Phẫu thuật robot cắt phổi biệt lập
Ngày 2/3, Bệnh viện Bình Dân cho biết vừa phẫu thuật robot thành công cắt thùy dưới phổi trái cho bệnh nhân mắc phổi biệt lập nội thùy. Đây cũng là trường hợp phổi biệt lập được điều trị bằng phẫu thuật robot đầu tiên được báo cáo tại Việt Nam.
Bệnh nhân là ông N.N.T (56 tuổi, ngụ Tây Ninh), tình cờ phát hiện tổn thương ở thùy dưới phổi trái khi khám sức khỏe định kỳ. Tại Bệnh viện Bình Dân, các bác sĩ chẩn đoán ông mắc phổi biệt lập nội thùy với khối tổn thương kích thước 23 x 26 mm.
Đáng chú ý, động mạch nuôi khối này xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ ngực xuống, đường kính lên tới 17 mm – kích thước lớn, tiềm ẩn nguy cơ chảy máu ồ ạt nếu xảy ra biến chứng.
ThS.BSCKII Nguyễn Văn Việt Thành, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực – Bướu cổ, cho biết thách thức lớn nhất của ca mổ là phẫu tích và kiểm soát nhánh động mạch nuôi bất thường.
“Mạch máu này to, thành mạch dễ tổn thương và dính nhiều do tình trạng viêm nhiễm mạn tính xung quanh. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến chảy máu không kiểm soát”, bác sĩ nói.
Sau hội chẩn toàn viện, ê-kíp quyết định lựa chọn phẫu thuật robot nhằm tăng độ chính xác và an toàn. Theo bác sĩ Thành, hệ thống robot có khả năng loại bỏ rung tay sinh lý, giúp thao tác bóc tách tinh vi hơn, hạn chế tổn thương mô lành và kiểm soát mạch máu tốt hơn so với phương pháp nội soi thông thường.
Ca phẫu thuật kéo dài khoảng 120 phút, diễn ra theo đúng kế hoạch. Phần phổi biệt lập được cắt trọn, kiểm soát an toàn nhánh động mạch nuôi, không tổn thương động mạch chủ ngực xuống và không xảy ra biến chứng chảy máu.
Do không phải banh sườn, các đường rạch nhỏ qua trocar giúp người bệnh ít đau, giảm mất máu và rút ngắn thời gian hồi phục. Ông T. xuất viện sau 4 ngày.
Phổi biệt lập – mối nguy tiềm ẩn trong lồng ngực
Phổi biệt lập (Bronchopulmonary Sequestration – BPS) là dị tật bẩm sinh hiếm gặp, chiếm khoảng 0,15–6,4% các dị tật phổi. Bệnh gồm hai dạng: nội thùy (khoảng 75%) và ngoại thùy (25%), thường gặp nhất ở thùy dưới phổi trái.
Đây là phần mô phổi phát triển bất thường từ giai đoạn phôi thai, không thông với cây phế quản và không tham gia chức năng hô hấp.
Điểm nguy hiểm nhất của phổi biệt lập nằm ở nguồn cấp máu. Thay vì nhận máu từ động mạch phổi như bình thường, khối mô này được nuôi bởi các động mạch hệ thống, thường xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ ngực hoặc động mạch chủ bụng. Áp lực máu cao từ hệ thống động mạch chủ có thể gây nhiều biến chứng nghiêm trọng.
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh có thể đối mặt với các nguy cơ:
- Ho ra máu ồ ạt hoặc xuất huyết nội: Vỡ mạch máu nuôi gây chảy máu vào khoang màng phổi hoặc đường thở, đe dọa tính mạng.
- Nhiễm trùng tái phát, áp xe phổi: Do không có đường dẫn lưu tự nhiên, dịch tiết ứ đọng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
- Suy tim cung lượng cao: Luồng thông máu bất thường (shunt) có thể gây quá tải tim, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
- Nguy cơ ác tính hóa: Dù hiếm gặp, y văn thế giới đã ghi nhận một số trường hợp ung thư phát triển trên nền mô phổi biệt lập.
Theo bác sĩ Thành, phổi biệt lập tuy hiếm gặp và có xu hướng gặp ở nam nhiều hơn nữ (tỷ lệ khoảng 3:1), nhưng có thể điều trị dứt điểm nếu phát hiện sớm. Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất, đặc biệt nên thực hiện trước khi xảy ra biến chứng nhiễm trùng hoặc chảy máu.
Hiệu quả điều trị phụ thuộc vào sự phối hợp đa chuyên khoa như gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh và phẫu thuật mạch máu. Vì vậy, những trường hợp phức tạp cần được thực hiện tại các trung tâm ngoại khoa chuyên sâu để đảm bảo an toàn.
“Nếu người bệnh có biểu hiện viêm phổi tái diễn tại cùng một vị trí, ho ra máu hoặc tình cờ phát hiện khối bất thường ở phổi, nên đến cơ sở y tế chuyên sâu để được tầm soát. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như MSCT có thể giúp phát hiện phổi biệt lập”, bác sĩ Thành khuyến cáo.