Việt Nam vững vàng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm

Như thông lệ vào tháng 9 hằng năm, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), một định chế tài chính nổi tiếng thuộc sở hữu của 68 thành viên, trong đó có 49 nước trong khu vực, thường công bố báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO).

Ngày 27 tháng 9 vừa qua, lãnh đạo ADB đã chính thức công bố báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2023. Diễn đàn tổng hợp một số nhận xét của các nhà nghiên cứu ADB về thực trạng và triển vọng kinh tế Việt Nam từ báo cáo này.

viet-nam-vung-vang-1-1696485903.jpg
Họp báo công bố báo cáo ADO 2023 của Ngân hàng Phát triển châu Á

Nhận định của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về kinh tế Việt Nam

Theo thông cáo báo chí công bố ngày 27 tháng 9 năm 2023 tai Hà Nội, ADB cho biết, do nhu cầu bên ngoài suy giảm, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm hơn kỳ vọng trong nửa đầu năm qua. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái ngoài dự kiến, dự báo tăng trưởng  của báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2023 đã hạ mức tăng trưởng của Viêt Nam từ 6,5% xuống còn 5,8% và 6,0% cho năm 2024 nhưng vẫn là mức tăng trưởng cao trên thế giới và đứng ở hàng đầu khu vực. Do giá cả hàng trong nước tương đối ổn định; chỉ số giá tiêu dùng dự báo tăng 3,8% trong năm 2023 và lên 4,0% trong năm 2024, còn lạm phát được kỳ vọng giảm nhẹ so với trước đây.

Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam, Shantanu Chakraborty, nhận xét “Môi trường bên ngoài yếu kém, bao gồm cả sự phục hồi chậm chạp tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ảnh hưởng tiêu cực tới lĩnh vực sản xuất định hướng xuất khẩu của Việt Nam, làm thu hẹp sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn vững vàng và dự kiến sẽ phục hồi nhanh trong tương lai gần nhờ tiêu dùng trong nước mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công và cải thiện các hoạt động thương mại.”.

Nhu cầu toàn cầu sụt giảm khiến sản xuất công nghiệp Việt Nam bị thu hẹp, song các lĩnh vực khác vẫn tăng trưởng lành mạnh. Nhờ sự hồi sinh du lịch và phục hồi những dịch vụ có liên quan, ngành dịch vụ được kỳ vọng tiếp tục mở rộng; sản xuất nông nghiệp hưởng lợi từ giá lương thực gia tăng trong năm 2023(khoảng 3,2%) và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, báo cáo ADO 2023 đã  nhấn mạnh những rủi ro đáng kể đối với những triển vọng này.

Ở trong nước, việc chậm giải ngân vốn đầu tư công và yếu kém về cấu trúc trong nội tại nền kinh tế là những nguy cơ dẫn tới giảm tốc tăng trưởng. Ở bên ngoài, tăng trưởng toàn cầu chậm lại và sự phục hồi yếu đi của Trung Quốc là nguy cơ đối với triển vọng kinh tế Việt Nam. Lãi suất duy trì ở mức cao tại Mỹ và châu Âu cùng với giá trị đồng đô-la Mỹ mạnh lên đã gây khó khăn cho việc phục hồi nhu cầu bên ngoài và dẫn đến giảm tỷ giá tiền đồng của Việt Nam.

viet-nam-vung-vang-2-1696485904.jpg
Việt Nam điểm sáng khu vực trong tiến trình phục hồi                 Ảnh TTXVN

Những cập nhật kinh tế Việt Nam từ góc nhìn của ADB

Trong báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO)2023, ADB đã lưu ý những yếu tố tác động tới nền kinh tế bao gồm, tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, việc thắt chặt tiền tệ ở một số quốc gia phát triển và sự gián đoạn do căng thẳng địa chính trị toàn cầu. Theo đó, phục hồi nền kinh tế  Viêt Nam đã chịu những ảnh hưởng bất lợi từ nhu cầu bên ngoài giảm. Tăng trưởng kinh tế chậm lại, chỉ đạt 3,7% trong nửa đầu năm 2023 so với mức tăng  6,5% của cùng kỳ năm trước.

