Ký ức người lính Sư đoàn 304 trên đất K

Vào chiến dịch biên giới Tây Nam (Kỳ 02)

Sáng 31-12-1978, bầu trời biên giới ở Ba Chúc (An Giang) rền vang tiếng đại bác, pháo binh ta đồng loạt khai hỏa, nã đạn cấp tập lên đầu quân thù. Tiểu đoàn 3 bộ binh thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 chúng tôi nhận lệnh tiên phong “đánh mở cửa”. Trận đánh diễn ra giằng co và vô cùng ác liệt từ sáng sớm đến chiều tối mới chiếm lại các chốt tiền tiêu làm bàn đạp đầu cầu quan trọng, xé toang tuyến phòng thủ của địch được xây dựng khá chắc chắn dọc theo bờ tây kênh Vĩnh Tế, mở đường cho đại quân ta đột phá vào trận đánh lớn.

Trong trận “đánh mở cửa” đó, đại đội 11 tiểu đoàn 3 thiệt hại khá nặng. Nguyễn Quang Tiếp - bạn học của tôi thời cấp 3 bị thương. Đinh Ngọc Thủy – một người bạn cùng làng là xạ thủ số 1 súng máy 12ly7  thuộc đại đội 16 tăng cường cho tiểu đoàn 3 gặp tôi sau trận đánh cho biết địch rất ngoan cố. Đại đội trưởng đại đội 11 Đặng Đình Hải - một sĩ quan chỉ huy gan dạ, dũng cảm đã anh dũng hy sinh. Anh là con trai của Đại tá Đặng Đình Hồ - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, từng là sĩ quan thuộc sư đoàn 304 thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Chỉ cần ông có một gợi ý nhỏ với chỉ huy sư đoàn là anh sẽ không phải lên tuyến đầu, nhưng anh và ông đã không làm như thế vì lòng kiêu hãnh của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.

nhung-nguoi-linh-tinh-nguyen-viet-nam-thang-1-1979-tac-gia-dung-thu-2-tu-trai-sang-1770275606.JPG

Những người lính tình nguyện Việt Nam, tháng 1-1979 (Tác giả đứng thứ 2 từ trái sang)

Lần đầu vào trận đánh

Khoảng 3 giờ sáng ngày 1-1-1979, sau một ngày áp sát tiền tuyến, khẩu đội 12ly7 của tôi nhận lệnh xuất kích, tăng cường cho một đại đội bộ binh đánh thọc sâu vào sào huyệt địch mà chúng tôi thường gọi là “đánh nở hoa trong lòng địch”. Đó là chiến thuật luồn sâu vào hậu phương, đánh thẳng vào các mục tiêu quan trọng như sở chỉ huy, kho tàng, trận địa hỏa lực, nhằm gây rối loạn, tiêu diệt sinh lực địch và phá vỡ sự chỉ huy, tạo điều kiện cho các lực lượng khác tiêu diệt toàn bộ quân địch. Chúng tôi đã được huấn luyện về yếu tố bất ngờ của cách đánh này và cũng được khuyến cáo dễ bị hy sinh nếu địch nắm được ý đồ, tổ chức phục kích và bao vây.

Dọc đường ra trận hiện ra lờ mờ trong màn đêm là cảnh nhà cửa của dân ta bị bom đạn giặc tàn phá, đổ nát. Chúng tôi âm thầm đi qua các làng mạc miền biên giới mà không hề nghe một tiếng gà gáy hay chó sủa, chỉ có tiếng súng, tiếng đạn pháo mỗi lúc một gần và chát chúa hơn. Đơn vị bí mật vượt qua một cánh đồng rộng tiếp cận men bờ kênh Vĩnh Tế, nói là kênh nhưng nó rộng và sâu như một con sông. Chúng tôi gói quân trang vào bạt làm phao bơi, tất cả đều biết bơi giỏi nên dù súng đạn khá nặng vẫn đưa qua sông an toàn, cũng là lúc trời sắp sáng. Khẩu đội tôi nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, thao tác giá súng, nạp đạn và được lệnh nổ súng ngay.  Nhằm thẳng vào mục tiêu, tôi bóp cò, khẩu 12ly7 nổ giòn giã, những viên đạn lửa vạch đường nối đuôi nhau trông rất đẹp mắt cắm thẳng vào hông một ụ pháo ĐKZ của địch, chúng im bặt, tôi biết mình đã bắn trúng. Bọn địch cũng phát hiện ra bộ binh và hỏa lực của ta đang “tập hậu” nên bắn trả rất rát, đạn bắn thẳng cắm xuống bờ đất gần ụ súng của tôi nghe lụp cụp, chíu chíu nghe rợn tóc gáy.

