát triển bền vững, tiếp tục xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Hoạt động đối ngoại năm 2022 đã góp phần thực hiện thành công đường lối đối ngoại của Đảng, đóng góp tích cực vào xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, mở cửa và phục hồi sau đại dịch,

9. Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; tạo chuyển biến tích cực trong triển khai xây dựng công trình kết cấu hạ tầng quốc gia, nhất là giao thông vận tải. Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì họp hằng tháng để chỉ đạo triển khai các dự án, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, cải thiện rõ rệt tiến độ các dự án.

Trong năm 2022, cơ bản hoàn thành 565 km đường bộ cao tốc; khởi công xây dựng dự án Nhà ga hành khách T3 sân bay Tân Sơn Nhất. Phấn đấu đầu năm 2023, khởi công xây dựng 12/12 dự án thành phần với chiều dài 729 km của dự án cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 và dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

10. Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo cùng xu hướng chuyển đổi số, phát triển  xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn bước đầu phát triển.

Thực hiện cam kết giảm phát thải về 0 vào năm 2050, trong năm 2021-2022, Chính phủ đã ban hành "Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050" và  "Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030".

Thủ tướng Chính phủ luôn kêu gọi các đối tác quốc tế, các nhà đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ để quá trình chuyển đổi năng lượng, phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, phù hợp với điều kiện của một quốc gia đang phát triển, trải qua nhiều năm chiến tranh với nền kinh tế đang chuyển đổi. Việt Nam đã cùng các nước G7 và các đối tác quốc tế khác thông qua tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác Chuyển dịch năng lượng .

h2-1672722733.png

Bức tranh king tế VN nhiều điểm sáng với GDP cả năm 2022 tăng 8,02% so với năm trước. - Ảnh: VN Media

Tình hình kinh tế xã hội năm 2022 từ góc nhìn thống kê quốc gia

Trong báo tình hình kinh tế xã hội Quý IV và cả năm 2022, Tổng  cục Thống kê Việt Nam nhấn mạnh Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/ tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,7% và 5,17% của cùng kỳ năm 2020 và 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011-2019. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,22%; khu vực dịch vụ tăng 8,12%. Về sử dụng GDP quý IV/2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,12% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 82,6% vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 5,61%, đóng góp 43,78%; vào tốc độ gia  tăng; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 6,14%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 4,83%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đã giảm 26,38%.”

Do nền kinh tế được khôi phục trở lại, ước tính GDP cả năm 2022 tăng 8,02% (quý I tăng 5,05%; quý II tăng 7,83%; quý III tăng 13,71%; quý IV tăng 5,92%) so với năm trước và đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng góp 5,11% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%.Nhờ nền kinh tế được khôi phục trở lại, dịch vụ đã tăng 9,99%, đóng góp 56,65% vào tổng giá trị gia tăng.của nền kinh tế.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò là bệ đỡ.  Lĩnh vực nông nghiệp tăng tưởng  2,88%, đóng góp 0,27 % vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 6,13%, đóng góp 0,03 %; thủy sản tăng 4,43%, đóng góp 0,12 % vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ gia tăng 8,10%, đóng góp 2,09 % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,45%, đóng góp 0,04 %; sản xuất và phân phối điện tăng 7,05%, đóng góp 0,26 %; khai khoáng tăng 5,19%, đóng góp 0,17 %. Ngành xây dựng tăng 8,17%, đóng góp 0,59 % vào tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế

Khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ  gia tăng 9,99%,là mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 Nhiều lĩnh vực dịch vụ thị trường tăng cao, đã đóng góp quan trọng vào tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Bán buôn, bán lẻ tăng 10,15% đóng góp 0,97 % vào tăng trưởng chung; vận tải kho bãi tăng 11,93%, đóng góp 0,69 %vào tăng trưởng của nền kinh tế; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất với mức tăng 40,61%, đóng góp 0,79 %vào tăng trưởng của nền kinh tế. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,03%, đóng góp 0,53 %; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,80%, đóng góp 0,5 %. Riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 7,6%, làm giảm 0,13 %mức tăng trưởng chung, cho dù dịch Covid-19 đã được kiểm soát.

Về cơ cấu của nền kinh tế năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%; khu vực dịch vụ chiếm 41,33%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%.

