TS. Lê Thành Ý: Tài chính giá rẻ cho điện than ở Việt Nam đi vào giai đoạn kết thúc

Việt Nam đang là một trong những quốc gia phát triển điện than nhanh nhất thế giới. Kể từ năm 2015 đến nay, trong tổng công suất điện than 20,4 GW (chiếm 30% cơ cấu nguồn điện) nguồn bổ sung đã chiếm hơn một nửa công suất (10,7 GW) và theo dự thảo Quy hoạch Điện VIII, đến năm 2030, nguồn này sẽ có thêm gần 17 GW công suất. Dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 với công suất 1,2 GW, nếu được xây dựng, sẽ phát thải 6,6 triệu tấn khí nhà kính mỗi năm, và lên tới 200 triệu tấn trong vòng đời 30 năm hoạt động.

 

Cùng với Trung Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc là một trong những nước cung cấp nguồn tài chính lớn nhất cho các dự án điện than ở Việt Nam. Gần đây, các công ty nhà nước trong đó có Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) đã quyết định đầu tư 189 triệu USD vào dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 ở tỉnh Hà Tĩnh với đơn vị cho vay là Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM). Quyết định này đã vấp phải sự phản đối và chỉ trích của cộng đồng quốc tế bởi đã đi ngược lại với Chính sách Kinh tế Xanh của các quốc gia  Đông Nam Á.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại Hội nghị Thượng đỉnh các nhà Lãnh đạo về Khí hậu toàn cầu, Tổng thống Hàn Quốc, một trong những quốc gia cấp nhiều tài chính nhất cho các dự án điện than ở Việt Nam tuyên bố, dừng đầu tư vào điện than ở nước ngoài và đặt ra yêu cầu cần xem xét lại kế hoạch mở rộng các dự án điện than hiện tại ở Việt Nam.

Bình luận về đầu tư của Hàn Quốc vào điện than ở nước ngoài, Sejong Youn, Giám đốc Tài chính Khí hậu của tổ chức Giải pháp cho Khí hậu của chúng ta,một tổ chức phi chính phủ của Hàn Quốc cho biết “Tuyên bố chấm dứt đầu tư vào điện than ở nước ngoài của Hàn Quốc là tín hiệu cho thấy nguồn tài chính giá rẻ cho điện than ở Châu Á sắp kết thúc. Chính phủ Việt Nam cần nghiêm túc xem xét lại kế hoạch phát triển điện than bởi các dự án điện than ngày càng kém khả thi về tài chính. Riêng với dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 mới trong giai đoạn sơ khởi, chính phủ Hàn Quốc và Việt Nam nên cùng bắt tay để chuyển đổi dự án này sang dự án năng lượng tái tạo. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia trong thực hiện các mục tiêu khí hậu.”

Cũng như Hàn Quốc, Nhật Bản đang bị chỉ trích mạnh vì cấp các khoản vay lãi suất thấp cho các dự án điện than ở Indonesia và Việt Nam, thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản. Trong  tháng 7 năm 2020, quốc gia này đã thắt chặt điều kiện cho vay đối với các dự án điện than ở nước ngoài. Theo đó, họ chỉ chấp nhận cho vay đối với những dự án ở những nước có kế hoạch giảm phát thải hoặc không có giải pháp thay thế khả thi. Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide tuyên bố tăng mục tiêu giảm phát thải (NDC) của Nhật Bản, đến năm 2030 sẽ giảm từ 46% đến 50% lượng khí thải so với mức của năm 2013. Điều phối Chương trình của Trung tâm Môi trường và Xã hội Bền vững Nhật Bản, Yuki Tanabe, cho rằng “Nhật Bản cần cam kết dừng cấp tài chính cho tất cả các dự án điện than ở nước ngoài.”