Lúc này, Chính trị viên Tiểu đoàn tôi Nguyễn Thiện Tĩnh – anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ, cùng một lính thông tin vô tuyến 2W đi ngang qua trận địa 12ly7 của khẩu đội tôi dưới làn đạn mà ông ấy cứ tỉnh bơ như dạo chơi, đúng là anh hùng thật. Cả khẩu đội nhìn người chỉ huy anh hùng trực tiếp vào trận càng vững tâm hơn. Tôi ngẩng đầu quan sát, rê nòng súng bắn điểm xạ 2 liên tục, “quạt” hết một băng 70 viên rồi chờ đồng đội thay thùng đạn mới, khẩu 12ly7 tiếp tục khạc lửa, hòa vào màn đồng thanh ầm vang của chiến trận.

Vào trận đánh và quen dần với tiếng súng nổ đầu nòng chát chúa, cánh lính mới chúng tôi không còn hồi hộp, lo âu như trước đó nữa và bắt đầu cảm thấy đói. Trước lúc xuất trận chúng tôi đều được ăn no, có đứa lạc quan tếu nói có chết cũng phải no cái bụng đã. Tuổi trẻ sức dài vai rộng, chả mấy chốc là đói ngay. Mấy anh em trong khẩu đội vừa thay nhau bắn, vừa tranh thủ lấy cơm nắm ra ăn vội, mắt không rời mục tiêu. Bữa cơm trắng không độn chấm với muối mè ngon và thơm phức, quyện mùi thuốc súng còn in đậm trong ký ức những người lính lần đầu tiên xung trận. Đến khoảng giữa chiều thì đại đội được lệnh vượt qua một cánh đồng, địch phát hiện bắn rát, hai bên giao tranh gần 1 giờ đồng hồ, nhiều đồng đội bị thương và hy sinh. Chúng tôi tiến từng mét, cố áp sát một ngôi làng thì trời sẩm tối, khẩn trương đào công sự chốt ngay trên đồng ruộng, ém quân trong đêm, chờ lệnh tấn công vào sáng sớm hôm sau.

Tiếng súng và đạn pháo tạm lắng. Chúng tôi phấn khởi khi nghe truyền đạt thông tin được cấp trên đánh giá hoàn thành nhiệm vụ chiến thuật chia lửa, đánh lạc hướng địch, tạo thuận lợi cho Lữ đoàn công binh bắc các cầu phao để xe tăng, xe bọc thép và bộ binh vượt sông tiến vào đất Campuchia.

nhung-trang-nhat-ky-cua-tac-gia-ghi-chep-cuoc-hanh-quan-ra-bien-gioi-tay-nam-12-1978-1770275674.jpg

Những trang nhật ký của tác giả ghi chép cuộc hành quân ra biên giới Tây - Nam 12-1978

 

Vượt qua tọa độ chết 

Ngày 2-1-1979, trời vừa tảng sáng thì ta mở đợt tấn công mới. Đạn pháo 105 ly và cối 120 ly, 82 ly các loại của địch dội vào đội hình đơn vị. Tôi căng mắt nhìn anh em trong khẩu đội cùng di chuyển để giữ vững đội hình chiến thuật, vì súng máy hạng nặng 12ly7 phải tháo rời thành 4 bộ phận cơ bản khi vận động tấn công, gồm: giá đỡ 3 càng (~32kg), tầm (~14kg), thân súng (~34kg) và thùng dây băng đạn (~10kg); chỉ cần một xạ thủ tụt lại phía sau thì súng không thể giá bắn được. Trong tiếng súng và đạn pháo đinh tai, chúng tôi nghe mệnh lệnh của Đại đội trưởng Phạm Hồng Xuyên – Một sĩ quan chỉ huy mưu trí, dũng cảm hét rõ to:

- “Tất cả xung phong, vượt qua làn pháo”.

- Xung ...pho...n...ng...! Xung ...pho...n...ng...!

Đạn pháo địch nổ ầm ầm tứ phía, khói bụi mù mịt, bộ đội ta vẫn dũng cảm tiến lên trong tiếng hô xung phong vang rền.

Vốn đã được huấn luyện tình huống, chúng tôi hiểu rằng, nếu không nhanh chân vượt qua làn pháo kích thì có thể sẽ vĩnh viễn nằm lại nơi này. Biết vậy nhưng đạn pháo của địch nổ đanh gần quá, phản xạ theo bản năng, chúng tôi giật mình nằm xuống tránh mảnh sát thương, rồi lại đứng lên chạy. Là xạ thủ số một 12ly7, tôi vác giá đỡ tức 3 cái chân súng nặng gần 32kg, chả là gì nhưng vì nó kết cấu bè tràn ra vai, đè nặng, nằm xuống đứng lên hoài mệt quá nên tôi không nằm tránh mảnh pháo nữa dù đạn pháo nổ khá gần, nghĩ thầm “trước sau cũng chết” nên đành liều mạng vậy. Nghe tiếng đồng đội hô xung phong, tinh thần người lính trận cảm thấy phấn khích hơn. Chúng tôi cố gắng sức chạy thật nhanh lên phía trước, băng qua thân hình của những người đồng đội đã nhuốm máu, các anh ấy không còn đứng dậy được nữa trong màn khói đen sì và khét lẹt thuốc súng.

