Ngày 11-11-1977, tôi và nhiều bạn bè đồng trang lứa lên đường nhập ngũ. Gia đình, bè bạn tiễn chúng tôi ra bến đò ven sông Thạch Hãn lên thuyền đến điểm tập kết. Bấy giờ, gió mùa Đông Bắc bắt đầu tràn về, mưa phùn lất phất. Dòng sông quê tôi vẫn êm đềm chảy trong làn sương trắng xóa, mờ ảo. Thấp thoáng xa xa, đôi bờ hiện ra bóng mấy rặng tre xanh, nghiêng mình vẫy theo từng cơn gió.
Bến sông quê quen thuộc mỗi ngày là thế bỗng chốc trầm tư chứng kiến cuộc chia ly. Tôi nhìn lên bờ, bóng cha tôi cao lớn, lặng lẽ đứng sừng sững giữa đám đông người đưa tiễn, ông buồn không nói nên lời. Còn mẹ tôi thì đang ngồi nhà và khóc. Con thuyền nổ máy, tròng trành lướt đi. Tôi không thể ngờ rằng, gần một ngàn ngày sau mình mới may mắn được trở về.
Đoàn xe quân sự đưa chúng tôi về doanh trại của đại đội (C) 9, tiểu đoàn (D) 3, Trung đoàn (E) 9, Sư đoàn (F) bộ binh 304, có biệt danh Sư đoàn Vinh Quang (Quân đoàn 2) đóng quân tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là thành phố Đà Nẵng). Đây là đơn vị anh hùng, ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lập nhiều chiến công trên khắp các chiến trường, được mệnh danh là Sư đoàn “Quả đấm thép” của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tác giả ngày mới nhập ngũ
Sau hơn 4 tháng huấn luyện tân binh trên thao trường nắng cháy, rét buốt, toàn sư đoàn tiến hành đảo quân, biên chế lại quân số các đơn vị, tiếp tục huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật binh chủng, sức bền hành quân cơ động. Tôi được biên chế về C4 hỏa lực thuộc D1 làm xạ thủ số 1 súng máy 12 ly 7.
Lúc này, những người cùng địa phương cấp xã không còn biên chế cùng chung một đại đội hay một tiểu đoàn. Sỡ dĩ vậy là đề phòng tình huống xấu nhất trong chiến tranh có thể hy sinh cả một đại đội hay một tiểu đoàn, nếu vậy khi báo tử cùng lúc về địa phương sẽ gây tâm lý hoang mang, nặng nề.
“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, chúng tôi phải vượt qua thử thách thêm gần 9 tháng huấn luyện đầy gian khổ. Nơi đóng quân và thao trường của đơn vị là vùng bán sơn địa miền tây Đà Nẵng, đất cằn khô xen lẫn những tảng đá xanh to nằm lổn ngổn, chỉ có cây bụi thấp và loài cây chà là gai là có thể sống được. Các bài huấn luyện vận động tấn công, bắn máy bay bay thấp, bắn chế áp bộ binh, hành quân đêm, đánh luồn sâu v.v... của khẩu đội tôi đều ở diễn ra trên thao trường ở mấy quả đồi bát úp quanh doanh trại. Những vết cào xước rớm máu bởi cây gai và cái nắng chói chang của mảnh đất miền Trung chẳng mấy chốc đã biến những chàng tân binh dáng thư sinh thành những anh lính rắn rỏi, nước da sạm màu mưa nắng. Đang tuổi ăn, tuổi ngủ, nhiều đêm đang say “như chết” trong giấc nồng thì còi báo động và mệnh lệnh hành quân vang lên, ai nấy giật bắn người, bật nhảy ra khỏi giường như chiếc lò xo bung, trong phút chốc lính ta quân phục chỉnh tề tập hợp đội hình. Những lần đầu chúng tôi chỉ tập hành quân vài cây số, mang vác nhẹ, sau tăng dần cả độ dài quãng đường và trọng lượng mang vác, đi xuyên đêm, có lúc phải chạy theo các tình huống giả định.
Rồi cũng quen dần với gian lao, nhưng có một thứ mà cánh lính trẻ rất khó thích nghi, đó là cái đói cứ cồn cào và nỗi nhớ nhà da diết. Những năm sau 1975, kinh tế đất nước khó khăn, tuy tiêu chuẩn ăn của lính được cấp từ 18 đến 21kg lương thực một tháng nhưng phân nửa là độn sắn, bột mì, rồi hao hụt (!)... Khẩu phần hai bữa chính mỗi bữa chỉ được một lát mì luộc mỏng, lưng chén cơm với rau luộc và nước mắm “đại dương”. Có nhiều đêm, tôi đói bụng cồn cào, nôn nao không sao ngủ được, nằm mong cho trời mau sáng.