Tổ chức Giải pháp cho Khí hậu của chúng ta của Hàn Quốc cho biết, trong giai đoạn từ 2008 đến 2018 quốc gia này đã cung cấp nguồn tài chính xấp xỉ 10 tỷ đô cho các dự án nhiệt điện than ở nước ngoài. Từ năm 2011 đến 2020, các nhà đầu tư Hàn Quốc đã được Ngân hàng Xuất Nhập khẩu KEXIM cho vay trên 6,39  tỷ USD để đầu tư vào 8 dự án nhiệt điên ở Việt Nam, bao gồm các dự án Mông Dương1,2, Thái Bình 2, Long Phú 1, Vĩnh Tân 4, Vĩnh Tân 4 mở rộng, Sông Hậu, Nghi Sơn 2 và Vũng Áng 2 . Mặc dù nghiên cứu tiền khả thi của Viện Phát triển Hàn Quốc cho thấy, dự án Vũng Áng 2 làm Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) chịu thua lỗ 84 triệu USD, song tập đoàn này vẫn quyết định đầu tư cho dự án này. Trước sức ép chỉ trích của các nhà đầu tư và các nhà hoạt động vì khí hậu, ngày 28 tháng10 năm 2020, KEPCO đã chính thức tuyên bố sẽ dừng đầu tư vào các dự án điện than ở nước ngoài sau dự án Vũng Áng 2 tại Việt Nam.

Những dự án nhiệt điện than ngày nay đã trở thành tâm điểm chỉ trích của dư luận quốc tế. Những chỉ trích này không chỉ đến từ các nhà hoạt động khí hậu, mà còn bao gồm nhiều chính khách như cựu Phó Tổng thống Mỹ Al Gore, cựu Tổng thư kí UNFCCC Christina Figueres, Nigel Toppings và các nhà đầu tư như BlackRock và chứng khoán APG.

Trước xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ từ nhiệt điện than sang năng lượng sạch, kế hoạch phát triển mở rộng nhiệt điện than ở Việt Nam đang vấp phải nhiều chỉ trích vì đi ngược lại với kế hoạch giảm lượng phát thải các bon nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam đạt mục tiêu giảm phát thải 9% vào năm 2030 so với kịch bản thông thường.

Giảm điện than là xu hướng tất yếu phải làm, nhưng ngưng hẳn thì cần có lộ trình lâu dài. Cơ quan hoạch định chính sách, đang xây dựng Quy hoạch điện 8 với những cân nhắc, tính toán các kịch bản nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Mới đây, tại Hà Nội, liên minh các tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực bảo vệ quyền sức khỏe - môi trường - năng lượng và  pháp lý đã ra “Tuyên bố Hà Nội về việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới trên lãnh thổ Việt Nam”. Tuyên bố bày tỏ sự ủng hộ kết luận của nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cần đẩy nhanh các dự án đang làm, nhưng nếu tiếp tục phát triển các dự án điện than mới thì dư luận không đồng tình và nhấn mạnh, các nhà máy nhiệt điện than xây dựng thêm sẽ dẫn tới nhiều nguy cơ hủy hoại môi trường, khí hậu, sức khỏe con người và đe dọa sự ổn định về an ninh chính trị, kinh tế, xã hội.

Từ các phân tích nêu ra, các chuyên gia, giới nghiên cứu và nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tạm dừng triển khai các nhà máy nhiệt điện than mới để rà soát, đánh giá toàn diện tính khả thi về tài chính, tác động về sức khỏe, môi trường, an ninh, trật tự xã hội của các dự án. Song song, cần chỉ đạo thực hiện ngay các giải pháp về kỹ thuật và kinh tế để tháo gỡ khó khăn cho các dự án năng lượng tái tạo (NLTT).

Quyết định rời khỏi thị trường đầu tư vào điện than ở việt Nam của Hàn Quốc tác động mạnh tới lượng phát thải và các dự án điện than ở Việt Nam. Trao đổi về vấn đề này, Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh, Ngụy Thị Khanh, cho biết "Tuyên bố dừng cung cấp tài chính cho các dự án điện than ở nước ngoài của Hàn Quốc là tín hiệu mạnh mẽ đối với các quốc gia nhận nguồn vốn như Việt Nam để thay đổi kế hoạch mở rộng các dự án điện than hiện tại. Chúng tôi đánh giá rất cao nỗ lực của chính phủ Hàn Quốc trong việc đưa ra cam kết gắn với Thỏa thuận Paris đồng thời khuyến khích Hàn Quốc gia tăng hỗ trợ tài chính cho chuyển dịch sang năng lượng sạch ở Việt Nam.”