Tự xốc lại tinh thần, tôi hét to với đồng đội:

- “Phớt” nằm đi, tiến lên thôi!.

Hẳn nhiên, chạy được một lúc thì thấy tiếng nổ và từng cột khói tung lên phía xa sau lưng, chúng tôi biết mình đã vượt qua được tọa độ chết. Nhưng đạn bắn thẳng của địch cứ xối xả. Khẩu đội tôi được lệnh giá súng bắn áp chế địch để bộ binh ta xông lên. Khẩu 12ly7 lại nổ từng loạt đanh, giòn, chồm lên giận dữ, trút đạn vào quân thù.

Bọn địch tháo chạy, đơn vị tôi tiến vào một xóm nhỏ. Phía trước mặt cách chừng vài trăm mét là ngôi làng ven rìa núi, ở đó bọn địch đang co cụm bắn trả quyết liệt. Chúng tôi nhanh chóng chiếm lĩnh được một hầm lòng chảo nhỏ lộ thiên có sẵn, đặt súng 12ly7 kiểu xếp càng gọn và chiến đấu ngay. Tôi bắn từng loạt điểm xạ 2 vào nơi hỏa lực của địch vừa bắn ra. Chúng im một lúc rồi lại bắn trả, tôi lại nhằm vào mục tiêu bóp cò.

nhung-trang-nhat-ky-vao-chien-dich-ghi-tai-chien-truong-cua-tac-gia-1-1979-1770275776.jpg

Những trang nhật ký vào chiến dịch ghi tại chiến trường của tác giả 1-1979

 

Sát cánh trên chiến trường K

Tôi đang bắn thì từng loạt đạn AK của địch bắn rát ở cánh phải, cánh trái. Địch ở thế gọng kìm khống chế chúng tôi. Bỗng nghe tiếng “phịch”, trung đội trưởng Vũ Quang Cảnh – anh người quê Hải Hưng, nhập ngũ 1972 nguyên là lính trinh sát của trung đoàn tăng cường về trực tiếp chỉ huy khẩu đội – la lên:

- Hậu, anh bị thương rồi, nhanh lên!

Tôi ngoảnh lại thấy mặt anh ấy tái đi. Có lẽ anh bị 1 viên đạn cuối tầm găm vào ngực phải, viên đạn còn nằm trong ngực anh, vì nếu bắn thẳng thì nó đã xuyên táo ra sau lưng anh rồi. Chúng tôi gọi y tá lên băng bó rồi đưa anh về tuyến sau. Từ đầu chiến dịch, biết tôi là lính mới nhưng gan dạ, được anh em tin yêu nên anh ấy giao tôi tạm chỉ huy khẩu đội và dặn hãy bình tĩnh, bắn tiết kiệm đạn.

Thế là anh B trưởng gan dạ và mưu trí đã không được cùng tiểu đội tiếp tục cuộc chiến đấu nữa. Chúng tôi không quá hoang mang tinh thần nhưng cảm thấy hình như đã mất đi một thứ gì đáng quý trên đời. Anh em ai cũng tiếc cho B trưởng đã bị thương. Còn B phó tên Vũ Vũ người Hà Nam Ninh – lính nhập ngũ 1975  được đại đội giao phụ trách B trưởng thay thế, trực tiếp chỉ huy khẩu đội 12ly7 của chúng tôi thì hơi bị nhát, chỉ nằm bẹp gí trong hầm chữ A, lâu lâu mới ló mặt ra, bị anh em coi thường, có lúc tôi phải tức tối quát lên: Vị trí chỉ huy của anh đâu? Sau mỗi trận đánh, anh em trong khẩu đội còn đùa: “Cùng là hai đồng chí họ Vũ, mà sao anh Vũ Cảnh gan dạ, thông minh; còn ông Vũ Vũ lại nhát như cáy thế nhỉ? Có lẽ họ anh Cảnh là “võ”; còn họ ông Vũ là “lông” chăng (!)”.