Một đêm nọ, chỉ huy và lính lác đều ngủ say, tôi nằm giường tầng dưới nhẹ nhàng vén màn lẻn ra ngoài hít thở khí trời cho đỡ bức bối. Nào ngờ gặp mấy chàng đồng ngũ cũng đói và khó ngủ như tôi, họ đang thầm thì bàn nhau ra vườn sắn của đơn vị trong doanh trại nhổ vài gốc đem về luộc ăn, nghe vậy tôi xin tham gia ngay. Kế hoạch được tiến hành “bí mật”, mấy anh em phân công nhau thực hiện rốt rẻng, khấp khởi sắp được ăn no vì nồi củ sắn đã chín tới. Đột nhiên, có tia sáng đèn pin của chỉ huy đại đội đi kiểm tra, thấy chúng tôi đang ngồi túm tụm thì quát, ra lệnh:
- Giờ này sao còn ngồi đây? Trung đội nào? Đi ngủ ngay.
- Dạ, trời nóng quá khó ngủ, tụi em ra hóng mát xíu sẽ vào ngủ ngay ạ!
Hú hồn, may là ông đại đội phó cũng hiền, không truy xét hay nổi còi báo động như có lần khi thấy lính chấp hành kỷ luật giờ giấc chưa nghiêm. Nhưng than ôi, ông bạn đồng đội tôi đang bê nồi sắn luộc, nghe chỉ huy quát, vội nấp vào bóng tối, chả hiểu do cái nồi nóng hay vì sợ bị phát hiện mà hoảng quá làm cả nồi củ sắn bị đổ ụp xuống đất.
- Nồi sắn đổ ở đâu để tụi tao ra nhặt, phủi đất ăn tạm.
- Tớ...tớ lỡ tay ... làm đổ ngay ở khu vệ sinh đi tiểu rồi. Tớ ... xin lỗi!
Hắn mếu máo nói không nên lời. Chúng tôi đứa nào cũng ngẩn người, vừa giận vừa thương hắn, thương chính mình sao lại gặp cảnh trớ trêu thế này. Đổ ở đâu không đổ lại đổ ngay chỗ ấy thì còn nhặt với ăn gì nữa. Tôi và mấy anh em tiu nghỉu, đành ôm bụng đói bảo nhau quay trở về giường.
Ăn thì vậy, còn giải trí thì càng nghèo nàn, ngày đó làm gì có điện thoại, truyền hình. Thư nhà thì cả tháng mới nhận được, đôi khi cả tiểu đội đọc chung. Có anh mới cưới vợ không chịu được nỗi nhớ đã trốn về thăm mấy hôm rồi quay lại đơn vị chịu hình thức kỷ luật đi dọn nhà vệ sinh một tuần, “bêu gương” trước toàn tiểu đoàn. Ấy thế nhưng chỉ huy không đối xử “quân phiệt” với lính bao giờ vì đó là hành vi cấm kỵ trong Điều lệnh quân đội. Lính ta thì rất đoàn kết, thương nhau cùng cảnh xa nhà, chưa có ẩu đả xảy ra trong đơn vị. Có lẽ “10 lời thề danh dự” và “12 Điều kỷ luật” của Quân đội đã thấm vào máu của mỗi người lính. Cái chất “Bộ đội Cụ Hồ”cũng bắt đầu hình thành từ đó.
Đường ra miền biên viễn
Bồi hồi đọc lại những trang nhật ký nét mực đã nhòe, tôi vẫn hình dung ra được ngày 17-12-1978. Đó là một chiều Chủ nhật mùa đông, trời mưa phùn và se se lạnh, thời gian có vẻ trôi chậm hơn với những người lính xa nhà. Chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị hành quân, chập tối thì lên đường, đêm căng bạt ngủ ngoài đồi, sáng hôm sau lại quay về doanh trại – thì ra đó chỉ là một cuộc nghi binh. Suốt cả tuần sau, toàn đơn vị “cắm trại 100%” rồi bí mật xuất phát vào đêm khuya 24-12-1978.
Là người lính, có lệnh là đi. Toàn trung đoàn lặng lẽ hành quân bộ khoảng 25km xuyên đêm, men qua mấy quả đồi vắng xa khu dân cư rồi ra đường lộ, hướng về nơi có vầng sáng của ánh đèn đêm thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi cắm cúi đi, giữ khoảng cách như những lần huấn luyện trước đây, đường xa nhưng những bước chân người chiến sĩ vẫn thấy nhẹ như không. Trời vừa tảng sáng thì người lính cuối cùng của đơn vị cũng đã vào trong khu vực sân bay Đà Nẵng.