Về sử dụng GDP năm 2022, báo cáo thống kê cho thấy, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,18% so với năm 2021, đóng góp 49,32% vào tốc độ tăng trưởng chung; tích lũy tài sản tăng 5,75%, đóng góp 22,59%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,86%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,16%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 28,09% vào tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2022 ước đạt 9,513 triệu tỷ đồng, tương đương 409 tỷ USD và GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) ước đạt 95,6 triệu đồng, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021. Năng suất lao động của nền kinh tế năm 2022 (theo giá hiện hành) ước tính đạt 188,1 triệu đồng/lao động (tương đương 8.083 USD, tăng 622 USD so với năm 2021). Theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2022 tăng 4,8% do trình độ của người lao động được cải thiện với tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 26,2%, cao hơn 0,1% so với năm 2021

Nhữngchuyển đổi sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản từ phân tích số liệu thống kê

a)Về sản xuất Nông nghiệp

Diện tích lúa cả năm 2022 ước đạt 7,1 triệu ha, giảm 127,7 nghìn ha so với năm trước; năng suất ước đạt 60,2 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 42,66 triệu tấn,

Sản xuất vụ đông xuân của cả nước năm 2022 giảm so với năm trước: Diện tích gieo cấy đạt 2.975,6 nghìn ha; năng suất đạt 67,1 tạ/ha và sản lượng ước đạt gần 20 triệu tấn.

Diện tích gieo trồng vụ hè thu cả nước đạt 1.914,7 nghìn ha, giảm 38,1 nghìn ha so với năm trước; năng suất đạt 56,6 tạ/ha; sản lượng ước đạt 10,8 triệu tấn, giảm 304,3 nghìn tấn.

Lúa thu đông, diện tích gieo cấy năm 2022 ước đạt 648,7 nghìn ha, giảm 70,6 nghìn ha so với  năm trước; năng suất đạt 56 tạ/ha và sản lượng ước đạt 3,6 triệu tấn, giảm 390,1 nghìn tấn.

Diện tích lúa mùa gieo cấy đạt 1.553,1 nghìn ha, tăng 11,9 nghìn ha so với năm trước; năng suất ước đạt 52,9 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng ước đạt 8,2 triệu tấn, tăng 151,9 nghìn tấn.

Đối với cây hàng năm: Năm 2022 sản lượng ngô đạt 4,41 triệu tấn, giảm 0,8% so với năm trước; khoai lang đạt 969,1 nghìn tấn, giảm 21,3%; lạc đạt 409,6 nghìn tấn, giảm 4,8%; đậu tương đạt 52,2 nghìn tấn, giảm 11,9%%; rau các loại đạt 18,68 triệu tấn, tăng 2,9%.

 Về cây lâu năm, diện tích gieo trồng đạt 3.712,1 nghìn ha, tăng 0,8% so với năm 2021, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.194,3 nghìn ha, giảm 0,4%; nhóm cây ăn quả đạt 1.212,8 nghìn ha, tăng 3,5%.

Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến cuối tháng 12/2022 tăng 11,4% so với cùng năm trước; tổng số bò tăng 3,1%; tổng số trâu giảm 2%; tổng số gia cầm tăng 4,8%.

b) Về Lâm nghiệp Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước trong quý IV/2022 đạt 107,4 nghìn ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2022, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 300,1 nghìn ha, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 101,2 triệu cây, tăng 5,3%; sản lượng củi khai thác đạt 18,6 triệu Ste, tăng 0,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 19,7 triệu m3, tăng 7,2%.

Diện tích rừng bị thiệt hại có xu hướng giảm dần , Quý IV/2022 diện tích bị thiệt hại là 234 ha, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, cả nước có 1.121,9 ha rừng bị thiệt hại, giảm 56,9% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 41,4 ha, giảm 97,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 1.080,5 ha, giảm 0,8%.

c)  về Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý IV/2022 ước đạt 2.426,5 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 9.026,3 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 5.163,7 nghìn tấn, tăng 6,3%; sản lượng thác đạt 3.862,6 nghìn tấn, giảm 1,8%.

Vấn đề rút ra trong năm 2022 và triển  vọng của năm 2023

Việt Nam đã lập kỳ tích trong tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, vượt khá so với mục tiêu kế hoạch đề ra trong năm 2022. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao gấp 2,5 lần tỷ lệ lạm phát là nét "khác biệt" trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với lạm phát cao nhất với tăng trưởng kinh tế thấp.

Năm 2022, hoạt động kinh tế diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới đối mặt với nhiều thách thức. Nền kinh tế Việt Nam với độ mở lớn, sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh hạn chế. Chỉ một biến động nhỏ của thế giới cũng gây tác động lớn tới kinh tế - xã hội trong nước

Vị thế kinh tế Việt Nam trong thương mại quốc tế tuy được củng cố và khẳng định. Song trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm, đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn về vật liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ, vượt lên trong tìm kiếm nguồn hàng, tìm kiếm thị trường.là một khó khăn lớn.

Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá Việt Nam  năm 2022 vượt mốc 730 tỷ USD, với 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Lần đầu tiên xuất khẩu thuỷ sản cán mốc 10 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ 3 thế giới. Với cán cân thương mại xuất siêu 11,2 tỷ USD, xuất nhập khẩu đã góp phần quan trọng làm giảm bớt áp lực tỷ giá trên thị trường ngoại tệ.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là điểm sáng của nền kinh tế trong bối cảnh đầu tư và thương mại quốc tế suy giảm. Năm 2022, vốn FDI thực hiện đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm 2021.Thu hút đầu tư nước ngoài đã chuyển hướng, tập trung vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, phù hợp với chủ trương nâng cao chất lượng, ưu tiên các dự án hiện đại, có sức lan tỏa về công nghệ, tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển xanh và bền vững, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào mạng lưới cung ứng toàn cầu.

Sự năng động, vượt khó của cộng đồng doanh nhân; tư duy đột phá, hành động khẩn trương đặt hiệu quả chỉ đạo lên trên hết của Chính phủ; sự đồng hành hiệu quả của Quốc hội trong ban hành chủ trương, chính sách đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển.

Những điểm sáng trong bức tranh kinh tế đã được Moody's nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ Ba3 lên Ba2 với triển vọng ổn định. Bức tranh kinh tế-xã hội sẽ còn sắc nét hơn, nếu một số bất cập về thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh được tháo gỡ kịp thời.

Trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm, ảnh hưởng tới xuất khẩu, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là giải pháp quan trọng và hiệu quả nhằm phục hồi, nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, Bởi, đầu tư công là động lực tăng trưởng, giải ngân thêm 1% so với năm trước sẽ làm GDP tăng thêm 0,058%.

 Xuất khẩu hàng hóa là động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong các năm qua và những năm tới. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lại phụ thuộc rất lớn vào một số ít nhóm hàng và khu vực FDI. Kim ngạch của 8 nhóm hàng của đầu tư FDI đã chiếm tới 70,1% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn nền kinh tế; riêng kim ngạch của 2 nhóm hàng là điện thoại và điện tử , máy tính cùng với linh kiện chiếm tới 30,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Điều này phản ánh thương mại quốc tế dễ bị tổn thương.Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp chưa phát huy và tận dụng lợi ích của các FTA mang lại để thúc đẩy xuất khẩu.

chuyên gia kinh tế nhận định, có 5 yếu tố định hình kinh tế thế giới trong năm 2023 và các năm tiếp theo. Đó là: lãi suất; biến động của kinh tế Trung Quốc; phi toàn cầu hóa kinh tế thế giới; chuyển đổi năng lượng và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế. Năm 2023, Trung Quốc đang dần loại bỏ chính sách Zero COVID, mở cửa trở lại nền kinh tế. Khi nền kinh tế khởi sắc, Trung Quốc sẽ tăng nhập khẩu dầu thô, nguyên vật liệu sản xuất, hàng hóa công nghiệp, đẩy giá nguyên liệu thế giới tăng cao, gây áp lực tăng giá nhiều loại hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ khác, Theo đó, lạm phát toàn cầu sẽ gia tăng. Nhiều dự báo cho rằng, nếu Trung Quốc mở cửa hoàn toàn vào giữa năm 2023, giá năng lượng sẽ tăng cao và chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ giảm xuống 3,9% vào giữa năm, có nguy cơ tăng vọt lên 5,7% vào cuối năm 2023.