Trong giây phút bàng hoàng, tôi đã lấy lại tự chủ và nhằm thẳng mục tiêu nhả đạn. Trận đánh giằng co quyết liệt, tiếng súng, tiếng đạn pháo nổ chát chúa. Có lẽ, khi phát hiện 2 khẩu 12ly7 của đại đội tôi, địch quyết tiêu diệt, chúng tập trung hỏa lực ĐKZ và nã cối 82 cấp tập hơn một tiếng đồng hồ liền vào đội hình của ta. Chính trị viên đại đội tôi là Đặng Đình Viêm bị thương vào mắt và tay, mấy chiến sĩ khác nữa ở đại đội bộ binh bị thương và hy sinh. Dũng - xạ thủ số 1 dự bị  thấy đạn pháo nổ gần quá đã xuống hầm chữ A, bảo tôi cũng tạm xuống trú ẩn một lúc nhưng tôi từ chối vì di chuyển trong lúc địch đang bắn phá ác liệt là rất nguy hiểm. Hơn thế, chúng tôi không rời vị trí vì đề phòng địch vào gần không kịp trở tay.

Đạn cối 82 ly vẫn liên tục nổ đinh tai nhức óc rất gần nơi tôi đang nằm, có lẽ chỉ cách chỉ chừng hơn hai, ba mét gì đó mà thôi, đất đá bay lả tả phủ lên cả súng 12ly7 và người tôi một lớp kha khá.

Theo kinh nghiệm chiến trường, lúc đang pháo kích thì địch cũng chưa dám xông lên. Tôi cuộn tròn người nằm gọn trong hầm lòng chảo lộ thiên, vừa bịt tai, cố nép sát đầu xuống để tránh bị mảnh pháo sát thương, vừa thản nhiên nghĩ bụng: thôi đừng lo lắng gì, nếu đạn cối nó rót trúng ngay chỗ mình nằm thì phải “ra đi” thôi, có gì đâu!

Pháo nổ thưa dần rồi ngưng, báo hiệu địch có thể tấn công. Tôi rũ bụi đất bám trên người và súng đạn, ngẩng đầu quan sát thấy bọn địch đang chạy lom khom về phía mình và tiếng lính ta quát rõ to:

-  “Miên” đang tràn lên kìa, bắn đi. Rồi từng tràng tiểu liên của ta bắn xối xả. Trong tích tắc, tôi lập tức chĩa súng vào bọn địch bóp cò, điểm xạ liên tục. Liễn - xạ thủ số 3 ở dưới hầm lắp đạn vào dây băng, kêu lên:

-  Hậu bắn từ từ thôi kẻo tớ lắp đạn không kịp.

-  Ráng lắp nhanh chút, chúng đang bò lên.

Khẩu đội 12ly7 cùng đại đội do anh Phan Trường Thiên, anh Cao Trung làm xạ thủ số 1 cũng nổ súng một lúc rồi im, hình như súng bị hóc, sau đó lại bắn tiếp được. Chúng tôi hợp đồng tác chiến, khẩu đội này ngưng để nạp đạn thì khẩu đội kia bắn, cứ thế thay nhau, ghìm hỏa lực địch, chi viện cho bộ binh ta xông lên. Bọn Miên bị đẩy lùi, chúng bắn trả yếu ớt rồi tháo chạy, ta làm chủ trận địa, cảnh giác đề phòng chúng phản công.

Tạm lắng tiếng súng, tôi dựa vào thành hào tranh thủ lấy bút ghi vội mấy dòng nhật ký về đồng đội và các trận đánh trên trang giấy nhỏ mang theo như một thói quen ghi chép hồi còn huấn luyện tân binh và từ đầu chiến dịch. Tôi chợt nhớ ra có lần mình đã nói với anh Cảnh: “Nếu em có bị làm sao thì anh nhớ lấy trong túi áo ngực em tờ giấy em ghi chép nhé”. Giờ thì mình vẫn may mắn chưa bị làm sao, còn anh ấy thì đã về tuyến sau không biết vết thương có nguy hiểm không.

Chiều hoàng hôn dần buông, những tia nắng cuối cùng rồi cũng lịm tắt, để lộ bóng những cây thốt nốt đen sì đứng chơ vơ lặng im trên nền trời xám xịt của cái xóm nhỏ hoang hoải, xác xơ bởi đạn pháo. Chúng tôi được anh nuôi phát cục cơm nắm và bổ sung nước vào bi đông.

 Bóng đêm trùm xuống rất nhanh, đơn vị được lệnh hành quân tiến sâu, tiền nhập đánh vào “Đồi Con Tim” – một cứ điểm của bọn Khmer đỏ. Chúng tôi đi trong bóng đêm, lệnh hạn chế phát ra tiếng động, lặng lẽ băng qua những cánh đồng, phum sóc theo dẫn đường của lính trinh sát, áp sát cứ điểm địch, đào công sự chuẩn bị chiến đấu.

Rạng sáng 3-1-1979 thì nghe trinh sát báo tin bọn địch đã rút chạy, thế là chúng tôi bớt tốn đạn và đổ máu.

Còn tiếp...