Ký ức người lính Sư đoàn 304 trên đất K

Cuộc hành quân thần tốc từ Nam ra Bắc (Kỳ cuối)

Đầu tháng 3-1979, các sư đoàn, lữ đoàn thuộc Quân đoàn 2, Quân đoàn 3 của ta từ chiến trường Campuchia lần lượt rút về nước rồi hành quân thần tốc bằng nhiều phương tiện: Máy bay, tàu biển, tàu hỏa, ô tô ra chi viện cho mặt trận biên giới phía Bắc.

Đặt chân lên mảnh đất của Tổ quốc

Con tàu mang tên Sông Bé chở đại đội tôi băng băng theo hải trình trên biển rộng bao la. Lần đầu tiên đi biển nên ai cũng cảm thấy thật thú vị, tranh nhau lên boong đón bình minh và xem đàn cá heo tung tăng nhào lộn.

Tàu lắc lư theo từng cơn sóng, đến ngày thứ hai thì chúng tôi bị say sóng, đi đứng loạng choạng, nhiều người nằm bẹp trong khoang tàu không buồn gượng dậy, nôn thốc nôn tháo khi vào bụng ăn thứ gì.

Sau 2 đêm và gần 2 ngày, chiều 7-3-1979, tàu vào cửa biển Vũng Tàu, một người đồng đội reo lên:

-  Đến đất liền rồi anh em ơi!

Chúng tôi chạy lên boong, phóng tầm mắt nhìn ra 2 bên bờ sông cho thỏa nỗi nhớ bao ngày xa Tổ quốc, lòng thầm thổn thức:

- Đất Mẹ thân yêu ơi, chúng con đã về!

tac-gia-ngay-tro-ve-lan-dau-den-ha-noi-thang-3-1979-anh-chup-tai-tt-gia-lam-ha-noi-1770279763.jpg

Tác giả ngày trở về lần đầu đến Hà Nội tháng 3-1979 (Ảnh chụp tại TT Gia Lâm, Hà Nội)

Tàu di chuyển chậm, mãi gần 7 giờ tối mới cập cảng Sài Gòn, chúng tôi ai nấy đều xúc động khi đặt chân lên mảnh đất của Tổ quốc. Đoàn xe quân sự băng qua phố phường thành phố Hồ Chí Minh tấp nập, ánh đèn sáng nhiều màu lộng lẫy về đêm. Người dân đứng hai bên đường, tay vẫy chào những người con vừa đi xa trở về, hỏi với theo:

- Nam Zang (Phnom Penh) zề (về) hả !

- Vâng!...Dạ!... Mấy chiến sĩ đứng trên xe mui trần vừa đưa tay vẫy, vừa nhao nhao trả lời các cô chú bên dưới, giọng miền Bắc có, miền Trung có.

Đêm đó, chúng tôi ngủ lại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất trong tiếng gầm rú của máy bay cất hạ cánh suốt đêm. Chúng tôi nằm trên sàn nền gạch bông, giấc ngủ chập chờn, cảm giác như đang ở trên tàu và người đang bị nhồi lên, nhồi xuống theo từng cơn sóng biển vậy.

 Sực tỉnh giấc, tôi muốn tìm một mảnh giấy và cây bút để viết thư báo tin cho gia đình biết mình đã trở về, thế nhưng không kiếm đâu ra được nên đành chịu.

Trời vừa tờ mờ sáng, chúng tôi nhận lệnh hành quân, nhanh chóng tập hợp đội hình ra khu vực chờ lên tàu bay. Gần trưa thì máy bay cất cánh.

nhat-ky-cua-tac-gia-ghi-doc-duong-hanh-quan-tu-chien-truong-k-ve-nuoc-ra-bac-1770279771.jpg

Nhật ký của tác giả ghi dọc đường hành quân từ chiến trường K về nước, ra Bắc

Lần đầu đến Hà Nội

Khi chiếc TU.134 lăn bánh trên đường băng vào sân đỗ, chúng tôi mới biết mình đã đến sân bay Gia Lâm (Hà Nội). Đó là lần đầu tiên trong đời tôi đến Hà Nội – Thủ đô yêu dấu, trong lòng rộn ràng bao cảm xúc. Cái cảm xúc bâng khuâng xen lẫn niềm tự hào của những chàng trai tuổi hai mươi được đặt chân lên mảnh đất ngàn năm văn hiến mà lâu nay thi thoảng chỉ biết qua lời kể, sách, báo, phim ảnh.

Chúng tôi rời sân bay trong làn mưa xuân nhè nhẹ và cơn gió lạnh còn sót lại của mùa đông miền Bắc, hành quân bộ qua những con đường quanh co ở ngoại ô, qua cánh đồng lúa vừa bén rễ lá xanh mơn mởn, rập rờn theo từng cơn gió như vẫy chào đoàn quân. Tất cả quá đỗi gần gũi, thân thương mà chúng tôi – những người lính làm nhiệm vụ quốc tế xa Tổ quốc trở về sau bao ngày khát khao, mong chờ.