Do tiêu dùng nội địa tăng mạnh, ngành dịch vụ đã tăng trưởng 6,3% và đóng góp 2,7 % vào tổng mức tăng trưởng. Trong 8 tháng đầu năm 2023, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 7,8 triệu lượt  người,  cao gấp 5,4 lần so với năm trước, nhưng chỉ bằng 70% trước đại dịch 2019.

Cầu bên ngoài suy yếu, cùng với sự phục hồi chậm của Trung Quốc đã ảnh hưởng bất lợi tới tăng trưởng của ngành sản xuất định hướng xuất khẩu. Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2023, giảm 0,4% với số doanh nghiệp đóng cửa ngày càng nhiều (mỗi tháng có tới 15.600 công ty đóng cửa và hàng trăm nghìn công nhân bị mất việc) khiến công nghiệp và xây dựng giảm, chỉ tăng 1,1% trong nửa đầu năm 2023. Lĩnh vực nông nghiệp duy trì được đà tăng mạnh, đạt 3,1% đã thúc đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cùng với gia tăng nông nghiệp, sự phục hồi của du lịch nội địa đã giúp tiêu dùng tăng 2,7% trong nửa đầu năm 2023. Tuy nhiên, do tổng tích lũy tài sản cố định chỉ bằng 1,2% so với mức 3,8% của năm trước nên đầu tư nửa đầu năm 2023 bị giảm sút. Mặt khác, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI nửa đầu năm 2023 chỉ bằng mức của cùng kỳ năm trước và cam kết vốn FDI chỉ đạt 13,4 tỉ USD, giảm 4,3% so với cùng kỳ. Do những căng thẳng về địa chính trị và điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt, nhu cầu bên ngoài yếu đi, khiến thương mại đã suy giảm và hạn chế đến mức tăng trưởng chung. Nhờ giá dầu giảm và tỷ giá hối đoái ổn định, 8 tháng đầu năm, áp lực lạm phát có giảm nhẹ. Lạm phát chung đạt trung bình 3,1% so với cùng kỳ năm trước; tuy nhiên, lạm phát cơ bản lại ở mức cao hơn (4,6%).

Tăng trưởng thấp và lạm phát vừa phải khiến Chính phủ phải theo đuổi chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng. Trong tháng 6 năm 2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã giảm lãi suất điều hành thêm 50 điểm cơ bản, là lần điều chỉnh hạ lãi suất thứ tư trong năm. Lãi suất tái cấp vốn giảm còn 4,5%, lãi suất tái chiết khấu 3,0%,và lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại cũng giảm tương ứng là 1,0%. Nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các Ngân hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ các khoản vay kinh doanh và tiêu dùng, giữ nguyên các nhóm nợ cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2024.

Nhu cầu tín dụng trong năm đã phản ánh khó khăn của nền kinh tế thực; tăng trưởng tín dụng thấp (ước đạt 9,3% trong nửa đầu năm; cùng kỳ năm trước tăng 16,8%) và tổng phương tiện thanh toán đã từ 9,2% giảm xuống còn 5,3% trong nửa đầu năm đã phản ảnh khó khăn của nền tài chính. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ linh hoạt cùng với việc thay đổi lãi suất điều hành thích ứng và tỷ giá hối đoái ổn định đã giúp nền kinh tế dần phục hồi. Đồng tiền Việt Nam chỉ mất giá 1,0% so với đô-la Mỹ trong nửa đầu năm 2023.

Dư nợ trái phiếu  so với tổng tín dụng ngân hàng tương đối nhỏ, nhưng bất ổn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản đã gây hiệu ứng lan tỏa sang khu vực ngân hàng. Nhà nước đã cho phép các ngân hàng mua lại trái phiếu chưa niêm yết mà không cần chờ một năm sau khi bán. Ngân hàng nhà nước cũng chỉ đạo các ngân hàng triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho vay nhà ở. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp dần thu hẹp khoảng cách và ổn định hơn nhờ các quy định được sửa đổi kịp thời.

Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm làm kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút. Lãi suất cao ở Mỹ và châu Âu làm chậm quá trình phục hồi và giảm nhu cầu từ các đối tác thương mại lớn. Kim ngạch xuất khẩu tám tháng đầu năm 2023 đã giảm 10,0% so với cùng kỳ năm 2022. Theo các nhà phân tích. nhu cầu đã giảm mạnh tại các thị trường trọng điểm. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ giảm tới 20,6%, Liên minh châu Âu 9,7% và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 6,8%. Các lô hàng điện thoại di động, máy tính và sản phẩm điện tử  chiếm 30,0% tổng kim ngạch xuất khẩu  đã giảm 15,0%. Trong khi, xuất khẩu máy móc và thiết bị.chỉ chiếm 12,0% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng giảm tới 10,0%.

Sản xuất đình trệ làm giảm kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất chiếm 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu, nhưng đã xuống 194,7 tỉ USD, giảm tới 16,4%. Trong 8 tháng đầu năm 2023 do nhập khẩu giảm nhanh hơn xuất khẩu, nên thặng dư thương mại gia tăng, đạt 20,2 tỉ USD. Nửa đầu năm 2023, tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán đạt thặng dư 6,0% GDP, so với mức thâm hụt 3,6% GDP của một năm trước đó.

Dòng vốn từ bên ngoài giảm, dẫn đến thu hẹp thặng dư tài khoản vốn và tài chính từ mức 6,4% GDP của nửa đầu năm trước xuống còn 3,2% GDP trong cùng kỳ năm 2023. Với sự thu hẹp này, thặng dư tài khoản vãng lai giúp cán cân thanh toán tổng thể đạt thặng dư khoảng 1,6% GDP và dự trữ ngoại hối đủ chi trả 3,7 tháng nhập khẩu.

Thâm hụt tài khóa tiếp diễn vào những tháng đầu năm 2023, làm giảm thặng dư ngân sách nhà nước. Thu từ hoạt động thương mại giảm và thiếu hụt các khoản thu nội địa làm giảm mức tăng tổng thu ngân sách, trong 8 tháng đầu năm 2023 mức thu xuống còn 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi ngân sách tăng 13,0% và chi đầu tư phát triển đã tăng 40,3%; nhưng giải ngân vốn đầu tư công vẫn chậm. Thặng dư ngân sách giảm còn khoảng 1,5% GDP trong nửa đầu năm 2023, so với 5,1% cùng kỳ của  năm 2022.

Triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới

Các yếu tố toàn cầu tác động đến nền kinh tế là tình trạng suy thoái kinh tế, sự thắt chặt tiền tệ ở một số nước phát triển và tác động của cuộc xung đột Nga -U-crai-na đang tiếp diễn.Từ góc nhìn nghiên cứu, các nhà kinh tế của ADB đã điều chỉnh giảm mức tăng trưởng và lạm phát so với dự báo trong tháng 4 năm 2023. Theo đó, tăng trưởng kinh tế được dự báo giảm từ 6,5% xuống còn 5,8% trong năm 2023 và năm 2024 lên 6,0%.

viet-nam-vung-vang-3-1696485904.jpg
Triển vọng phát triển kinh tế VN          Ảnh minh hoạ

Nhu cầu thế giới giảm, tác động mạnh đến ngành sản xuất chế biến/ chế tạo ở Việt Nam, làm giảm dự báo của các ngành liên quan. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của ngành sản xuất chế biến chế tạo, sau 5 tháng liên tiếp suy giảm dưới 50 đã tăng trở lại, đạt 50,5 (mở rộng sản xuất) trong tháng 8 năm 2023 cho thấy sự phục hồi của ngành sản xuất dựa trên tiêu dùng. Sản xuất Công nghiệp được dự báo tăng trưởng 7,0% trong cả năm 2023; lĩnh vực  Xây dựng sẽ tăng tốc khi các dự án cơ sở hạ tầng được triển khai theo đúng kế hoạch.

Các lĩnh vực khác được dự báo có phục hồi tốt hơn. Nhờ sự hồi sinh của du lịch và các dịch vụ liên quan, ngành Dịch vụ sẽ tiếp tục tăng trưởng. Trong tháng 8, doanh số bán lẻ đã tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, giúp doanh số của 8 tháng đầu năm 2023 tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; Nông nghiệp sẽ được hưởng lợi từ giá lương thực gia tăng và lĩnh vực này được dự báo sẽ đạt mức tăng 3,2% trong cả năm 2023.