Hoạt động kinh tế xã hội nước ta trong năm 2023 diễn ra trong bối cảnh kinh tế -chính trị thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường với nhiều yếu tố rủi ro bất định. Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2023 còn suy giảm sâu so với năm 2022 và có thể rơi vào suy thoái. Các nền kinh tế hàng đầu tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt, tăng lãi suất để xử lý lạm phát; kinh tế nước ta với độ mở lớn.,chủ yếu dựa vào  tầm quan trọng của 4 trụ cột. Đó là đổi mới, đảm bảo tính đồng bộ về thể chế và môi trường pháp lý cho phát triển; thúc đẩy tiêu dùng trong nước của thị trường gần 100 triệu dân; thực hiện nhanh, hiệu quả vốn đầu tư xã hội, nhất  là đầu tư công để nâng cao năng lực, sức cạnh tranh và tính lan toả của nền kinh tế;; chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh thực hiện kinh tế số, kinh tế tuần hoàn là động lực và sẽ trở thành trụ cột trong những năm tới.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế đặt ra cho năm 2023 là 6,5%, với quy mô GDP tăng từ 916,2-969,7 nghìn tỷ đồng so với năm 2022, tương đương với mức tăng quy mô GDP của năm 2022 so với năm 2021 Tuy mục tiêu tăng 6,5% GDP năm 2023 thấp hơn mức tăng 8,02% của năm 2022 nhưng 1% GDP năm 2023 đạt 104,1 nghìn tỷ đồng, cao hơn  9,7 nghìn tỷ đồng của 1% GDP trong năm 2022.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5% năm 2023, dự kiến khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản phải tăng 3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,6-8,3%; khu vực Dịch vụ tăng 6,5-7%. Đây là các mức tăng không dễ đạt được trong bối cảnh kinh tế thế giới với nhứng nền kinh tế lớn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam được dự báo rơi vào suy thoái, sẽ tác động rất mạnh đến tình hình kinh tế Việt Nam.

Vị thế  Việt Nam trong thương mại quốc tế ngày càng được củng cố và khẳng định, nhưng để đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5%trong năm 2023, các chuyên gia kinh tế cho rằng ,đây là điều không dễ trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều bất ổn.  Theo đó ,Chính phủ cần kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, rà soát bãi bỏ các quy định không hợp lý nhằm cắt giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, đảm bảo đủ nguồn cung đáp ứng tổng cầu tăng, giảm áp lực lạm phát.

Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, phù hợp giữ ổn định vĩ mô; điều chỉnh tỷ giá linh hoạt hạn chế tối đa lạm phát do tỷ giá, đồng thời giữ ổn định thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ. Bên cạnh đó, cần có giải pháp cung ứng ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu, tránh rủi ro biến động của tỷ giá; đồng thời, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ  linh hoạt, giãn, hoãn, miễn thuế, hỗ trợ lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp.

Bộ Công Thương cần công khai minh bạch, đơn giản hóa quy trình thương mại; khuyến khích và đẩy mạnh chia sẻ thông tin thương mại và giá cả; giữ vững năng lực cạnh tranh và thị phần của hàng hóa Việt trên thị trường thế giới; Dự báo sớm các mặt hàng có thể thiếu hụt trong dài hạn để có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư sản xuất các mặt hàng này, chủ động nguồn nguyên vật liệu, tăng tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

Cùng với những việc nêu ra, Bộ Công Thương cũng cần chủ động xây dựng và thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; nắm bắt kịp thời giá xăng dầu thế giới, nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, có giải pháp tổng thể để đảm bảo đầy đủ nguồn cung xăng dầu dài hạn. Điện là mặt hàng năng lượng quan trọng, cần dự báo, xây dựng kế hoạch, giải pháp cung ứng đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng trong bất kỳ hoàn cảnh nào . Ngoài ra,cần đánh giá tác động của việc tăng giá điện, dịch vụ y tế, giáo dục đối với lạm phát và tăng trưởng kinh tế để quyết định mức độ và thời điểm điều chỉnh, giá các loại dịch vụ do nhà nước quản lý, tránh cộng hưởng lạm phát do chi phí đẩy,

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt chuẩn bị đầy đủ các điều kiện nhằm duy trì và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, Đồng thời phải đa dạng và đảm bảo nguồn cung cho sản xuất của từng nhóm nguyên vật liệu của mỗi ngành để không phụ thuộc vào một thị trường, một khu vực.

Chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin và dự báo chính xác động thái thị trường, nhất là xu ướng, mức độ và lộ trình tăng giá, tăng lãi suất để chủ động trong xây dựng, điều chỉnh và thực hiện kế hoạch tài chính, kinh doanh. Để phát huy động lực xuất khẩu cho tăng trưởng, các doanh nghiệp cần cập nhật thông tin mới, đổi mới cách tiếp cận nhằm tận dụng tối đa những lợi thế do các Hiệp định thương mại tự do mang lại; cải tiến quy trình sản xuất sản phẩm đáp ứng quy định của các thị trường quốc tế và đủ tiêu chuẩn để hưởng lợi từ các FTA.

Cùng với các chính sách, giải pháp phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội; sự chỉ đạo khẩn trương, sát sao và cụ thể của Chính phủ, trong bối cảnh kinh tế thế giới có thể rơi vào suy thoái, mục tiêu tăng trưởng 6,5% của năm 2023 có tính khả thi nhưng để đạt được cần có quyết tâm cao và sự động tình thưc hiện của các doanh nghiệp và  toàn xã hội ./.