"Ôi, nói sao cho hết nỗi vui sướng khi được sống trong lòng Tổ quốc, sống trong tình thương yêu của những người mẹ, người dân đất nước mình..."(Trích Nhật ký ngày 8/3/1979)

Đơn vị tôi đóng quân ở thôn Sài Đồng, xã Gia Thụy (huyện Gia Lâm). Tôi và một nửa tiểu đội vào xin ở tạm trong căn nhà của mẹ Chữ trạc ngoài 60, dáng hiền hậu, cao gầy. Mẹ tất bật, niềm nở đón chúng tôi. Mẹ tự tay sửa soạn chỗ ở, dành hết cho chúng tôi căn nhà trên. Còn mẹ và người con trai cả cùng 2 người con gái ở nhà dưới. Chúng tôi mắc võng, trải nilon nằm ngủ dưới sàn nhà nhưng mẹ một mực không đồng ý. Mẹ bảo tao thương, tao xót cho chúng mày quá, nhìn đứa nào cũng gầy, đen, mắt thâm quầng thế kia!

don-vi-do-quan-o-san-bay-gia-lam-ngay-8-3-1979-trong-cuoc-khong-van-lon-nhat-lich-su-qdndvn-tu-nam-ra-bac-1770279753.jpg

Đơn vị đổ quân ở sân bay Gia Lâm ngày 8-3-1979 trong cuộc không vận lớn nhất lịch sử QĐNDVN từ Nam ra Bắc

Mà đúng thật, hơn 2 tháng sinh tử trên chiến trường Campuchia, trải qua nhiều trận đánh, khói thuốc súng quện với bụi bặm lâu ngày không được tắm rửa khiến cho khuôn mặt mấy tụi tôi ai cũng đen nhẻm, hốc mắt sâu hoắm vì thiếu ngủ.

Tranh thủ những giây phút bình yên hiếm hoi, tôi xin giấy, viết thư về báo tin cho gia đình, không quên ghi mấy dòng vào trang nhật ký đã theo tôi suốt từ khi vào chiến dịch biên giới Tây – Nam.

9.3.79. Đêm qua ngủ 1 giấc ngon ngoại thành Hà Nội - Sống trong gia đình mẹ Chữ (xã Gia Thụy) được mẹ chăm sóc đùm bọc như những đứa con ruột thịt. Còn tôi, từ ngày bước vào bộ đội hôm nay mới được sống những ngày vui thế này. Niềm vui hiếm có của đời lính. Ngày mai sẽ là nơi biên cương, chiến trận.

10.3.79. Hôm nay là ngày cuối cùng ở thôn Sài Đồng (Gia Thụy, Gia Lâm). Buổi chia tay với gia đình thật quyến luyến, chúng tôi cứ đứng tần ngần, chần chừ mãi tôi mới từ biệt mẹ, bước ra sau cùng.

Khoảng 9 giờ tối thì chúng tôi chia tay gia đình mẹ Chữ, hành quân bộ sang Ga Yên Viên (Gia Lâm), nơi đoàn tàu quân sự đang chờ sẵn.

11-3-1979. Hơn 2 giờ sáng, đoàn tàu xình xịch chuyển bánh lao đi trong đêm. Tôi căng mắt nhìn ra cửa sổ con tàu, thấp thoáng những ngôi nhà, làng mạc, cánh đồng…tất cả đang chìm trong giấc ngủ. Chúng tôi đi bước vào trận mới, giữ cho những giấc ngủ bình yên. Suy nghĩ miên man rồi tôi ngủ thiếp đi tự lúc nào, cho đến khi toa tàu giật khục và tiếng còi tàu hụ một hồi dài. Trời tờ mờ sáng, tàu đến ga Đồng Quang (Thái Nguyên) và dừng hẳn.

Năm tháng trôi đi, nhưng tôi vẫn nhớ mãi ký ức ấm áp trong lần đầu tiên đến Hà Nội, luôn mong có dịp trở lại thăm người mẹ Sài Đồng, nhưng vì thời gian trực chiến nghiêm ngặt trong quân đội ở biên giới, phương tiện đi lại cũng khó khăn nên đành lỗi hẹn. 

Mãi nhiều năm sau, khi đã chuyển ngành vào Nam công tác, có lần ra Hà Nội, tôi tìm đến Sài Đồng. Những ngôi nhà, mảnh ruộng quê xưa nay là nhà phố liên kế san sát, thôn Sài Đồng xưa nay là phố Sài Đồng, không có thông tin gì gia đình mẹ Chữ.