Về phía cầu, tiêu dùng nội địa được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những tháng còn lại. Đầu tư công là động lực để phục hồi và tăng trưởng kinh tế năm 2023, Chính phủ đã cam kết giải ngân 30 tỉ USD trong năm. Thời gian gần đây, mặc dù còn những hạn chế về pháp lý, song cam kết chính trị mạnh mẽ đã giúp cải thiện đáng kể hoạt động giải ngân. Trong 8 tháng đầu năm, 50,0% kế hoạch giải ngân đầu tư công được thực hiện. Tăng tốc chi tiêu của Chính phủ tạo thuận lợi, đây là sự kích cầu được mong đợi trong thời gian còn lại.

Đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi mặc dù kinh tế toàn cầu suy giảm. Với vốn FDI cam kết tháng 8 năm 2023 là 18,2 tỉ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước và giải ngân FDI tăng nhẹ ở mức 1,3%, đạt 13,1 tỉ USD. FDI vẫn là nguồn vốn quan trọng của nền kinh tế.

Thâm hụt tài khóa sẽ tăng trong nửa cuối năm 2023; Quốc hội đã thông qua mức giảm 2,0% thuế giá trị gia tăng và chính sách tài khóa mở rộng được dự kiến sẽ còn tiếp tục. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhanh chóng triển khai chính sách này để thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Việt Nam cũng cần đẩy nhanh giải ngân các dự án đầu tư công, vì nó sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các ngành như xây dựng, sản xuất nguyên vật liệu và tạo nhiều cơ hội về việc làm.

Nhu cầu thế giới suy yếu sẽ tác động tiêu cực tới triển vọng thương mại trong những tháng còn lại của năm 2023 và năm 2024. Tuy nhiên, xuất khẩu trong tháng 8 năm 2023 cho thấy tín hiệu phục hồi khi tăng 7,7% so với tháng trước. Với sự hồi phục của nhu cầu thế giới, tăng trưởng xuất, nhập khẩu được dự báo sẽ trở lại mức tăng khiêm tốn là 5,0% trong năm nay và năm sau,. Hoạt động thương mại mạnh mẽ sẽ giúp duy trì thặng dư tài khoản vãng lai trong năm nay. Khi hoạt động sản xuất được phục hồi, nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng lên, cán cân tài khoản vãng lai sẽ được cải thiện với dự kiến là 2,0% GDP vào năm 2024.

Dự báo lạm phát trong báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) được hạ xuống còn 3,8% trong năm 2023 và 4,0% cho năm 2024. Áp lực lạm phát trước mắt có thể đến từ sự đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu do cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na. Tuy nhiên, áp lực này có thể được hạn chế nhờ giá khí đốt và xăng dầu giảm trong nửa cuối năm và giá lương thực trong nước giữ ổn định.

Theo các nhà phân tích, trong bối cảnh giá cả trong nước tương đối ổn định và nhu cầu chưa cao, sự phối hợp chính sách có thể giúp nền kinh tế phục hồi hiệu quả. Trong ngắn hạn, cần thực hiện chính sách tiền tệ mang tính hỗ trợ và chính sách tài khóa mở rộng. Tăng trưởng tín dụng chậm cho thấy, nới lỏng chính sách tiền tệ cần phối hợp chặt chẽ với thực thi chính sách tài khóa để thúc đẩy hoạt động kinh tế hiệu quả.

Báo cáo ADO cho rằng, rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam còn cao. Ở trong nước, các vấn đề có tính hệ thống trong giải ngân vốn đầu tư công và những yếu kém mang tính cơ cấu là nguy cơ dẫn tới suy giảm tăng trưởng. Ở bên ngoài, kinh tế toàn cầu tăng chậm và sự hồi phục còn hạn chế của Trung Quốc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, một hoạt động ảnh hưởng lớn đến sản xuất và việc làm của Việt Nam. Mặt khác, lái suất duy trì ở mức cao tại Mỹ và châu Âu cùng với đồng đô-la Mỹ mạnh lên có thể gây thêm khó khăn cho việc phục hồi nhu cầu bên ngoài, dẫn đến giảm tỷ giá tiền đồng của Việt Nam.