Các tân binh Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 ngày đầu nhập ngũ - Tác giả đứng thứ 2 từ phải sang
Tiếng động cơ máy bay gầm rú đinh tai nhức óc, cất hạ cánh liên tục. Bộ đội nghỉ tạm tại chỗ, gối đầu lên ba lô tranh thủ chợp mắt chờ đến lượt bay. Cả trung đoàn được chuyển quân bằng máy bay một cách bí mật và cấp tốc, một hình thức chưa từng có, thể hiện tính chất khẩn trương của cuộc chiến. Mãi đến 13g35 máy bay mới cất cánh. Lần đầu đi máy bay, lính ta ai cũng háo hức tranh nhau nhìn làng quê, biển cả quê hương hiện ra dưới khung cửa sổ. Khi chiếc TU.134 hạ cánh, lăn bánh trên đường băng vào sân đỗ, chúng tôi mới biết mình đã đến phi trường Tân Sơn Nhất.
Chúng tôi ăn bữa chiều với suất bo bo dai như cao su, nhai trẹo cả răng. Một hàng dài xe quân sự đang chờ sẵn. Cả đơn vị lên ô tô hành quân suốt đêm và cả ngày hôm sau, chỉ nghỉ ngơi vài chục phút để ăn trưa. Đoàn xe 2 lần qua phà, thi thoảng tôi đọc được địa danh trên các bảng hiệu còn sáng ánh đèn, biết mình đang qua địa phận tỉnh Cửu Long (Vĩnh Long ngày nay), qua thành phố Cần Thơ, thị xã Long Xuyên (An Giang) hướng ra miền biên giới.
Trên xe quân sự mui trần, tôi phóng tầm mắt ra những cánh đồng trải dài mênh mông bát ngát, bấy giờ, lúa đang độ chín vàng, có nơi đã gặt xong. Lần đầu tiên đến đồng bằng Nam bộ, lòng tôi nao nao cảm xúc khó tả như muốn reo lên: Ôi, đồng quê miền biên viễn sao mà đẹp đến thế! Chúng tôi không ngờ rằng, phía sau những cánh đồng, làng quê xinh đẹp kia, đồng bào ta phải chịu bao tang tóc, đau thương.
Đường mỗi lúc một khó đi, xe lắc mạnh, đôi lúc nhảy chồm lên. Đoàn xe đưa chúng tôi đến thị trấn Tri Tôn, cuối cùng đỗ quân ở xã Ba Chúc thuộc huyện Bảy Núi (cũ) tỉnh An Giang – nơi mà bọn lính Khmer Đỏ (chúng tôi quen gọi là Miên) vừa sát hại hàng ngàn đồng bào ta. Cảnh tượng làng mạc tan hoang, nhà cửa đổ nát vì đạn pháo của giặc khứa mãi vào tâm can người lính.
Thời kỳ đó không có thông tin đầy đủ, mãi sau này chúng tôi mới được biết. Từ sau 30/4/1975 đến 1978, quân Khmer Đỏ mở nhiều cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Việt Nam, phá hủy nhiều làng mạc, bắt và giết hại hàng chục ngàn người dân Việt vô tội ở đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Đỉnh điểm tội ác của Khmer Đỏ là vụ thảm sát hơn 3.150 người dân ở xã Ba Chúc (tỉnh An Giang) trong 12 ngày chúng chiếm đóng. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu nương nhờ cửa Phật cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dã man.
Khi đơn vị chúng tôi hành quân đến xã Ba Chúc để bắt đầu chiến dịch, nghe người dân nơi đây kể lại và mục sở thị chứng tích tội ác dã man của chúng ở 2 ngôi chùa Phi Lai, Tam Bửu mà lòng uất nghẹn, sôi máu căm hờn, muốn cầm súng xung trận ngay lập tức để trừng trị bọn giặc. Nhìn cảnh tượng những vết máu của đồng bào mình còn tươi nguyên in trên tường 2 ngôi chùa chúng tôi không ai cầm được nước mắt, có gì đó quặn thắt trong lồng ngực, tự trách mình sao không đến sớm hơn để đồng bào phải chết thảm thương như thế !
Những ngày và đêm cuối năm 1978 ở miền biên giới, tôi ngủ chập chờn trong tiếng súng, tiếng đại bác vẫn không ngớt vọng về. Đêm 28-12-1978, bọn giặc còn hung hăng tràn sang lấn đất, đánh chiếm các chốt của du kích ta ở vùng kênh Vĩnh Tế (xã Ba Chúc), tiếng súng kéo rề rà đến chiều ở biên giới vẫn chưa dứt. Được biết, chúng đã đẩy lui một đơn vị thuộc Quân khu 9 đang chốt giữ bảo vệ biên giới, chiếm giữ một vùng khá rộng lãnh thổ nước ta dọc theo kênh Vĩnh Tế nhằm tạo thành chiến lũy phòng thủ tự nhiên hòng ngăn bước phản công của ta.
Có lẽ, chúng chưa biết đại quân ta đã áp sát biên giới chuẩn bị tổng phản công và ngày tận số của chúng đang đến gần kề.
KỲ 2: VÀO CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI TÂY NAM