Thất vọng vì không tìm lại được miền ký ức, tôi chông chênh, lặng nhìn dãy phố dài hun hút, tấp nập dòng người, xe cộ, nấn ná bước lên xe, từ biệt, trong lòng thầm mong mẹ và gia đình ở đâu đó vẫn sức khỏe, bình an.

hanoi-sanbay-qt-1770279752.jpg

Hà Nội - Sân bay Quốc tế

Thái Nguyên – Lạng Sơn – Nhớ tình hậu phương

Trở lại câu chuyện. Sáng sớm hôm đó ở ga Đồng Quang, người dân thành phố Thái Nguyên thức giấc, ngạc nhiên thấy đầy sắc áo xanh bộ đội với những khuôn mặt đen sạm của đoàn quân từ chiến trường K vừa trở về. Đơn vị tôi tập kết ở một khu đất rộng gần ga Đồng Quang, rồi lên xe hành quân qua thành phố giữa rừng tay vẫy chào, giữa những lời chan chứa yêu thương, ngọt ngào và cả lời trêu chọc đáng yêu của nam nữ sinh viên, nhân dân thành phố tiễn đưa người lính ra mặt trận.

- Em yêu các anh bộ đội! Yêu nhất cái anh đen đen kia kìa !

- Anh cũng yêu em! Cho anh hôn một cái em gì xinh đẹp ơi!

- Anh bộ đội ơi, xuống bế em lên xe theo với!

Lính ta cũng chẳng phải vừa, tranh nhau đối đáp, với tay chạm vào tay các cô gái đứng vẫy chào bên dưới, như muốn mang theo chút tình người hậu phương ra chiến trận.

Đoàn xe nối tiếp nhau, những gói quà bất ngờ được trao vội khi xe đang chạy, có khi là túi mận, gói xôi, gói khoai mì của mấy cô gái nhịn ăn sáng, hay mấy điếu thuốc lá của các chàng trai … Trong số đó, có một gói quà gói bằng giấy báo cũ được đưa lên, một anh lính trên xe chở trung đội tôi vươn người chụp vội đã làm rơi xuống đường, gói quà bung ra mới thấy toàn là sách. Những người tặng nhìn theo với ánh mắt trách móc, tưởng chúng tôi từ chối không nhận quà … Xe không thể dừng, chúng tôi chỉ biết nhìn bóng người tiễn đưa xa dần, tự trách mình vì đã phụ lòng người tặng.

c0741d06925fef7003a9b9d74eaa1d115-1-2-bb-baaacu3mxv-1770279752.jpg

Hôm sau, đơn vị tạm dừng đóng quân ở một bản thuộc huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), cả trung đội băn khoăn khi nhắc chuyện gói quà, quyết định giao cho tôi viết một bức thư gửi nhờ Báo Tiền Phong chuyển lời cảm ơn đến các bạn thanh niên, sinh viên Thái Nguyên và xin lỗi vì thiếu cẩn thận nên đã làm rơi, lấm bẩn bùn đất. Bức thư chẳng biết có được đăng báo hay không, vì thời đó, một tờ báo còn hiếm thấy hơn cả chiếc điện thoại smartphone bây giờ.

Dù biết rằng những người lính năm xưa và những người tặng quà đều đã già, nhưng tôi vẫn cầu mong họ đọc được những dòng tâm sự này để thông cảm cho chúng tôi.

Đoàn xe quân sự tiếp tục đưa đơn vị tôi tiếp cận mặt trận Lạng Sơn, chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị cho cuộc phản công toàn tuyến biên giới phía Bắc đánh đuổi giặc Tàu xâm lược.

Trước khi khép lại “Ký ức người lính Sư đoàn 304 trên đất K”, tôi đã gọi hàng trăm cuộc điện thoại về Hội Cựu chiến binh và UBND các xã để hỏi tìm những người đồng đội cùng khẩu đội 12ly7 của tôi năm xưa. Ngoài Thọ, Chung (Thanh Hóa) vẫn giữ liên lạc, tôi đã tìm được thêm Tạ Văn Dũng, Liễn (nay ở Vĩnh Linh, Quảng Trị). Đặc biệt, tôi đã gặp qua điện thoại hàng giờ với Trung đội trưởng Vũ Quang Cảnh người chỉ huy dũng cảm, gan dạ (đã bị thương trong chiến đấu) mà hơn 43 năm qua tôi quyết tâm tìm cho bằng được. Mừng vui khôn xiết khi biết anh ấy vẫn khỏe mạnh, bây giờ là chủ một trang trại VAC, có cuộc sống ổn định nơi quê nhà Ninh Giang, Hải Dương.

1-1487244550-1770279753.jpg

Tuy vậy, tôi vẫn canh cánh trong lòng vì còn 4 người cùng khẩu đội đã sát cánh cùng tôi trên chiến trường K nay bặt tin; đó là Thái (Quảng Nam), Ánh, Ba ở huyện Gia Lâm (Hà Nội), là Minh ở Tuyên Hóa (Quảng Bình). Mong sao các anh ấy khỏe mạnh và đọc được những dòng này để chúng tôi có cơ duyên gặp lại nhau.